09 VẤN ĐỀ HOẰNG PHÁP VỚI TUỔI TRẺ HẢI NGOẠI: NHỮNG MỐI QUAN TÂM

Thứ tư - 31/07/2019 20:22
VẤN ĐỀ HOẰNG PHÁP VỚI TUỔI TRẺ HẢI NGOẠI: NHỮNG MỐI QUAN TÂM
TT. Thích Chân Tính *
 
VẤN ĐỀ HOẰNG PHÁP VỚI TUI TRẺ HẢI NGOI: NHỮNG MI QUAN TÂM

 
TT. Thích Chân Tính *




Trong khi Pht giáo Việt Nam ở trong nước đã và đang có những bước đột phá trên nhiều phương diện trong công tác hoằng truyền Chánh Pháp đến với các tng lớp Pht tử, điển hình là những mô hình khoá tu và hoạt động sinh hoạt cho giới tr, thì Pht giáo Việt Nam ở hải ngoại, điển hình là Hoa Kỳ,1 đang gp khá nhiều khó khăn trong vic chuyển tải thông điệp của đức Pht đến với thế hệ con em gc Việt sinh ra và lớn lên ở đây. Nhìn tng th, Pht giáo Việt Nam trên đt Hoa Kỳ đã đạt được nhiều thành công ni bt; tuy nhiên, nội dung chính của bài tham lun này sẽ đề cp đến hiện trạng khó khăn mPht giáo Việt Nam đang gp phải liên hệ đến vic hoằng pháp cho người tr. Thông qua vic tìm hiểu về bản cht và nguyên nhân của những khó khăn đó, mong rằng, trong hội thảo này chúng ta có thcùng nhau tìm ra một vài phương án phù hợp đi với công c̣c hoằng pháp ở Hoa Knói riêng và tại hải ngoại nói chung.
Một trong những điều chúng tôi nhn thy khrõ trong những chuyến hoằng pháp tại Hoa Kỳ đó chính là hiện tượng trẻ vui nhà, già vui chùa.” Đa số những vị cư sĩ Pht tử đến chùa tu tp, nghe pháp cng như tham gia những hoạt động lễ hội Pht giáo đều rơi vào độ
--------------------------------------------------------
* PTrưởng ban Hong pháp Trung ương GHPGVN
- Thông thường, khi nói đến hai chhoằng phpchúng ta sliên tưởng đến việc thuyết giảng Pht php. Tuy nhiên, hai chhoằng phpn có nghĩa rộng hơn nữa đltchức những sự kiện, lhội, vhội thảo với phương châm chuyn tải thông điệp ca đo Pht. Nng, do phạm vi ca bài tham luận ny, chúng tôi chỉ xin nói đến ý nghĩa ca hai chhoằng phptheo nghĩa ban đầu – đlviệc thuyết giảng Pht php.
1. Trong bài tham lun ny, chúng tôi chỉ tạm bàn về Pht giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ, vì đây là quốc gia m chúng tôi có nhiều dp đến để hoằng php.
 


tui từ trung niên trở lên. Sự hiện diện của những em thanh thiếu niên trong những hoạt động mang tính cht chùa chiềnhu như là điều khá hiếm. Nếu đâu đó xut hiện hình ảnh một vài em nhỏ đi theo ông bcha mẹ thì hu như nguyên nhân của sự hiện diện đó mang tính cht miễn cưỡng và ép ḅc. Và hiển nhiên, do thiếu hiểu biết về văn hoá, ngôn ngữ cng như tính cht của vic đến chùa không xut phát từ tinh thn phát tâm tự nguynnên sự hứng thú hu như vng bóng trên những khuôn mt trẻ thơ hn nhiên y! Chúng tôi xin nêu ra một vài rào cản ni bt là nhân tchính ảnh hưởng đến con đường hoằng đạo của cTăng Ni, cng như sự ảnh hưởng đến cht lượng về nội dung của những chuyến hoằng php.

Rào cn ngôn ngữ


Điều đu tiên bản thân chúng tôi cảm thy tự hào đó chính là vic dù đi đến xứ snào thì người con Việt cng mang trong mình tinh thn giữ gìn nn ngữ và truyền thng của dân tộc. Tht m áp khi vừa đt chân đến một phi trường quc tế nào đó của nước Mỹ nhưng lại được nghe câu chào thân thương Nam mô A Di Đà Pht! Con chào Thy mới đến ạ! Thy bay xa vy có mệt không?” Đa phn những đạo tràng chúng tôi đến chia sPht pháp đều do cTăng Ni và Pht tử người Việt thành lp. Ở xứ người mà có thnói chuyện bằng tiếng mẹ đẻ lmột điều vô cùng m áp và thm tình đạo vị! Tuy vy, song song với sự m áp y lại là một nỗi lo không nhcho những nhhoằng pháp cng như cTăng Ni và Pht tử hải ngoại sở tại; đó chính là vic làm thế nào để thế hệ con cháu gc Việt tại Mỹ - những người có khnăng nói và hiểu tiếng Việt rt hạn chế, có thhoà nhp vào nếp sinh hoạt thun Việt” tại những ni chùa trên đt My; hoặc làm thế nào để thay đi quy cách sinh hoạt để các em có thể cảm thy gn gũi được với Tam Bo.
Trên thực tế, đa số những ni chùa Việt Nam trên đt Hoa Kỳ đều có li sinh hoạt tương tự những ngôi già lam truyền thng tại nước ta. Mỗi chủ nht hằng tun, các chùa đều tchức một ngày sinh hoạt cho đng bào Pht tử. Số lượng Pht tử về chùa khác biệt tuỳ theo vùng miền. Nhìn chung, các Pht tử đều từ tui trung niên trở lên. Do vy, nn ngữ chính được sử dng cho vic tng kinh, bái sám và giảng dạy là tiếng Việt. Khi sử dng tiếng Việt cho những bui tng kinh và tu tp như vy, chúng ta vô tình loại ra những người không
 


hiểu tiếng Việt, xem sự hiện diện của hkhông thực sự quan trng. Có nhiều ln chúng tôi thy các em nhỏ đi theo ông bcha mẹ đến chùa chỉ ngồi để chu đựng, chờ đợi thời kinh qua nhanh để các em được giải thoát”; bởi l, các em chẳng có một chút khái niệm gì về vic tng kinh, ý nghĩa kinh nói gì, và tại sao các em phải ngồi chứng minh” vic tng kinh y trong khi các em không hiểu và chắc chn lkhông thích.
Trên bình diện khch quan, một schùa cố gng xây dựng và áp dng chương trình sinh hoạt riêng cho các em thanh thiếu niên. Hai chương trình sinh hoạt ni bt mchúng tôi được biết đó là lớp tiếng Việt và mô hình Gia đình Pht tử. Ngoài những thành công đáng kbằng sự nỗ lực và cố gng của các chùa trong vic dạy tiếng Việt và Pht pháp cho các em thông qua hai mô hình sinh hoạt ny, có nhiều vn đề cn được khắc phục để sự lợi lạc và tính bền vững song hành cùng thời gian. Thứ nht, bản cht vic học tiếng Việt của các em tương đi mang tính cht ép ḅc. Ngoài chương trình đào tạo rõ ràng theo từng cp bậc ở một schùa tại các bang tp trung nhiều người Việt như California và Texas, chương trình học của các em sinh sng ở những bang ít người Việt hu như chỉ mang tính tự phát và đi phó”. Đi với mô hình Gia đình Pht tử, vic áp dng một mô hình thun Việt” như thế vào môi trường hoàn toàn khác biệt về nhiều mt đã không mang lại kết quả như mong đợi. Sự khác biệt căn bản nht mchúng tôi mun đề cp đó chính là văn hoá.

Rào cn văn hoá


Chúng ta cn khẳng định rằng, mặc dù các em nhgc Việt sinh ra trên đt Mmang trong mình dòng máu Lạc Hng, nhưng thẳm sâu trong tâm thức cng như cách sng của các em thể hiện một điều đó là: các em là người M. Mặc dù các em có khuôn mt rt Việt,” nhưng các em sinh hoạt như những người M, tiếp xúc văn hoá M, suy nghĩ theo cách của người M, và luôn cố gng để hoà nhp vào c̣c sng Mỹ” như những bạn cùng trang lứa. Thông qua những ln tiếp xúc với một số em, tôi thy đa scác em đều đng tình rằng nn ngữ tiếng Anh là sự lựa chọn hng đu trong các c̣c giao tiếp dù đó là giao tiếp với ông bcha mẹ - những người không nói thạo tiếng Anh. Nn ngữ chính là phương tiện chuyển tải văn hoá. Khi nn ngữ bị lãng quên thì nền văn hoá gn liền với nn ngữ đó cng
 


sbị lãng quên. Vì vy, giữa hai nền văn hoá Việt – M, cn có một chiếc cu ni tht vững chắc để các em có thể tiếp nhn được những tinh hoa của chai mkhông đánh mt bản cht đời sng hiện tại của các em, cng như giá trị tâm linh ngàn đời của người con Pht. Nếu không có chiếc cu ni này thì vic các em dn lãng quên những nét đẹp trong nền văn hoá Việt Nam skhông còn xa, và nếu người lớn cứ khăng khăng áp đt một nền văn hoá xa lạ” (văn hoá Việt Nam)1 thì sự từ chi và chán ghét sẽ là lẽ đương nhiên.
Một ví dụ điển hình chúng tôi thường chứng kiến và cng là minh chứng cho sự bỡ ngỡ giữa hai bcủa hai hệ văn hoá đó là mỗi khi gp cTăng Ni, ông bcha mẹ các em thường nhắc các em rằng Con chp tay chào Thy đi con!” Đi với văn hoá Pht giáo Việt Nam, vic chp tay chào cTăng Ni là một vic làm tương đi dễ hiểu nhằm thể hiện sự cung kính đi với hng Tăng bảo; còn đi với văn hoá M
- nơi mchnghĩa cá nhân được đề cao, các em không có khái niệm chp tay là cung kính,không có khái niệm chào một người thì phải cúi đu, không có khái niệm phichào một ai nếu các em không thích. Vì vy, thái độ chào của các em có vẻ gượng gạo hoặc “làm cho qua chuyện;” cha mẹ các em cng có vhơi xu hổ vì không dạy con được; và chúng tôi thì cảm thy có “lỗi” vì chính bản thân mình lại là nguyên nhân cho những tình hung không my tự nhiên và bi ri đó. Ban đu, chúng tôi nghĩ rằng trẻ em trên nước Mkhông có sự cung kính đi với Tam Bo. Dn dn, chúng tôi nhn ra rằng đi với nền văn hoá các em đang sng thì sự cung kính không nht thiết phải được thể hiện ging hoàn toàn với những gì mnền văn hoá Việt đã dạy cho chúng ta.
Rào cản văn hoá không những khiến vic hoằng pháp gp khó khăn mà sự giáo dục con cái của những bậc làm cha mẹ ở xứ Mcng không kém phn nan giải. Chúng tôi có cơ hội tiếp xúc và lng nghe nhiều vị Pht tử than phiền về nỗi vt vả trong vic giáo dục con cái giữa sự khác biệt về văn hoá cng như thế h. Chp nhn hay không thì con cái của họ được sinh ra và lớn lên trên đt nước M, tiếp thu nền giáo dục của người Mỹ và giao lưu với hu hết bạn bè là người


1. Nền văn hoá Mỹ là văn hoá của các em vì các em sinh ra và lớn lên trong xã hội đó. Những nền văn hoá khác như văn hoá Việt Nam, văn hoá Hàn Quốc,… đều là những sản phm nước ngoài” đi với các em.
 


M. Nếu những bậc làm cha làm mẹ cứ mặc nhiên nghĩ rằng con cái của mình phải giữ văn hoá Việt như người Việt thì khó có thkết ni truyền thông để mang lại những giá trị mà mình mun truyền trao. Hơn thế nữa, nếu sự áp đt văn hoá và giá trị của bản thân đi với người khác một cách “vô tội vạ” thì sự phản tác dng skhông phải là nếu nó có thể xảy ramà là “khi nào nó sẽ xảy ra.Vì vy, sự khác biệt văn hoá vẫn luôn là thử thch lớn đi với những nhhoằng php. Cho nên, trong xã hội hiện đại, vic đào tạo những nhhoằng pháp am hiểu sự đa dạng về văn hoá để vic hoằng pháp mang lại hiệu quả tt nht là vic làm cp thiết. Bởi vì, trách nhiệm và tinh thn hoằng pháp của cTăng Ni tại hải ngoại, cng như cTăng Ni có tâm nguyện đi hoằng pháp tại hải ngoại đang và squan trng trong vic quyết định sự tn tại và phát triển của Pht giáo Việt Nam trên thế giới. Và đó cng chính là vn đề khó khăn tiếp theo: Nhân lực.

Nhân lực


Ngày nay, vic cTăng Ni trong nước hoằng pháp tại những quc gia châu Âu, châu Mkhông còn là vn đề khó khăn. Chúng ta thy được sự quan tâm sâu sắc của cTôn đức trong Giáo Hội Pht giáo Việt Nam về vic hoằng pháp tại hải ngoại, nhằm hỗ trợ và giúp đỡ những người con Pht tha hương, giữ gìn nét đẹp truyền thng của dân tộc, của đạo Pht. Tuy vy, vn đề thiếu nhân lực vẫn là một bài toán khó khi đề cp đến vic hoằng pháp tại các nước bạn. Bàn về nhân lực, chúng tôi không đề cp đến vn đề thiếu những vị giảng sư uyên thâm giáo điển; điều chúng tôi mun nói đến đó lngun nhân lực giảng sư có sự am hiểu về nn ngữ và văn hoá của một nước bt kì mà vị giảng sư đó đến thuyết giảng. Tm quan trng của vic am hiểu ngôn ngữ và văn hoá của nước sở tại sẽ được nhân đôi khi thính chúng là những em nhỏ sinh ra và lớn lên tại nước đó. Vì vy, chúng ta cn cân nhắc đến vic đào tạo những nhhoằng pháp có khnăng về nội điển cng như ngoại điển để những công tác Pht sự được nhiều phn lợi lạc.
Đi vi chư Tăng Ni đang tu tp và hoằng pháp tại M, họ cũng gp không ít kkhăn về vấn đề nhân lực. Ngoài những ngôi chùa tại các tiểu bang có nhiều người Việt sinh sng, đa phần những chùa còn lại đều an phậntrên tinh thần nht tăng nht tự. Dù lchùa nhỏ hay lớn, những vấn đề liên quan đến vic chùa như: giy tờ pháp
 


lý, tiền trả ngân hàng mỗi tháng, tiền hođơn, đám xá,thường lnhững mi quan tâm hàng đu ca chư Tăng Ni. Vì một nh phải gnh vác hết tt cnhững công vic không my thiền vnhư vy nên sự quan tâm đến vic học thêm tiếng Anh, hoằng pháp cho giới tr, tạo không gian sinh hoạt cho con cháu gc Việt bbỏ ng. Hơn nữa, vic độ” cho giới trẻ ở Mxut gia lại càng nan giải và hu n rt hiếm xảy ra. Vy ai s là người kế thừa, ai là người truyền đăng tc diệm?
Có người cho rằng nếu vic độ người xut gia ở Mkhó thì chúng ta có thbảo lãnh cTăng Ni từ Việt Nam sang để kế thừa những giá trị tâm linh mchư vị tiền bi đã dày công tạo dựng. Trên thực tế, rt nhiều chùa đã và đang sử dng phương pháp bảo lãnh như là biện pháp tạm thời để giải quyết vn đề nhân lực. Tuy nhiên, để một vị Tăng hoặc Ni đến Hoa Khoạt động Pht sự một cách hiệu quả thì, như chúng tôi đã trình by, vic học nn ngữ và văn hoá bản địa phải được đt lên hng đu. Nếu cTăng Ni chỉ hướng đến tng lớp Pht tử nói tiếng Việt thì khoảng mười hay hai mươi năm nữa, khi những vị Pht tử y qua đời, ai sẽ đến chùa, ai sphng trì Tam Bảo và tương lai của Pht giáo Việt Nam sẽ đi về đâu? Hơn thế nữa, một thực tế khphphng” đó là hiện tượng sau khi những vị Tăng Ni được bảo lãnh y có thẻ xanh (trở thành thường trú nhân) thì hcng mun ra riêng” để lp chùa cho bản thân. Như vy, con đường nht Tăng nht tự” lại tiếp tục tái diễn. Chúng ta có rt nhiều chùa Việt Nam tại Mỹ nhưng điều đó có đi đôi với cht lượng hoằng pháp? Chúng ta có nhiều Tăng Ni được bảo lãnh qua Mỹ nhưng điều đó có đáp ứng được nhu cu giáo dục Pht pháp cho các con em gc Việt?

Mt vài gợi ý


Chưa ai dám khẳng định một điều gì về tương lai của Pht giáo Việt Nam tại Mnói riêng cng như tại hải ngoại nói chung. Nếu nói một cách khch quan thì Pht giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ đang tiến những bước khyếu. Vic CTôn đức ở Việt Nam sang hoằng pháp đôi lúc cng gp khó khăn bởi nhiều yếu ttế nh. Chúng tôi thiết nghĩ trách nhiệm hoằng pháp lợi sinh tại hải ngoại không đơn thun chỉ dừng lại ở chỗ ăn cây nào rào cây y” mà tt cả chúng ta đều có trách nhiệm rào” và bảo vệ những cây đại thụ đã được các bậc tiền bi gieo trng trên đt khch qngười. Có thmột mai nào đó những
 


cây đại thụ ở phương xa y lại thi về những làn gió thanh lương làm mát du quê nhchúng ta. Trách nhiệm hoằng pháp là chung, tinh thn hoằng pháp xut phát từ cá nhân, trng trách hoằng pháp là lý tưởng của người xut gia, do vy, với một vài kinh nghiệm từ những chuyến hoằng pháp tại hải ngoại, chúng tôi xin đề xut một vài gợi ý để chúng ta cùng suy nghĩ, nhằm đưa ra những phương án khế thời cho vic hoằng pháp tại hải ngoại sau ny.
Thứ nht, một nhhoằng pháp thời hiện đại, nht là CTôn đức tr, không đơn thun chỉ là một vị thm thâm giáo điển, vị y còn phải bi dưỡng kiến thức ngoại điển như: ngoại ngữ, văn hoá vùng miền và kĩ năng mềm. Có thể những Pht tử Việt ở hải ngoại còn gìn giữ được phn nào đó nền văn hoá truyền thng Việt Nam nên vic chia sPht pháp với hkhông my khó khăn. Tuy nhiên, đi với các em nhgc Việt sinh ra và lớn lên tại hải ngoại thì vic chuyển tải lời dạy của đức Pht đến các em là một vic làm không phải d. Cho nên, nói được ngoại ngữ để giao tiếp cùng các em, hiểu văn hoá để truyền thông với các em, và có kĩ năng mềm để “làm bnvới các em sẽ là những thành tquan trng nht đi với một nhhoằng pháp mun thành công trên con đường dn thân vào lớp tr.
Thứ hai, nhhoằng pháp cho giới trẻ ở hải ngoại phải có khnăng nói” được nn ngữ” của các em. Vic nói nn ngữ của giới trkhông đơn thun chỉ l giao tiếp bằng ngoại ngữ, mà đó là sự chuyển tải lời Pht dạy một cách dễ hiểu, phù hợp từng lứa tui và quan trng hơn hết đó là luôn biết cp nht theo thời đại để Pht pháp không bxem là cổ đại” và lỗi thi. Trẻ em ở Mỹ thường được khuyến kch thể hiện tính tmò trong mọi chuyện. Cho nên, không thể đơn thun khuyên các em tin vào những điều chúng ta nói mkhông có sự giải thích phù hp. Mặc dù không ai có thchi cãi giá trị chuyển hoá của đạo Pht; tuy nhiên, để các em thực sự cảm nhn được những giá trị cao quý y, trước hết chúng ta cn phải khơi được sự thích thú lng nghe và tính tmò tìm hiểu lời Pht dạy trong các em; từ đó các em mới tự động tìm hiểu nhiều hơn bằng chính cái nhìn và cách hiểu của các em. Điều gì mình làm với sự tự nguyện đều mang lại giá trị tt nht và nó stn tại lâu dài nht. Cng thế, nếu các em có sự thích thú trong vic tìm hiểu lời Pht dạy ngang qua những bài giảng dễ hiểu và đúng tâm lý” thì vic các em tiếp tục học Pht sẽ là điều hiển nhiên.



Thứ ba, nếu có cơ hội, chư vị Tăng Ni trnên trải nghiệm nền giáo dục phương Tây để hiểu hơn về hệ thng giáo dục cng như tư tưởng và phương cách của nền giáo dục hiện đại. Đa phn cTăng Ni được đào tạo nội điển theo mô hình truyền thng trong hệ thng các trường sơ cp, trường trung cp, và Pht học viện. Nhờ vào sự quan tâm đến xu hướng giáo dục và hướng dẫn tn tâm của CTôn đức mà các Tăng Ni sinh phn nào được tiếp xúc với nền giáo dục hiện đại ngay chính tại những trường Pht học vừa nêu. Tuy nhiên, để thực sự am hiểu phương thức giáo dục phương Tây để rút ra những bài học phù hợp nhằm áp dng vào phương pháp hoằng pháp đi với giới trhải ngoại, Tăng Ni sinh nên mạnh dạn tiếp xúc và giao lưu với các trường đại học, đặc biệt là các trường có chương trình Pht học tại các nước phương Tây. Điều này có thể tạo nên một vài khó khăn đi với những vị Tăng Ni sinh không có điều kiện tài chính, nhưng đó là một phương án mà những nhhoằng pháp cho giới trtại hải ngoại có thể lưu tâm.
Sứ mệnh hoằng pháp được tiếp ni bằng những tm lòng vị tha được thể hiện qua sự thao thức về vn đề hưng thịnh của Chánh php, về vic hoá độ không biên giới đến mọi người, về những con đường mới mnơi đó ánh sng của đạo pháp mãi rạng soi. Thiết nghĩ, một khi đã dn thân phục vụ thì không có sự so sánh nào lại không khp khiểng; dù cho hoằng pháp trong nước hay hải ngoại, mỗi xứ đều có những khó khăn và thử thch riêng biệt. Tuy nhiên, với tâm từ bi rộng lớn, học theo hạnh nguyện độ sinh của Pht, xiển dương tinh thn bình đẳng trong đạo Pht, cTôn đức Tăng Ni không quản ngại khó khăn, quyết tâm dn thân vào con đường hoằng pháp ở hải ngoại sphải tiếp tục đi diện nhiều thử thch như: nn ngữ, văn hoá bản xứ, nn ngữ thời đại của giới tr,… Tuy vy, chúng tôi tin rằng những thử thch y một phn là cơ hội cho chúng ta học hỏi, nghiên cứu và sng tạo nhiều phương thức hoằng pháp phù hợp trong xu hướng toàn cu hoá hiện nay. Mong rằng với tinh thn đại hùng, đại lực, đại từ bi CTôn đức cng như những nhhoằng pháp trẻ có tâm huyết với giới trhải ngoại sluôn thành công trong các công tác Pht sự và nhờ vy mà ánh sánh của Như Lai mãi luôn tỏa rạng khp năm châu bn biển.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây