23. YẾU TỐ VĂN HÓA PHẬT GIÁO TRONG CƠ CHẾ QUẢN LÝ XÃ HỘI TRUYỀN THỐNG PHUM SÓC CỦA NGƯỜI KHMER Ở NAM BỘ

Thứ bảy - 08/09/2018 13:46
YẾU TỐ VĂN HÓA PHẬT GIÁO TRONG CƠ CHẾ QUẢN LÝ XÃ HỘI TRUYỀN THỐNG PHUM SÓC CỦA NGƯỜI KHMER Ở NAM BỘ của TS. Nguyễn Khắc Cảnh*

Người Khmer là cư dân đã sinh tụ lâu đời trên vùng đất Nam Bộ. Vốn là cư dân nông nghiệp chuyên canh lúa nưc, để thích ứng với nền kinh tế tiu nông, người Khmer đã tập hợp thành những đơn vị cư trú và tổ chc nó thành những đơn vị xã hội tự quản truyền thng với hai thiết chế xã hội là phum c. Trong điều kin sng biệt lập trong một thời gian dài không chịu sự chi phối và quản lý hành chính của bất cứ quốc gia nào thời
đó(1) và khi mà sự phân hóa giai cấp diễn ra chưa sâu sắc, tính

cộng đồng của những người cùng số phận được đề cao, tính dân chủ, bình đẳng giữa các thành viên trong phum, sóc cũng được coi trọng, vì vy bộ máy quản lý phum, sóc được tổ chức trên cơ sở tự qun với nhiu yếu tố dân chủ công xã. Thêm nữa, khi đến tụ cư ở vùng Nam Bộ, người Khmer đã mang theo tôn giáo của mình, Phật giáo Nam tông, được thịnh hành từ thế kỷ XIII. Tại nơi này, Phật giáo Nam tông vừa đáp ứng nhu cầu tâm linh của nhân dân, đồng thời là chất men cố kết để quy tụ mọi thành viên trong cng đồng sống theo giáo lý, nghi lễ nhà Phật. Yếu tố văn hóa tộc người của cư dân nông nghiệp lúa nước được kết hợp với yếu tố văn hóa Phật giáo, không chỉ ảnh hưng đm nét vào lối sinh hoạt văn hóa vật chất và tinh thn, mà còn ghi dấu ấn rõ nét


* Trường Đại hc Khoa hc Xã hi và Nhân văn, Đại hc Quc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
1 Mạc Đường (1981), Vấn đ dân cư và dân tộc ở Đng bng sông Cu Long trong thời cổ đại”, Tạp chí Dân tộc học, s 4, tr. 1.
 
trong bộ máy tự quản truyền thng, tạo nên mt đặc tính xã hội rất riêng của vùng nông thôn Khmer ở Nam Bộ, mặc dù có sự biến thiên trong lịch s, nhưng vẫn có ảnh hưởng to lớn cho đến hiện nay.
Phật giáo Nam tông dù chỉ du nhập vào thế kỷ XIII(1) nhưng đã chi phi sâu sắc đời sống của người Khmer ở Nam Bộ. Mọi người Khmer, dù tu ở chùa hay tại nhà, đều tự coi mình là Phật t. Phật giáo đưc người Khmer ở Nam Bộ sùng kính và bảo vệ không phải vì sự hấp dẫn của giáo lý đã đem lại lợi ích thiết thực trong đời sống, mà điều chính yếu là những hành động tôn giáo lưu truyền quen thuộc qua các thế hệ của người Khmer đã thành nếp sống, thành quy cách ứng xử mà mỗi thành viên của phum, sóc mặc nhiên phải tuân theo. Khi còn tại gia, người con trai với bổn phận làm con phi vâng lời cha mẹ, nhưng chỉ sau lễ “quy ymặc vào tấm áo cà sa, người con trai thành vị sư và ngay lp tức vị trí xã hội được thay đổi. Bố mẹ gp con lúc này phải quỳ ly sùng kính vì đó là một trong Tam bảo (Phật- Pháp-Tăng).


Ở chùa, các vị chc sắc như Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức, Mê kôn, Sư cả, Sư phó… được nhân dân kính trọng không phải đơn thuần chỉ vì uy quyền tôn giáo, mà giữa họ và nhân dân có sự gắn  bó  mật thiết hơn nhiều. Trong xã hội  nông  thôn Khmer, tầng lớp sư sãi có vị trí đặc biệt. Họ được coi là những bậc thức giả, là linh hn và nim tự hào của phum, sóc. Lời của họ được coi là biu hiện lời dy của Đc Phật, được mọi người quý trọng và tự giác tuân thủ. Vì vy, trong xã hội truyền thống

1 Nguyễn Văn Tiệp (1993), Quá trình du nhập và nh hưng ca Phật giáo Tiểu thừa đến sinh hoạt tôn go, văn hóa - xã hi ca người Khmer ở Đồng bng sông Cửu Long”, Thông o Khoa học, Trường Đại hc Sư phm Vinh, tr. 37.
 
của người Khmer ở Nam Bộ, tầng lớp sư sãi là người nắm thực quyền điều hành xã hi, mc dù trên danh nghĩa họ không phải trực tiếp quản lý mà thông qua bộ máy Ban Quản trị chùa. Sư sãi Khmer không xa lánh hoàn toàn với thế sự, họ vừa chăm lo đời sống tâm linh của Pht tử vừa chăm sóc giúp đỡ Phật tử trong cuộc sống hằng ngày. Khi có sự xích mích, kiện tụng xy ra giữa các gia đình, sư sãi đứng ra phân xử, hòa giải. Người bệnh tật hay gp thiên tai, hoạn nạn cũng đều tìm đến các vị sư để được an ủi trao đổi ý kiến. Đám cưi, đám ma, nim vui, nỗi buồn của cá nhân và gia đình người Khmer đu được các vị sư tụng kinh chúc phước, chia bun. Các vị sư sãi với triết lý sống làm phước, đã đến với dân chúng trong lúc họ gặp hoạn nạn, khó khăn mà không cần bất cứ điu kiện nào. Mặt khác, họ còn là thy giáo dy ch, dy đạo lý càng làm tăng thêm lòng kính trọng, tin yêu của dân chúng.

Theo Phật giáo Nam tông chỉ có những người “ly gia cắt ái”, thóat khỏi mọi sự ràng buộc, lo âu của cuộc sống trần tc để tu hành thì mới có thể giải thóat. Vì thế, đối với tín đồ Phật giáo Nam tông Khmer, một nhu cầu không thể thiếu được trong sinh hoạt tôn giáo là ngôi chùa. Nhưng khác với nhiều tôn giáo khác, Phật giáo Nam tông ca người Khmer không chỉ đm nhận chc năng tôn giáo mà còn đảm nhận các chc năng văn hóa, giáo dục. Vì vy, ngôi chùa Khmer được xây dng không chỉ nhm đáp ứng nhu cầu của hoạt động tôn giáo, mà bên cạnh đó nó còn làm chc năng là trung tâm sinh hoạt văn hóa, giáo dục của cộng
đồng phum, sóc(1). Trong quan nim của người Khmer, đi tu




1 Nguyn Khắc Cnh (1996), Ngôi chùa: Trung tâm giáo dc và sinh hoạt văn hóa
  • xã hi ca phum, sóc Khmer Đng bng sông Cu Long”, Tập san Khoa học A,
 
không phải để thành Phật, mà tu là để học làm người có phm chất đạo đức, biết sng theo tinh thần của giáo lý nhà Phật và rèn luyn theo đạo pháp: thọ giới, bố thí, nim. Trong sách dy làm người của người Khmer có câu: Ri neak minh ban buốt tuk, chia tôk knong sao sơ mai” (người không được tu trong chùa là người có nhiều ti lỗi trong cuộc sống). Vì vậy, ngôi chùa đã trở thành trung tâm giáo dục dành cho con em ca phum, sóc. Trước kia, ngoài nhà chùa, đồng bào Khmer ở Nam Bộ không có hệ thống trường dy học nào khác. Mỗi chùa thường có một hoặc vài ba vị sãi chuyên dạy chữ cho con em dân chúng trong phum sóc.

Là cư dân nông nghip trồng lúa nước, hằng năm, người Khmer có nhiều lễ hội gắn liền với các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Trong mi dịp lễ hội, bên cạnh phần lễ là những hình thức sinh hoạt vui chơi, giải trí, biểu diễn văn nghệ của quần chúng, tất cả đu được tổ chc ở khuôn viên chùa. Chùa còn là hệ thống thiết chế văn hóa của cộng đồng. Ngôi chùa là nơi tàng trữ các bộ sách cổ và sách Phật, là bảo tàng mỹ thuật và lịch sử, nơi duy nht trưng bày các công trình, tác phm mỹ thut của các nghệ nhân Khmer, là trường hc chữ, là nơi sinh hoạt văn hóa, văn nghệ của cộng đồng… Đặc biệt hơn, Phật giáo Nam tông với sự hiện hữu của ngôi chùa trong mỗi sóc còn như là một thành trì bảo vệ, che chở cho người Khmer trước những biến động ca thời cuộc và lịch sử. Trước sự xâm nhập và tác động chi phối lớn lao từ mọi phía bên ngoài, người Khmer chỉ còn dựa vào Phật giáo, co cm vào chùa để tự bảo vệ mình. Ngôi chùa như một thành trì để người Khmer chống lại sư o ép từ bên

Trưng Đi học Tổng hp Thành phố Hồ Chí Minh (Chuyên đkhoa học Lịch s), s1, tr. 174.
 
ngoài và giữ gìn những gì vốn có của dân tc. Nhiều yếu tố văn hóa Khmer được cất giữ và nuôi dưỡng tại chùa. Khi thiết chế quản lý nhà nước vươn tới các phum, sóc thì bộ máy tự quản phum, sóc truyền thống đã rút lui vào chùa, và chính ở đây với chc năng của Ban Quản trị chùa, nó lại tiếp tục thực hiện vai trò quản lý và điều hành đời sống xã hội của cộng đồng phum, sóc.

Người Khmer ở Nam Bộ vừa là thành viên của sóc vừa là mt tín đồ của Phật giáo Nam tông. Bên cạnh sự quản lý của bmáy tự qun phum, sóc, họ còn chịu sự quản lý của hệ thống tổ chc nhà chùa. Hệ thng tổ chc Phật giáo có từ trung ương đến địa phương, cao nhất là Giáo hội Trung ương, ở cấp tỉnh có Salakon (Hi đồng Sư sãi), đứng đầu cấp huyện có Anakon, từng khu vực gm nhiều sư có Upechia. Đây là hệ thống tổ chc của giáo hội theo ngành dọc, ít liên quan tới tín đồ của phum, sóc. Riêng bộ máy của nhà chùa trong sóc, không chỉ thuần túy trên lĩnh vực tôn giáo mà còn đm đương cả nhng vấn đề văn hóa, giáo dục, xã hội khác.

Đng đầu mỗi chùa có một vị Sư cả (lục Krou). Sư cả là người trụ trì ngôi chùa, vị lãnh đạo tôn giáo cao nhất của một hoặc vài sóc. Sư cả thường là ngưi cao tui đã qua nhiều lớp đào tạo, am hiểu giáo lý, thuộc kinh k, giỏi chữ Phạn và hiểu biết sâu sắc văn hóa truyn thống của người Khmer, đồng thời là người tình nguyện trọn đời tu hành. Trước đây, Sư cả còn được tu học ở các trường Phật học ở Campuchia hoặc Thái Lan có bằng cấp hẳn hoi về trụ trì các chùa. Sư cả là người rt có uy tín, có vị thế đặc biệt hơn cả “mê sóc” và được dân trong sóc hết mực kính trọng. Trong tâm thức của người Khmer, Sư cả đưc coi là người đại diện cho Đc Phật, những li giáo huấn của ông
 
được nhân dân tôn trọng và thực thi mt cách nghiêm túc. Thường là những cuộc tranh chấp, bất hòa giữa các thành viên gia đình Khmer trong sóc đều được Sư cả và các vị sư sãi đứng ra giải quyết êm đẹp. Trong không gian trầm mặc, tôn nghiêm của nhà chùa, người dân đến đây với lòng sùng kính, nên tạo không khí thuận lợi cho việc hòa giải. Mặt khác, Sư cả thường vận dụng những giáo lý Phật giáo về lòng vị tha, thương ngưi, sống cần làm phước để mong cuộc đời tốt đẹp mai sau, nên thường dễ dàng thuyết phục được các bên tranh chấp.

Ngoài Sư cả, trong ca còn có một hoặc hai Sư phó. Họ là người trợ lý giúp việc cho Sư cả, chịu trách nhim coi sóc mọi việc trong chùa và vic ngoài đời có liên quan đến chùa, duy tkỷ luật và tu hành trong chùa.

Giới chc thứ ba trong chùa là các Tỳ kheo, những người tu hành từ 20 tuổi trở lên. Họ có nhiu nhim vụ như giảng kinh, làm các cuộc lễ riêng cho các gia đình, cá nhân ở trong chùa hay ngoài chùa.

Cuối cùng là tầng lp Sa di, thường là 10 tui trở lên, được cha mcho vào chùa tu học, phục vụ các sư sãi, quét dọn nhà chùa, lau chùi tượng Phật. Các Sa di tu đến năm 20 tuổi thì tùy từng người, tiếp tục ở lại tu sang bậc Tỳ kheo hoặc hoàn tục về nhà làm ăn bình thưng.

Trong mi chùa, cùng với Sư cả, Sư phó và các sư sãi chuyên lo các việc tôn giáo, còn có tổ chc của tín đồ là Ban Quản trị chùa (Knã kô ma ca wat). Chức năng của Ban Quản trị chùa là nhm điều phối mối quan hệ giữa nhà chùa với các thành viên của sóc. Ban Qun trị chùa thường có tới 9 - 10 ngưi, trong đó vị  chủ  chùa  (Nhôm  wat) thường  là  người khá giả  ở địa
 
phương và thông thường trong buổi đu thành lập sóc những người đầu tiên đứng ra lập chùa đều trở thành Nhôm wat”, thy phụ trách nghi l(Acha wat) một số vị khác phụ trách về tài chánh, Pht sự. Họ là những người sùng đạo, biết cách tổ chc các nghi lễ, đồng thời am hiểu phong tục tp quán của người Khmer. Phật giáo Nam tông Khmer Nam Bộ thông qua Ban Quản trị chùa để giúp vào việc quản lý phum, sóc. Ban Quản trị chùa, sau khi hỏi ý kiến và bàn bạc với Sư cả, Sư phó, thay mặt nhà chùa đứng ra quyết định và gii quyết mi công việc liên quan tới hoạt động n giáo. Họ là người hoạch định chương trình và đứng ra tổ chc các buổi lễ, định địa tô cho chùa, giải quyết những vấn đề Phật sự như sửa sang, trùng tu chùa, tìm kiếm những ngân khon chi tiêu cho nhà ca.

Trong các sóc Khmer ở Nam Bộ còn tồn tại mt tổ chc tín đồ Phật tử khác gọi là các wel” haywiêl”. Wel là tập hp một số lượng gia đình tín đồ nhất định, phân theo khu vực địa lý và cả theo nguyện vọng (giống như các tổ, đội trong các hợp tác xã nông nghiệp của người Việt), để thực hành những công việc nhà chùa. Mỗi chùa tùy theo quy mô số lượng dân sóc đông hay ít mà có nhiều hay ít wel. Thí dụ ở xã Hiếu Tử, huyện Tiu Cần, tỉnh Trà Vinh có chùa Khmer, trong đó chùa Ô Dùng có 13 wel, chùa Tân Đại có 6 wel, chùa Ô Chao có 7 wel. Ngoài khu vực địa lý và nguyện vọng, cách phân chia ở đây còn chú ý tới khả năng giàu nghèo của các gia đình Phật t, để không tập trung nhiều gia đình giàu có vào một wel và ngược lại. Đng đu mỗi wel có mt Mê wel là người giúp việc cho Ban Quản trị chùa (trong nhiều trường hợp các Mê wel đồng thời là thành viên trong Ban Quản trị của chùa). Mê wel là ngưi có đạo đức, trung thực thẳng thắn, có hiu biết kinh kệ và ở những gia đình có uy

274
 
tín, được dân trong wel bình chọn và được Ban Quản trị chùa đề nghị với Sư cả công nhận. Như vy, wel là đơn vị tín đồ thuộc mt chùa nhất định, được tổ chức nhm:
    • Sự phân chia các wel để nhà chùa tổ chc việc quyên góp, nhận cơm nước hằng ngày của con sóc cúng dường. Vào một ngày nhất định trong tháng, các con sóc trong wel từ sáng sm chuẩn bị cơm, thức ăn để dâng cúng cho nhà chùa. Nhà chùa sẽ cử một số sư (Tỳ kheo) cùng với trẻ em giúp việc mang theo các đồ đựng đến từng nhà trong wel nhận cơm nước và thức ăn của con sóc mang về chùa cho các sư sãi dùng trước 12 gi. Nhà chùa mỗi ngày chỉ đi nhận cơm ở 1 wel, cứ lần lượt như vy cho tới khi giáp vòng trở li. Các wel cũng là những đơn vị thực hiện trách nhim và nghĩa vụ công việc nhà chùa. Mỗi khi có việc tu sửa, xây dựng chùa hay tổ chc các Pht sự khác, Ban Quản trị chùa, sau khi thống nhất với Sư cả, Sư phó thì phân bổ công việc và sự đóng góp về các wel. Mê wel có nhim vụ phổ biến, tuyên truyền động viên, khuyến khích các con sóc trong wel tham gia đóng góp công sức hay cúng dường cho nhà chùa, Phật sự.
 
    • Wel cũng là đơn vị thực hiện các vic công ích xã hi chung của phum sóc, theo sự phân bổ của Ban Quản trị sóc, như tham gia vệ sinh, làm đường sá, lao động công ích trong sóc hay tham gia đóng góp công sức tin của trong các dịp lễ tết truyn thống và Phật giáo. Trên thực tế, wel là khâu nối giữa nhà chùa và sóc, góp phần vào công việc chung của sóc.
 
    • Wel là tổ chc Phật t, nhưng trên thực tế cũng là tổ chc cơ bản của xã hội Khmer ở Nam Bộ. Các gia đình trong wel cũng có ý thức cộng đồng của wel trong việc chia sẻ những khó khăn và giúp đỡ nhau khi hoạn nạn. Mọi gia sự, khi vui hay bun
 
của một gia đình trưc hết là những người trong cùng một wel đến góp vui hay tm hỏi chia sẻ buồn đau.

Từ khi chính quyền phong kiến nhà Nguyn ở phần đất phía nam nước ta vươn tới quản lý vùng Nam Bộ, một bmáy quản lý hành chính của chính quyền phong kiến được hình thành ở vùng Khmer bao trùm lên bộ máy tự quản truyền thống ở các phum sóc, làm cho bộ máy tự quản của phum sóc dần bị mất đi và được thay thế bng bộ máy chính quyền của nhà nước. Các mê sóc bị thay thế bởi các hương cả, hương chủ, hương thôn là những chc sắc của chính quyn làng, xã phong kiến, theo mô hình của làng Việt. Để duy trì và bảo vệ cơ cấu xã hội truyền thống trước chính sách đồng hóa của nhà Nguyễn và thực dân Pháp sau này, cư dân Khmer đã bám trụ trên các phum, sóc của mình xung quanh ngôi chùa, dựa vào hệ thống quản lý nhà chùa để giải quyết những công việc trong cộng đồng. Phật giáo trở thành chỗ dựa để chng lại sự đồng hóa về mọi mặt ca chính quyền phong kiến và thực dân. Bộ máy quản lý nhà chùa được nới rộng, ngoài những chc năng thuần túy tôn giáo còn đm nhận chc năng tổ chc và quản lý xã hội. Ban Quản trị chùa và các wel với tư cách là đơn vị tổ chc của tín đồ được củng cố, vừa chăm lo Phật sự vừa chăm lo tất cả sinh hoạt văn hóa - xã hội khác. Ngôi chùa trở thành trung tâm sinh hoạt văn hóa - xã hội, nhm duy trì sự tồn tại và phát triển ca cộng đồng người Khmer, trưc chính sách đồng hóa của phong kiến nhà Nguyễn và các chế độ thực dân sau đó.

Mặc dù bộ máy quản lý của chính quyền phong kiến, thực dân được xác lp và có ảnh hưởng rt lớn, thay thế một số chc năng của bộ máy tự quản trước kia, nhưng do sức sống của nó trong xã hội Khmer cổ truyền, các chc năng đối nội của bộ máy
 
tự quản về nhiều mặt được chuyển sang bộ y quản lý chùa. Bộ máy quản lý này, tuy về danh nghĩa không được nhà nước công nhận, nhưng trên thực tế nó lại đóng vai trò cc kỳ quan trọng trong việc tổ chc qun lý cộng đồng. Mt khác, khi vai trò nhà nước càng ngày càng cần có sự nh hưởng sâu rộng đến cư dân thì chính quyền phong kiến thực dân cũng muốn sử dụng các sư sãi có uy tín để phục vụ cho mục đích chính trị của chính quyn. Vì thế, sức sống của bmáy quản lý nhà chùa vẫn duy trì phát triển cho ti tận ngày nay.

Tóm lại, về mặt giáo lý, nhà chùa và các vị sư sãi chỉ chăm lo việc tu hành thờ phượng và đời sống tâm linh cho nhân dân trong sóc, không tham dự vào việc thế tục. Nhưng trên thực tế, vùng nông thôn Khmer ở Nam Bộ nhà chùa và các vị sư sãi đã có những đóng góp tích cc trong việc quản lý cộng đồng phum, sóc. Có thể nói, tổ chc xã hội truyền thống của người Khmer ở Nam Bộ có sự đan xen hỗn hợp giữa thiết chế xã hội tự quản truyền thống với tôn giáo. Mối quan hệ giữa hai yếu tố này đã duy trì sự ổn định của phum sóc và to cho phum sóc Khmer một diện mo riêng biệt khác với làng, xã người Việt. Trong cơ chế kết hợp đó, người Khmer cm thy dễ chịu, bình yên và luôn cảm thy mình là chủ nhân của phum sóc. Họ có ý thức trách nhim tự giác rất cao trong việc bo vệ, xây dựng phum sóc của mình và luôn cảm thy gắn bó, vinh dự mình là một cá nhân, một thành viên của cộng đồng phum, sóc. Đặc biệt là khi thiết chế quản lý nhà nước vươn tới các phum, sóc Khmer thì bộ máy tự quản truyn thng đã rút lui vào chùa. Chính ở đây, với chc năng của Ban Qun trị chùa, nó lại tiếp tục thc hiện vai trò quản lý và điều hành đi sống xã hội của cộng đồng phum, c.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:
 
  1. Phan An (1992), “Phum, sóc Khmer trong cơ chế quản lý xã hội vùng dân tộc Khmer Nam Bộ”, trong Những vấn đề xã hội ở miền Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
  2. Pham An (1995), “Cơ chế quản lý xã hội truyền thống phum, sóc của người Khmer Nam Bộ”, trong Làng xã ở Châu Á và ở Việt Nam, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Nguyễn Khắc Cảnh (1996), “Ngôi chùa: Trung tâm giáo dục và sinh hoạt văn hóa - xã hội của phum, sóc Khmer Đng bằng sông Cửu Long”, Tập san Khoa học A, Trường Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh (Chuyên đề khoa học Lịch s), số 1.
  4. Nguyễn Khắc Cảnh (1997), Các loại hình công xã của người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
  5. Nguyễn Khắc Cnh (1998), Phum, sóc của người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long, Nxb. Giáo dc, Hà Nội.
  6. Mạc Đường (1981), Vấn đề dân cư và dân tộc ở Đng bằng sông Cửu Long trong thời cổ đại.”, Tạp chí Dân tộc học, số 4.
  7. Mạc Đường (1982), “Quá trình phát trin dân cư và dân tộc ở Đồng bằng sông Cửu Long từ thế kXV đến thế kỷ XIX”, Tạp chí Nghiên cu Lịch s, số 3.
  8. Mạc Đường (1982), Vấn đề dân cư và dân tộc ở Đồng bng sông Cửu Long vào những năm đầu thế kỷ XX”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch s, số 4.
  9. Đặng Thị Kim Oanh (2007), Hôn nhân và gia đình của người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long, Luận án tiến sĩ,

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phHồ Chí Minh.
  1. Nguyễn Văn Tiệp (1993), “Quá trình du nhập và ảnh hưởng của Phật giáo Tiểu tha đến sinh hoạt tôn go, văn hóa - xã hội của người Khmer ở Đồng bằng sông Cu Long”, Thông báo Khoa học, Trường Đại học Sư phạm Vinh.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây