24. PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER VỚI VIỆC XÂY DỰNG XÃ HỘI BỀN VỮNG

Thứ bảy - 08/09/2018 18:53
PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER VỚI VIỆC XÂY DỰNG XÃ HỘI BỀN VỮNG của TSKH. Thái Văn Chải

 

 
  1. Phật giáo Nam tông Khmer trong kinh đin có tên tiếng Palì (Dakkhinanikàya) là một trong bốn tên gọi của hệ phái; tên thứ hai là hệ phái Đại tông (Mahànikàya); tên thứ ba là Thưng Tọa bộ (Theravàda); tên thứ tư ngoại lai không đưc chính thc công nhận là phái Tiểu tha (Hinayàna). Hệ phái Nam tông ngưi xuất gia chính thc gọi là Tỳ khưu (Bhikkhu), sng bằng thc ăn đi trì bình khất thc. Các nưc tu theo hệ phái Nam tông là Sri Lanka, Thái Lan, Myanmar, Campuchia. Lào, Ấn Độ, Nepal, Bangladesh và Việt Nam. Hệ phái Nam tông cthế gii đều căn cứ theo li Đc Phật dy ghi chép trong Tam tạng Palì làm kim chỉ nam, tu sĩ trùng tuyên giáo truyn lại cho chúng sanh, không thêm tht loại trừ làm xê dịch li chính thống là tặc phỉ, triệt để nghiêm cm.

Phật giáo Nam tông Khmer có tôn chỉ mục đích là chỉ tôn thờ Đc Pht Thích Ca, học li dy Đc Phật Thích Ca trong Tam tạng Palì. Vì Phật tử sẽ đt Tam quy, triệt hy Ngũ gii, xa ri con Phật. Các vTỳ khưu và tín đPhật giáo Nam tông Khmer giữ yên tịnh không sử dụng bất kmột nhạc khí nào để phụ họa khi hành lễ, luôn thành kính và hành theo Pháp bảo trong Tam tạng Palì. Lễ bái cúng dưng hai bậc Tăng bảo (Phàm và Thánh tăng). Phật giáo Nam tông Khmer có phận sự đi hoằng pháp li sanh. Chư tăng sống nhờ tam y quả bát, không đưc có của riêng.
 
  1. Đời Tỳ khưu chỉ có hai sản nghip quan trng, một là bộ tam y để bảo vệ thân thể khỏi nóng lạnh, bệnh tật, hai quả bát là vật để làm ra khu phần lương thực hằng ngày. Chùa cao, Phật ln là ca đàn na tín thí. Hạnh cao quý là đi trì bình khất thc đtạo điều kiện cho mọi gia đình đem thức ăn, là đã nhận ngay một phần phưc vô cùng thanh cao hợp theo lẽ đo. Đồng thi, các vị tkhưu tự gim thiểu lòng kiêu hãnh của tâm hồn kẻ phàm tục đang tu hành, sống trong nhung lụa. Đối vi các bậc chơn tu, tng satna phải luôn chú nim, các thứ nưc uống, nhng thc ăn, các nơi ở và thuc nga bệnh là nhng vt tiêu dùng, nơi trú ngụ thọ dng sống nhờ thiên hạ, tu chỉ có mt mục đích là để giải thóat và luôn nguyn cầu các bậc ân nhân đưc cùng thọ nhận và Phật pháp mãi trưng tồn.

Để đạt yêu cầu đưc giải thóat khỏi kiếp trần ai, các vị tỳ khưu phải học Pháp hc và Pháp hành và bảo toàn 227 gii cm, tóm lưc phân ra làm ba hình thc tên gọi ti danh: a) Bất cộng trụ (paràjika), điều lut đáng sợ này, nếu vị tỳ khưu vi phm: “các tội sát nhân, hành dâm, trm cắp (nếu là vàng bằng ba hạt lúa) trở lên, khoe Pháp cao nhân, thì mang tội lỗi nặng nề nhất này, lập tc bị Tăng già loại trừ ra khỏi Thiền môn. Vì vị tu sĩ có tinh tấn tiếp tục tu trì na cũng vô lối bi sẽ không đạt đưc thánh quả nào như ước thệ”. b) Tăng tàng (Sanghàdisesa), điều luật nặng nề cấp thứ hai này có nhiều điều cấm chế như: “nnh hót thế tc, ngưi khó dy… Nếu vị tỳ khưu vi phm đưc Tăng già hành phạt mi xả hết tội”. c) Tác ác (dukkata) có năm ti danh, nếu vtỳ khưu vi phm các điều như: mặc y phục kẻ thế, thọ thc trưc khi quán tưng, không đưc đánh đàn… sẽ vi
 
phm tác ác, vị tỳ khưu phải đi tìm 1 - 2 vị tỳ khưu sám hối mi xả hết ti(1).
  1. Phần gii luật và phận sự nghiêm tcủa các vtỳ khưu Phật giáo Nam tông Khmer trên rất khó khăn khắc bạc chuyên luận. Nhưng mọi vấn đề sâu xa còn có liên đi, phc tạp đến Phật pháp trên hoàn cầu thuộc phm vi hệ phái Phật giáo Nam tông các nưc trên thế gii u dài trong tương lai.

Phật giáo Nam tông Khmer từ truyền thống đến hiện đi, các tu sĩ là thành phần đưc ưu tiên đến trưng lp. Việc tăng sĩ học tập là bắt buộc vì kế hoạch đào tạo nhân tài thông suốt kinh luật nhm hỗ trợ Tăng già của chùa đưc giáo dục kinh luật khi đầu của kiến thc mà các tu sĩ cần phải có để trở thành giảng viên thuyết pháp giảng đạo. Để hỗ trợ Tăng già trong việc chăm lo chùa chiền Phật giáo Nam tông Khmer có mt tổ chc truyn thống là mt đoàn thể gm có tkhưu, sadi (sìkkhamàna), thiện nam, tín nữ gọi là Tứ chúng. Mọi sự việc có liên quan đến vấn đề thnh suy của Phật giáo đều do hàng tứ chúng đoàn kết chung lo phận sự của đoàn thể để bảo tồn đạo pháp thiêng liêng. Nhưng trong Tứ chúng đối vi các bc tỳ khưu là thành phần trên trưc của Phật giáo Nam tông Khmer là chỗ da của ba thành phần còn lại trong đoàn thể của cộng đồng dân tộc Khmer ở Nam Bộ. Song các vị tỳ khưu phải hoàn thiện đúng nghĩa, có đy đủ tư cách tinh khiết tương đồng các bậc thánh tăng. Đức Thế Tôn đã ví các vtỳ khưu như thửa ruộng màu mỡ tương đng vi hình dáng chiếc cà sa các vị mặc trên ngưi, có hình vẽ ngang dọc tưng trưng. Các tín đồ hằng ngày mang lương thực, thc phm


1 Vinaya Patimokha Sanvarasìl, Samkhepa cua Maha Sume Chuon Nath, Phnom Penh, 1952, tr. 1.
 
và lễ vật đến cúng dường chư tăng ví như những ngưi nông dân canh tác đem ht giống đến gieo trng trên tha ruộng là chư phàm tăng có gii đc tinh khiết thì tha ruộng sẽ mọc lên xanh tươi, mùa màng sbội thu, kinh tế sdồi dào, Phật pháp trong đa bàn sẽ phồn thnh, đàn na tín tsẽ phn khích vui vẻ vi Thiền môn có đnh hưng, bồi dưng chính kiến, đả phá gian tà. Chúng ta cần hành đạo đúng li Phật dy nhiu hơn đthy rõ lý vô thưng khổ não, vô ngã dần dần thu đáo đạt đến cu cánh là Niết Bàn, chứ không phải tăng gia chú nim nguyện cầu tha lc rủ lòng ban bố phưc lành sẽ hóa ra thành Phật thành tiên là vu vơ không tưng. Được vy phương hưng nhim vụ của Phật giáo Nam tông Khmer sẽ đi đúng hưng xây dng xã hội bền vng.
  1. Trong lãnh vc giáo dục để nâng cao dân trí, đào tạo nhân lc Phật giáo và đồng bào Khmer từ xa xưa theo truyn thống. Các xã ấp vùng sâu, vùng xa khi có chùa thì sẽ có trưng học cho con em bổn đo học tiếng mẹ đẻ. Chùa có đông sa di, tỳ khưu, nếu có điều kin có thể dùng cơ sở sẵn có mlp dy tiếng Palì, lp Phật pháp. Ở các chùa đồng quê hay tại thị tứ có đông tăng sinh, bổn đạo có đủ điều kiện hỗ trợ lương thực cho chùa, các nơiy cũng có trưng dy đúng theo chương trình của Phật giáo Nam tông Khmer đề ra hin nay như các lp đào tạo đã đưc công nhn. Hng năm các trưng đều mở khóa thi kim tra chất lưng học tp của tăng sinh và cấp bằng tương ng theo tng cấp từ cơ sPhật học đến trung cao cp Phật học.

Hiện nay, các lp đào tạo giáo lý vẫn chưa có bảng hiệu trưng (2008) mà tchc theo tng chùa. Ngoài ra, tại tnh Sóc Trăng có Trưng Btúc Văn hóa Palì Trung cấp Nam Bộ (Th
 
tưng Chính phủ ra quyết đnh số 657-QD/TTg ngày 15/11/1994). Đến nay, trưng đã đào tạo đưc 12 khóa, 573 tăng sinh theo học, trong đó lần đầu có 235 tăng sinh đã tốt nghiệp. Vi số lưng chiêu sinh đầu tiên hằng năm là 50 vị, tổng số tăng sinh đang theo học năm 2004 - 2005 là 171 vị tăng sinh. Cho ti nay, nhà trưng đã có thêm nhiều khóa học tiếp theo đã hoàn thành đem lại kết quả khả quan. Nếu cập nht đến nay con ss
khác hơn nhiều(1).

Chỉ sau 30 năm chiến tranh chm dt, Phật giáo Nam tông Khmer đã đồng hành cùng chánh quyền dẫn dắt ngưi Khmer học tập, sản xut, xóa đói, gim nghèo. Nhiu ngưi đã trưng thành trong khoa học kthut, trở nên nhng công dân sản xuất giỏi, trở thành nhng ngưi giàu sang và phú gia nổi tiếng(2). Phận sự của Tăng già cũng song song phát triển vượt trội.

Về lãnh vc đo pháp, Tăng già đã tạo nên hthống giáo dục từ sơ cấp đến trung cao cấp. Phật học và tiếng Palì song song vi chương trình học phổ thông từ sơ cấp đến cao đẳng, đại học. Chúng tôi nghĩ, ngành giáo dục Phật giáo Nam tông Khmer ở Nam Bộ đã xây dựng đưc một khía cạnh xã hội tăng chúng bn vng.
  1. Đồng bào Khmer trong vùng đã cùng vi các tộc ngưi Kinh, Hoa, Chăm sng một cuộc đi bần hàn khốn khó khi cmin Nam bị giặc ngoi bang tạo thành một bãi chiến trưng đy máu và nưc mắt. Anh em đồng bào đồng loi nghi k, mưu hại lẫn nhau. Tâm đa vô đạo đc của con ngưi do chiến tranh tạo
 
  1.  
  1. Phật giáo Theravàda trong đng bào Khmer Nam Bộ - Luận văn tt nghiệp cử nhân, Hunh Kim Lan, Tr. 3.
  2. Thạch Văn Pal, Dân tộc và Miền Núi TTXVN 5-2011, tr. 6 (Tr.3)
 
nên, kẻ cố dùng thủ đoạn ngoi lên cao hãm hại ngưi thấp kém, quên hết tính ngưi. Cao quý thay đi vi ngưi Khmer ở Nam Bộ là tín đồ của Phật giáo Nam tông, mt tôn giáo đào to con ngưi tránh điều ác, làm nhng việc lành, giữ tâm hồn trong sạch, loại bỏ m đa hẹp hòi hại ngưi ích mình, bản chất của kẻ vô sĩ. Qua đoàn thể tôn giáo từ bi của Đc Phật Thích Ca, bổn đạo ngày ngày chung lo Phật s, rèn luyn tư cách thanh cao của ngưi con Phật, biết thương yêu giúp đỡ ngưi khốn khó là bản chất của tín đồ Phật giáo Nam tông Khmer ở Nam Bộ cũng là truyền thng cổ lệ bền vng.
  1. Bàn ti vấn đề xây dng cuộc sống đưc thành công có kết quả tốt đẹp trong đồng bào ai ny không thể không thốt ra nhng li ơn sâu nghĩa nặng vi nhau. Ngưi nói khi sản xuất đưc mùa có lm vấn đề: dẫn thy nhập điền, ngăn mặn, giữ ngọt, trừ sâu, diệt ry, cần có cơ quan khoa học kthuật. Không điện, không đường, thiếu nưc uống, nưc sinh hot, thm chí thiếu đất sản xuất tkêu gọi ban ngành, đoàn thể, nhà nưc túc trc chăm lo trợ giúp. Có rất nhiu việc khác công dân vi nhà nưc không thể tách ri. Cm đng hơn là gặp ngưi Khmer nghèo túng, chánh quyền càng để mt nhiều hơn. Thm chí, vấn đề học hành của con em dân tc cũng đề ra chính sách ưu đãi riêng, chăm chút cá biệt. Dạo đu mi giải phóng, gia cảnh ai cũng như ai. Dân tộc đưc chú ý nhiều hơn, thiếu bút viết, sách v, học phí,v.v… chính quyn đều vươn tay ra htrợ thủ tục rưm rà đi với ngưi Khmer và các dân tc được gim thiểu, đôi khi còn có nhiều cách đề xuất nhà trưng nâng đỡ học sinh, sinh viên dân tộc. Đây là điều mà ngưi Khmer phải lưu ý để toàn dân biết, phải nói li tri ân và tìm cách báo ân vi nhà nưc (Katannù - Katavedì) li Phật dy. Li thề nguyện chân thành
 
này cũng là mt cách xây dng xã hội bền vng của Pht giáo Nam tông Khmer. Ngưc lại, đây cũng là điu Nhà nưc rất mãn nguyện vi chính sách nhân n của mình đã hiện thc hóa.

Nhng công dân thuộc dân tộc ít ngưi, trong số đó, có dân tộc Khmer chúng ta, đã học hành thành đạt sở hu nhng văn bằng đại học, trên đại học, thạc sĩ, kỹ sư, tiến sĩ các ngành … Đây là nhng yêu cầu cấp bách và rất cần thiết cho cấp lãnh đạo đầu ngành nghề phục vụ cho dân tộc đất nưc trong tương lai.
  1. Tổ chc đi sống giản đơn của tăng chúng và bổn đạo riêng tng tu viện. Trưc hết, khâu m thc của tu sĩ ngày chmt lần, tc ngọ trai, trưa đi khất thc trì bình vthọ dụng trưc 12 giờ trưa, chiều có thể dùng các loại trà đưng, cà phê, nưc ngọt. Đi sống đm bạc, có thtrồi sụt ít nhiều tùy thuộc cuộc sống giản dị hay xa hoa của tín đồ có phận sự chung lo Pht pháp trong các hàng Tứ chúng. Cũng trong buổi chiều các gii tử đến các tư gia Phật tử nhận gạo hay thc ăn mn dành cho ba cháo trắng đim tâm sáng thanh bần. Mọi khâu ẩm thc đã có sự hòa hp rất ăn ý giữa Ban Qun trị chùa và tín đồ rất êm xuôi bình thưng, tổ chc vấn đề m thc có thể có chùa khác nhau.

Phật giáo Nam tông Khmer hiện có slưng trên 400 chùa tọa lạc đôi khi ở nông thôn xa xôi, có khi lại tại thị tứ cận hộ nhà dân. Tình trạng chùa thì thất thưng. Lễ hội đi và đạo, tín đồ bao giờ cũng tụ tp lại chùa lễ Phật cầu kinh. Có thlthc lâu đến đôi ba ngày na tháng, số lượng Pht tử đến thăm viếng đôi khi có đến hàng ngàn ngưi, có nhạc ngũ âm giúp vui, hòa lẫn vi tiếng trống chầu đệm vang m ĩ làm náo động cả xóm làng. Cảnh tưng như thế đem lại một ngày vui không nhng cho ngưi Khmer, mà còn là ngày khiến cho các dân tộc anh em

286
 
cũng háo hc hn hở chưng diện đến xem vui vẻ. Đó là một tín hiệu của sự xây dng xã hội bền vng.
  1. Trong bài viết này, chúng tôi đề cập nhiều khía cạnh vPhật giáo Nam tông Khmer. Nhng vấn đề ưu tính đã thảo luận khá nhiều, còn một đc tin khiến không ít các nhà nghiên cu đoán đnh đôi khi chưa đến mục tiêu. Bi vì, các vị đến vùng sông nưc ngay sau cuộc chiến tranh tàn khc khốn khó trăm bề mà mọi ngưi sống ở tại đây mi biết rõ. Có người nhìn thy tất cả các cảnh chùa đsộ, trông qua phum sóc thy nhà ca toàn cây lá đơn sơ, các vbói rằng do tất cả gia sản đem cúng chùa, nên bị nghèo túng. Thc tế không phải nvy, Khmer là tộc ngưi có đến hai vốn văn hóa là dân tộc và Phật giáo. Ví dụ, nhiều ngưi nhớ và khẩu truyền câu Phật dy là làm ra tiền nên chia ra làm 5 phần: 1) Trả nợ cũ (nuôi dưng cha mẹ); 2) Cho vay nợ mi (nuôi dy con cái); 3) Bỏ xuống hố sâu (ăn uống); 4) Chôn sâu để dành (làm phưc, bố thí); 5) Phòng nga khi đau ốm (bỏ ngân hàng).

Mt đc tin thứ hai là nghiệp quả (Kamma - phala). Nghip là việc làm. Quả là kết quả của việc làm. Trong Kinh Sanyutta Nikàya có nói: Ta đã gieo nhng giống nào thì nó sẽ đem lại quả đó cho ta. Ai gieo giống lành sẽ hưng quả lành. Ngưi gieo giống dữ sthọ quả d. Trong nghiệp sẵn có tiềm lc để sanh ra quả, như một giống sanh ra trái, trái sanh ra hạt giống, trong hạt giống đã sẵn có mm sống, do đó sự liên quan gia nhân và quả cũng như thế.

Nếu không có một nghiệp nặng m điu kiện cho kiếp thọ sanh kế tiếp, thì nghiệp nào gần nhất trong giờ phút lâm chung là nghiệp dẫn dắt đi thọ sanh. Nghiệp y chính là nhng hành vi
 
chúng ta đang làm, hoặc nhng sự nhớ tưng trưc phút lâm chung. Đng bào Khmer ở Nam Bộ thưng treo hình ảnh Đc Phật chung quanh giưng ngưi bệnh nan y, tiếng kinh kệ do chư tăng túc trc tụng niệm để nhc nhở bnh nhân nhìn thy Đc Phật, nghe tiếng kinh kệ trong giây phút sắp trút hơi thở cuối cùng. Họ tin tưng rằng, bệnh nhân sẽ nhớ đưc điều lành, điều thiện mình đã làm, sẽ đưc tái sanh vào một nơi lý tưng. Họ bảo theo li Phật dy: Nếu có một chúng sanh sắp thọ thai nơi đây, thì phải có mt chúng sanh sắp qua đi một nơi nào
khác(1).
  1. Tu sĩ Phật giáo và xác chết có sự thân cận bất đắc dĩ do luật đnh, tục lệ mỗi khi đám tang đến chùa trưc giờ hỏa táng, thưng đưc yêu cầu dỡ nắp hòm ra (hòm đơn giản) để chư tăng cầu siêu độ và quán ng, có tính thường xuyên hầu các tu sĩ thy rõ sự vô thưng khổ não của chúng sanh, liên quan tục lệ xây lò ha thiêu trong chùa là một nhu cầu rất nổi động tâm. Mội ngưi con từ thuở thơ ấu đưc cha mẹ đem đến chùa quy y Tam bảo, đôi khi suốt cả cuộc đi gắn bó vi kinh kệ, vi giáo lý đưc thm nhuần và hành theo gương sáng của Đc Phật. Khi đến ngày giờ sắp lâm chung, kẻ đó đã trở thành nhà tu hành, họ cũng có thâm ý muốn mình đưc hỏa táng tại chùa nơi trưc đây ông bà cha mẹ cũng đã thiêu thân xác và xương tàn hòa nhập vào tháp công cộng tại nơi này, giờ đây bản thân cũng thề nguyn đưc ân huệ tăng già cho phép y cứ như vy. Lò hỏa táng tồn tại trong các chùa xa xôi cũng do yêu cầu của Phật tử từ ngàn xưa. Nhưng nay, rất nhiều nơi đã xây lò hỏa táng điện công cng hp vệ sinh ở nhng nơi hp lệ, tuy không tân tiến như xứ Nhật


1 Nguyn Trạch Thn, Nghiệp o và tái sanh, Sài Gòn, 1959, tr. 47-52.
 
hoàng, nhưng đã làm hài lòng thiên hạ theo hưng xây dng xã hội bền vng.
  1. Mục đích hội thảo về Phật giáo Nam tông Khmer là để góp phần hưng ng chương trình thiên niên kỷ của Liên Hp Quốc nhm đồng hành cùng dân tc, góp phần tạo nên sđoàn kết toàn dân. Ngày nay, các thiền gia nghĩ tm, sẽ hỗ trợ lâu dài đưc gì mà không bị vưng phải vi phm hạnh của sa môn. Như chúng ta đã thy, nhng thành tu phấn khích mà ngưi đi thế tục đã làm nên cho đất nưc, cho chúng sanh. Còn bao nhiêu việc ln nhỏ vì sự an bình thnh vưng cho nhân dân, vì tương lai giàu đẹp và hùng cưng cho tổ quốc qhương. Đảng và Nhà nưc đang tập hp mọi nguồn lc, công sc, sản nghip và trí tuệ của đất nước, mong và quyết chí làm nên. Vy các bậc học tập thọ nhận cao kiến của Phật tổ cách “để gương trong sách, tạo bia dưi đi” cần suy xét và sẽ hp lc đưc gì cho công việc vĩ đại trên.

Rõ ràng hơn clà lòng từ bi, bác ái cả đi tu sĩ giảng đạo cu độ chúng sanh. Nếu chương trình đưc chuyển chệch hưng đôi chút để thuyết giáo một số ngưi trong xã hội, có thể trong số có giáo độ Phật giáo Nam tông đang vưng phải các chng bệnh nan y đó là các tệ nạn cưp của giết ngưi, hút xách, nghiện nhập, xì ke, ma túy,v.v… Đây là một số chng bệnh khó cha làm băng hoại xã hội, là một nỗi lo cc lc của Tổ quốc, vy chúng ta vì để hoàn thiện phương châm vì dân tộc cần phải đặt mình vào phận sự nan giải này, càng quyết tâm đấu tranh cha trị bao nhiêu càng giúp cho chương trình xây dng xã hội bền vng by nhiêu.
 
Mt việc m theo li của Đc Phật đã giáo huấn là pháp tế độ, cu chẩn (Sangaha) mà xưa nay đã thc hiện, nhng khổ nạn vì thiên tai cũng lắm, đch họa cũng nhiu. Đôi khi nhng tai ương xy đến hàng ngàn nạn nhân đã lâm nn. Đúng là li Phật dy rất phù hp lòng dân, bi công việc cu trợ chẳng nhng đối vi cá thể riêng lẽ ngưi có tâm đạo mà xưa nay đã có nhiều vùng miền có tổ chc hội từ thiện cu trợ xã hội. Như đã nhận đnh tình hình hưng thiện của các hàng Tứ chúng nội bộ. Phật giáo Nam tông Khmer dễ dàng dn dắt tham gia chương trình tthiện mi khi tại đa phương hay bt kvùng min nào có xy ra thiên tai hay đch họa, dân tình gặp nhiều tai ương khốn khổ, bổn đạo cũng đưc hưng dẫn đóng góp tiền của vật chất cu giúp nạn tai, đưc vy chẳng nhng làm thỏa lòng hoan hỷ của kẻ có đạo tâm, mà cũng là hành trang của cuộc xây dng xã hội bền
vng(1).

Một skiến nghị thay lời kết lun


Luật lệ (Vinaya) đối vi Tăng già Phật giáo Nam tông Khmer là nhng điều khoản thuộc nguyên tắc trong Phật giáo có liên quan đến trật tự kỷ cương, giúp các vtỳ khưu tránh sự lơ đễnh trong bưc đưng tu tập vì mục đích cu cánh là Niết Bàn mà hành giả đã thề nguyn và bo vệ ssống còn của giáo pháp. Giáo hội Tăng già Phật giáo Nam tông Khmer nói đến luật lệ thì ai cũng trnh trọng lẳng lặng suy lun, cho nên không phải ngẫu nhiên mà nội bộ Tăng già Phật giáo Nam tông Khmer bao giờ cũng đặt vấn đề phương hưng chăm lo giáo dục luật lệ tăng già là chính yếu.



1 Sangaha Mahàvansa 35-4 Pháp tế độ, Palì English Dictionary, T. W. Rhys Davids, London, 1959, tr. 666.
 
Về truyền thống ngàn xưa, ở các tnh ln đều có đề cử một vị Hòa thưng lão sư uy tín làm Megana (trưng nhóm). Vị cao tăng có uy tín là mt vị có đc độ cao, đại diện cho thành phần lão tăng tiêu biu của mt vùng, là danh dcủa các bậc chơn tu. Sự có mặt của vị Hòa thưng lão sư khiến cả vùng có sự tinh tấn nghiêm túc tu trì, có đc tin cao trong Tam bo.

Song song vi Phật giáo Nam tông Khmer, nếu không đề cập đến một đoàn thkhác tương đồng từ hình thc đến nội dung tu trì là một thiếu sót, đó là Phật giáo Namng Việt Nam. Hiện nay số chùa Phật giáo Nam tông Vit Nam khoảng non ¼ số thiền đưng Phật giáo Nam tông Khmer và tập hp đưc trên dưi con số triệu dân qui y Tam bo, ánh sáng của đoàn thPht giáo này cũng đem lại mt nhận đnh về tinh hoa Phật pháp khá cao thâm của mt số đông trí thc Việt Nam mt thi, nhất là khi các bậc sơ tổ còn sinh tiền. Vi tinh thn tất cả vì chính pháp. Từ khoảng 15 - 17 năm tổ chc Phật giáo Nam tông Việt Nam xut hiện và truyền bá, thành viên của ban tổ chc luôn âm thm dõi theo tng hành vi cchỉ sống của các vị tân tăng nội bộ và kp thi chấn chnh ngay khi có sơ xuất nhng điu sai luật bất dung, là Giáo hội có lời nhắc nhở tc thì, rt cần thiết.

Ngày nay Phật giáo Nam tông Việt Nam là một trong 09 tổ chc, hệ phái tham gia hình thành Giáo hi Phật giáo Việt Nam. Từ khi các hệ phái hội nhập vi nhau, Phật giáo Nam tông Việt Nam đã tích cc tham gia hoạt động xây dng và phát trin Giáo hội Phật giáo Việt Nam rất có hiệu quả, là điều mà chúng tôi trong các hàng tứ chúng hoàn toàn đồng tình phấn khi. Nhưng về phương hướng tu hành nội bộ luật đạo của Phật giáo Nam tông Việt Nam thì vô cùng phc tạp, các vị cao tăng thạc đc không thể lơ là phải suy tính giải quyết thấu đáo thế nào vì hậu

vệ tăng già tiếp nối mai sau, rất cần có bề trên giáo huấn hưng lai giải quyết thế nào để cả hai việc đối ni và đối ngoi đưc phân minh ổn định.

Theo nguyên tc, một vị tỳ khưu ngoài việc phải nghiêm trì gii luật, hằng ngày phải sống tập thể, phải sám hối lẫn nhau, phải làm lễ phát lồ (tháng 2 lần),v.v… Các bưc này thế nào nhất thiết phải có một tổ chc Phật giáo Nam tông Việt Nam để quản lý tất cả tăng chúng trong đoàn thể luôn cập nhật vic tinh tấn hay giải đãi trong việc tu tập, hành đạo dy đi tất cả mọi hành vi cử chỉ nghiêm chnh hay lệch lạc đều phải có một tổ chc của riêng đoàn thể có nhim vụ để chỉ giáo nội bộ mi xây dng và phát triển Phật giáo Nam tông Vit Nam phồn thnh, Giáo hội Phật giáo Việt Nam sẽ phát triển bền vng.

TÀI LIỆU THAM KHO:
  1. Vinaya Patimokha Sanvarasìla, Samkhepa cua Maha Sume Chuon Nath, Phnom Penh, 1952.
  2. Hunh Kim Lan, Phật giáo Theravàda trong đồng bào Khmer Nam Bộ, Luận văn tốt nghiệp cử nhân.
  3. Thạch Văn Pal, Dân tộc và Miền núi, TTXVN, tháng 5/2011.
  4. Nguyễn Trạch Thn, Nghiệp báo và tái sanh, Sài Gòn, 1959.
  5. Sangaha Mahàvansa 35-4 Pháp tế độ, Palì English Dictionary,
T. W. Rhys Davids, London 1959.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây