45 TINH THẦN NHẬP THẾ CỦA PHẬT GIÁO

Thứ năm - 01/08/2019 00:25
TINH THẦN NHẬP THẾ CỦA PHẬT GIÁO


Ban Trị sự GHPGVN thị xã Hương Thủy
TINH THẦN NHẬP THẾ CỦA PHẬT GIO


Ban Trị sự GHPGVN thị xã Hương Thủy





Tinh thần nhập thế là một trong những nt nổi bật nhất của đạo Phật. Tinh thần ny đã không ngừng được chứng minh qua nhiều giai đon lịch sử tri di từ thời Hồng Bng cho đến ngy hôm nay. Trong phm vi bi tham luận ny, chúng tôi xin được trình by một vi tấm gương tiêu biểu về “Tinh Thần Nhập Thế” của các vị Thiền sư Phật giáo đã đồng hnh cùng dân tộc.
Hầu hết các sử liệu đều ghi lại rằng: Vào đầu kỷ nguyên Tây lịch đạo Phật đã đến nước ta do các thuyền buôn người Ấn Độ bằng đường biển phía Nam. Trên những thuyền buôn ấy thường có những tu sĩ đi theo để cầu nguyện khi gặp thiên tai, vì thế mục đích của họ không phải là những nhà truyền giáo, họ chỉ thể hiện đời sống tôn giáo của mình khi lưu trú tại Giao Châu1, và người dân ta đã biết đến đạo Phật qua cách sinh hoạt của những tu sĩ và Phật tử thuần thành người Ấn Độ.
Người dân ta đã bắt chước đốt hương để cúng Ông bà, đọc những câu kinh nói về Nhân qu, Nghiệp bo, biết đọc ba php quy y và vâng giữ năm giới cấm, có niềm tin về Luân hồi, biết kể chuyện về tiền thân Đức Phật, lịch sử Đức Phật...Có thể nói, tín ngưỡng ban đầu của người Giao Châu lúc bấy giờ rất hồn nhiên không hề pha trộn một khi niệm đng phi hay một chính trị no(2) .
Theo thời gian đạo Phật đã dung hòa thấm vào lng dân tộc một cch tự nhiên trở thnh nt rất riêng của Phật giáo Việt Nam như

  1. Nước Việt Nam thời đó tên là Giao Châu
  2. Tham kho, Nguyễn Lang, Việt Nam Phật gio sử luận, Nxb. Văn hc H Nội, 1992, trg. 45-50 v Mật Thể, Việt Nam Phật gio sử lược, Nxb. Tôn gio, 2004, tr. 61-75
 

nước hòa với sữa m không một thế lực no có thể tch ngăn. Được như thế là nhờ sự thực tu thực chứng của những vị tulm đúng theo tinh thần “thượng cầu h hóa” của người xuất gia, biết vận dụng tinh thần “tu duyên bất biến, bất biên tu duyên” của đạo Phật đi vào cuộc đời để giúp nước an dân. Tiêu biểu như các vị Thiền sư Khuông Việt, Vn Hnh, Viên Thông, Php Thuận, ... Các Ngi là những php khí tối cần thiết để xây dựng đất nước và pht triển định hướng ngã, vị tha, bi, trí, dng, của đạo Phật. Quý Ngi đã sử dụng trí tuệ của nhà Phật để cố vấn cho các bậc minh quân giữ yên bờ ci, hnh phúc muôn dân. Tinh thần ny thể hiện r nt nhất qua những khía cnh văn hóa kiến trúc, chính trị, ngoi giao.
    1. Về lãnh vực văn hóa kiến trúc, chúng ta không thể không đề cập đến nt văn hóa hi hòa độc đáo của thnh Thăng Long được xây dựng vào thời nhà Lý. Sau khi lên ngôi Công Uẩn đã dời đô về Thăng Long và công việc đầu tiên của vị minh quân ny là kiến thiết kinh đô mới, xây dựng cung điện, chùa thp. Như vậy rrng có sự tư vấn của các vị Quốc sư, điển hình là thiền sư Vn Hnh . Điều ny cng dễ dng cho chúng ta chấp nhận, bởi lẽ, triều đi nhà Lý, Phật giáo được xem là Quốc gio. Có thể nói, các nhà lãnh đạo Phật giáo thời đã khẳng định vị trí văn hóa Việt Nam mang đậm nt dân tộc lên đến đỉnh cao m không một thế lực văn hóa ngoi lai no có thể đồng hóa được. Chính vì điều ny đã khiến cho nhà văn Văn Siêu cm thn một cch chân tình khi nói đến Thiền sư Vn Hnh trong tác phẩm nổi tiếng “Văn minh Việt Nam” như sau:
...Người y thì phi ccông nghiệp, mcông nghiệp này nht định c Người ấy mới lm nổi, bởi Người thức cảm hơn ai hết, sự p bức của nền văn ha ngoại lai còn nguy hiểm gấp bội sự p bức về chính trị, nên Người đã nêu cao ngọn cờ độc lập văn ha.
...Trận đnh quân Nam Hn của Ngô Quyền sông Bạch Đằng l một chiến công, gieo ảnh hưởng trong một thời gian ngắn để sau ny phải c những trận đnh tiếp của Trần Quốc Toản, của Lê Lợi, của Nguyễn Huệ. Nhưng trận đnh về văn ha củaVạn Hạnh l trận đại thắng gieo ảnh hưởng muôn đời về sau cho con chu Rồng Tiên.
...Sư Vạn Hạnh đã dn một mặt trận văn ha bao la trong cả không gian lẫn thời gian m không mộttro văn ha ngoại lai no c thể khiến dân tộc Việt Nam c thể quên để quay theo”.
 
 
    1. Về chính trị, Quốc sư Viên Thông đã ch cho vua Thần Tông cch trị nước như sau: Thiên hạ cũng như đồ dùng, để vo nơi yên thì n được yên, đặt vo nơi nguy thì tất bị nguy. Xin Bệ hạ hnh xử đức hiếu sinh cho hợp với lòng dân thì dân sẽ kính yêu như cha mẹ, ngưỡng mộ như mặt trăng, mặt trời. Ấy l đặt thiên hạ vo chỗ yên vậy. Trị hay loạn ldân. Quan lại được lòng người thì trị, mất lòng người thì loạn. Thần trải xem cc bậc đế vương đời trước chưa từng c triều đại no không dùng quân tử m thịnh, m cũng không c triều đại no không dùng tiểu nhân m suy vong. Nguồn gốc dẫn đến điều đ thì không phải chỉ một sớm một chiều, m c manh nha từ trước...Bậc nhân quân chủ trương một lúc được hay mất thiên hạ, tất l do đức thiện hay c đã tích tụ từ lâu. Không ngừng sửa mình; bắt chước đất, không ngừng tu đức để giữ yên dân. Sửa mình thì trong lòng thận trọng như đi trên băng mỏng, yêu dân thì kính sợ như người cỡi ngựa m nắm dây cương mục nt. Được như thế thì không thể không hưng thịnh, không được như thế thì không thể không suy vong. Sự hưng vong diễn tiến dần dần l như vậy” 3.
Vua Thần Tông là vị minh quân thấm nhuần đạo nhân qu, Duyên sinh của đạo Phật một cch sâu sắc nên Ngi đã nhận ra ngay điểm căn bn mấu chốt về chính trị m bậc Thầy của mình vừa ngợi ý.
    1. Về ngoi giao, Thiền uyển tập anh ghi rằng: Năm 986 sứ nhà Tống là Gic sang nước ta, vua Đi Hnh nhờ thiền sư Ngô Chơn Lưu (quốc Khuông Việt) tiếp sứ ở kinh đô và thiền sư Đỗ Php Thuận đóng vai người chèo đò đón sứ Tu qua sông. Thuyền đang trôi trên sông bỗng Gic thấy đôi ngỗng trắng tuyệt đẹp bơi lội trên mặt nước trông rất hữu tình nên thơ, liền ứng khẩu ngâm:
“Nga nga lưỡng nga nga  Ngưỡng diện ớng thiên nga”
Nghĩa là
“Song song ngỗng một đôi Ngưỡng mặt ng ven trời”
Thiền Sư Php Thuận đang chèo thuyền liền ngâm theo:
“Bạch mao phô lục thủy Hồng trạo bải thanh ba”

  1. Thiền uyển tập anh, Nxb. Văn học, H Nội, tr. 57-77.


Nghĩa là
“Lông trắng phơi dòng biếc Sng xanh chân hồng bơi”4
Sứ giả Gic nhà Tống cùng kinh ngc và thn phục, bao nhiêu tư tưởng khinh miệt xem thường người nước Nam đều biến mất. Ông ta suy nghĩ: Người chèo đò m có thể ứng khẩu thnh thơ, họa vần tuyệt ho như thế huống hồ là những người lãnh đạo!
Nhìn li những tấm gương tiêu biểutrên, chúng ta không ch để niệm ân, tri ân hay đnh lễ, ngưỡng mộ m chính là để nhìn li tự thân, cng như nhìn li vị trí và trch nhiệm của mình m đạo php, dân tộc ngy nay đang tin tưởng giao phó. Chúng ta đangtrong thời đi pht triển ton cầu, những chiến lược về kinh tế, văn hóa, giáo dục, tin học... của phương Tây đang hấp dẫn lôi cuốn tính hiếu k, hiếu học vốn có của người dân Việt Nam. Trên tình thần cầu tiến chúng ta luônthi độ dung hòa học hỏi, nhưng tuyệt đối phi sử dụng trí tuệ của nhà Phật để soi chiếu và sng lọc. Nếu không như thế, chúng ta sẽ trở thnhcùng tử trong kinh Php Hoa nhọc nhằn đi tìm kiếm sự ăn mặc khắp nơiquên rằng trong cho áo của mình đang sẳn có của bu giá.
L một tu đúng nghĩa của trong thời hội nhập, đang gnh nặng hai vai đạo đời bất phân ly, chúng ta phi hnh xử như thể no để xứng đng là hậu duệ của các Ngi tiền bối. Với của bu vị tha, ngã, từ bi, trí tuệ của nhà Phật, Quý ngi Quốc sư đã ứng dụng một cch tuyệt ho nhuần nhuyễn trong qu khứ, đem li tiếng vang cho đất nước đã minh chứng hùng hồn tinh thần nhập thế bất vụ lợi của đạo Phật mãi mãi là dấu ấn muôn đời vượt thời gian và không gian. Quay li chính mình, tự bn thân của chúng ta đã lm được những gì? Câu trả lời chuẩn xác nhất, có lẽ dnh riêng cho mỗi người chúng ta.

liệu tham khảo:
    1. Nguyễn Lang, Việt Nam Phật gio Sử luận, Nxb. Văn học H Nội, 1992.
    2. Mật Thể, Việt Nam Phật Gio Sử Lược, Nxb. Tôn Gio, 2004
    3. Thiền Uyển Tập Anh, Nxb. Văn Hc, H Nội.
    4. Hội thảo Khoa hc Phật giáo thời với 1.000 năm Thăng LongH
Nội, 1010-2010


4. Mật thể, Phật gio Việt Nam Lược Sử, Nxb. Tôn Gio, 2002, tr. 115
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây