19. HÌNH TƯỢNG KINNARI TRONG PHẬT ĐIỆN THERAVADA CỦA NGƯỜI KHMER Ở NAM BỘ

Thứ bảy - 08/09/2018 13:30
HÌNH TƯỢNG KINNARI TRONG PHẬT ĐIỆN THERAVADA CỦA NGƯỜI KHMER Ở NAM BỘ
(Nghiên cứu so sánh với các nền văn hóa trong khu vực)

ThS. Ngô Thanh An*
 
  1. Dẫn nhập

Ngưi Khmer ở Nam  Bộ chủ yếu theo  Phật giáo Theravada, một trong hai dòng Phật giáo ln của thế gii đưc truyền tha từ Sri Lanka đến các quốc gia Đông Nam Á lục địa. Cũng bi hưng truyn bá này, nên Theravada còn có tên gọi khác là Phật giáo Nam tông để phân biệt vi dòng Phật giáo Bắc tông đưc truyền tha từ phía bắc đến. Không gian văn hóa của mt ngôi chùa Phật giáo Theravada đưc cấu thành từ ba yếu tố chủ đạo: cnh quan môi trưng tc khuôn viên của nhà chùa, quần thể kiến trúc và nghthuật tạo hình chủ yếu tp ở ngôi chánh điện (Vihara). Theo thế gii quan của Phật giáo Theravada, chánh điện là biểu tượng ca ngn núi Tudi, nơi Đc Phật cư ngụ, bên ngoài là thế giới của chư thần và các loài linh vật. Từ quan nim này, nên ngôi chùa Theravada luôn đưc trang trí bằng một hthống thần tưng và linh vật từ ngoài cổng đến chánh điện, thể hiện theo tng cấp độ từ thấp đến cao. Mỗi biểu tưng đều đưc lý giải bằng Phật thoại hay truyn thuyết, tạo nên một màu sắc tâm linh bao quanh ngôi chùa. Phần nhiều các biểu tưng và hình tưng này có nguồn gốc từ Bà La Môn giáo (Brahmanism).


* Trường Đại hc Khoa hc Xã hi và Nhân văn, Đại hc Quc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
 
  1. Kinnari trong Phật thoại

Kinnari có nguồn gốc trong thần thoại Ấn Độ đưc ngưi Khmer ở Nam Bộ gọi là Kày No, tên gọi này nhm chỉ mt sinh vật huyn thoại na ngưi na chim. Thần phả và điêu khắc mô tả Kinnari vi hình dáng của một nữ nhân xinh đẹp, mc y phc thiên thần ở na phần trên của cơ thể, na phần dưới thuộc giống chim nên đưc trang trí bằng đôi cánh và chiếc đuôi. Vi hình dáng này, các nàng Kinnari đưc tin là có thsống dưi hạ gii, nhưng khi cần có thvỗ cánh bay về Tri. Truyn thuyết của các dân tộc Shan, Thái, Lào và Khmer kể rng, Kinnari luôn sống theo tng cặp, con mái gọi là Kinnari, con trống gọi là Kinnara. Chúng là đôi chim biu trưng cho tình yêu thy chung và lòng mPhật pháp. Nhng cặp đôi Kinnari và Kinnara sống trong khu rng thần Himaphan tọa lạc trên sưn núi Himalaya, nhưng chúng thưng xuyên bay xung trn gian để hành thiện cu ngưi. Mặc dù trong thần thoại có nói đến chim trống (Kinnara), nhưng ngưi Khmer ở Nam Bộ cũng như các dân tộc khác đều yêu quý và sùng bái Kinnari hơn. Đây cũng có thể xuất phát từ dấu ấn ca chế độ mẫu hệ và tc sùng bái nữ thần của cư dân bản đa.

Kinnari xuất hiện sm nhất trong thần thoại Bà La Môn giáo vi vai trò của thần linh cp thấp. Các nàng đưc mô tả nhng nữ nhân chuyên ca hát, vốn gốc là loài chim nên thưng có giọng hát mưt mà làm say đm lòng ngưi. Cùng vi nhạc công Gaudhava và vũ công Apsara, Kinnari hp thành bộ ba chuyên múa hát và dâng rưu cho các đại thần linh trên Thiên gii. Theo quan nim của Bà La Môn giáo, Kinnari là một trong ba sinh vật biểu tưng cho cuộc sống vĩnh hng, hoan lạc và bất
 
tử của các đại thần linh Bà La Môn giáo như Brahma, Vishnu, Shiva và Indra.

Trong Pht giáo Bắc tông (Mahayana Buddhism), Kinnari xuất hiện trong Diu pháp Liên Hoa kinh (Lotus Sutra) vi tên gọi là Càn Thát Bà. Trong thờ cúng bàn chân Phật (Budhapad) ở Đông Nam Á, Kinnari đưc mô tả là một trong số 108 biểu tưng trên bàn chân Phật. Trong tác phm Pannasa Jataka (Bn Sanh Kinh) bng tiếng Pali của Phật giáo Theravada do một nhà sư Thái Lan ở Chiang Mai sưu tầm và phóng tác khoảng từ năm 1450 đến năm 1470, đã quy tụ khoảng 50 câu chuyện kể về nhng cuộc đời tiền kiếp của Đc Phật. Trong câu chuyện Sudhana Jataka, tiền kiếp của một nàng Kinnari có tên là Manora, ly chồng là hoàng tử Sudha, nguyên là tiền kiếp của Đc Phật Thích Ca Mâu Ni trong hình hài của loài chim. Cặp vợ chồng chim đang sống hạnh phúc thì một cơn lũ thần cuốn trôi Sudha đi xa, nàng Manora phải chờ chng đến 7.000 đêm mi gặp lại nhau. Nhiều học giả tin rằng, câu chuyn nàng Manora đưc kể tại các quốc gia Đông Nam Á có thể liên quan phần nào đến câu chuyn Ngưu Lang và Chức Nữ phổ biến trong văn hóa của cộng đồng ngưi Việt. Từ Phật thoại này, nên Kinnari đưc các dân tộc Đông Nam Á xem là biểu tưng cho tình yêu và lòng thy chung son sắt, và cũng là cách lý gii ti sao nữ nhân xinh đẹp này lại xuất hin gần vi Đc Phật.
  1. Kinnari trong điêu khắc

Trong các chùa Khmer ở Nam Bộ, Kinnari đưc trang trí thành nhng dãy dài xung quanh cng chào và chánh điện vi hình dáng của nhng nữ nhân xinh đẹp na ngưi na chim, hai tay trong tư thế giơ cao đỡ ly mái chùa. Ở nhng ngôi chùa cổ,
 
tưng Kinnara đưc to tác bằng gỗ sơn màu sặc s; còn ở các chùa mi xây, tưng Kinnari thưng đưc đổ khuôn bằng xi măng. Nhìn chung, tưng Kinnari trong các ngôi chùa Khmer ở Nam Bộ đều có màu sc sặc s, khuôn mặt thanh thóat, đôi chân đng trên mt cái bệ dính vào tưng, hai tay giơ cao đmái cổng hay chánh điện. Ở các góc chùa có thêm hình tưng Krut (đại bàng Garuda) cũng đưc thể hiện trong tư thế giống như Kinnari. Tại một số ngôi chùa Khmer ở Trà Vinh, chiếc bệ mà Kinnari đng trên đó đưc thể hiện theo hình đài sen, hình vuông nhưng cũng có nơi chiếc bệ là một chiếc đầu ngưi đm máu.

Hình tưng Kinnari vi đôi tay đmái chùa vốn có nguồn gốc từ nghệ thuật Bayon thế kthứ XIII ở Siêm Riệp. Phong cách Bayon thưng thể hiện nhng hàng dài Garuda hay sư tử (Simha) dùng đôi tay đly bệ tháp hay mái tháp. Phong cách này ảnh hưng đến nhiều quốc gia trong khu vc như Thái Lan và vương quốc cổ Champa, nhất là điêu khắc tại tháp Dương Long, tnh Bình Đnh ngày nay. Ngưi Khmer ở Nam Bộ cũng chu ảnh hưng sâu đậm bi nghệ thuật điêu khắc Phật giáo Bayon, nhưng hchỉ thể hiện các Kinnari đỡ mái chùa, chứ không thể hiện các Kinnari đỡ bệ tháp hay nhà chùa. Hình tưng Kinnari và Krut đi chánh điện biểu hin cho thuyết vũ trụ luận của Phật giáo Theravada là ngọn núi Tudi của Đc Phật luôn bay lơ lng trên thiên gii. Ngưi Khmer tin rằng, ngôi đền bay trong không trung là do sc mạnh kinh hồn từ nhng đôi tay và đôi cánh của loài chim thần. Chiếc đầu lâu đm máu mà các nàng Kinnari dm lên ảnh hưng từ yếu tố Phật giáo Mật tông khi diễn tả nữ thần Kali chiến thắng Ma vương Ravana bằng cách đoạn ly chiếc đầu của y. Hình tưng trong các ngôi chùa
223
 
Khmer ở Nam Blại mang ý nghĩa khác là sự chiến thắng của tâm hồn thánh thiện đi vi sự u minh của con ngưi đưc gọi là chiến thắng Mara. Mara trong Phật giáo Theravada đưc mô tả là quỷ vương hay đến quy phá Đức Phật tu hành, nhưng nó không giống như quỷ Satan trong Công giáo. Mara nghĩa là ảo ảnh hay sự u minh của con ngưi, nên hình ng Kinnari dm chân lên Mara là biểu hiện cho cái thiện luôn chiến thắng cái ác trong cách hành xử ca Phật tử khi đến chùa. Một ý nghĩa khác là, Kinnari có mối quan hệ tiền kiếp vi Đc Phật, nên ở cạnh Đc Phật để canh gác cho ngài tu hành, ca hát trong khu rng Himaphan để tăng thêm nim vui cho các linh vật khác như rồng Naga, sư t, thiên nga, voi và khỉ… Kinnari cũng là những thần hộ pháp canh giữ nhà chùa. Họ rất xinh đẹp nhưng cũng rất dũng mãnh tấn công yêu ma theo kiểu của loài chim là chộp ly đầu rồi bay lên cao nếu chúng dám đến quy pnơi tôn nghiêm.
  1. Văn hóa sùng bái Kinnari

Ngưi Khmer ở Nam Bộ xem Kinnari là biu tưng cho nét đẹp thánh thiện, hoàn mỹ và biểu tưng cho tình yêu thy chung trong đi sống hôn nhân. Vì quan nim Kinnari chỉ là nhng linh thần bình thưng trong cõi Tam gii, nên chúng vẫn có đi sống vợ chồng. Các ngôi chùa ở Thái Lan còn thể hiện hình tưng nhng cặp Kinnara và Kinnari cùng đng n cạnh con cái của chúng. Đó cũng là cách giáo dục về hình ảnh gia đình và tình yêu trong hôn nhân dành cho Phật tử khi viếng chùa. Song trong các công trình kiến trúc Phật giáo ở Thái Lan, Kinnari thưng đưc thể hiện bằng nhng pho tưng ln dng trong sân chùa. Cách thể hiện Kinnari vi đôi tay đly mái chùa phần nhiu chỉ xuất hiện ở các ngôi chùa Khmer ở Nam B, nhưng điều khác
 
vi Thái Lan là ngưi Khmer ở Nam Blại không thể hiện các cặp Kinnara và Kinnari cùng vi con cái.

Câu chuyn Sudhana Jataka đưc các nghệ nhân Thái Lan sáng tác thành điệu múa Manorah Buchayan, một trong nhng điệu múa cổ truyền ni tiếng nhất của Thái Lan. Tại miền nam Thái Lan, nó đưc gọi bằng tên khác là Norah. Còn tp chí ca Hãng Hàng không Thái Lan (Thai Airways) ly tên là Kinnari (Kinnaree). Ở Myanmar, loài chim huyền thoi Kinnari đã đi vào đi sống văn hóa tinh thần của cư dân. Giải thưởng học thuật dành cho nhng ngưi có đóng góp to ln cho quốc gia là một pho tưng nhỏ bng vàng hình Kinnari. Ngưi Myanmar tin rằng, kiếp hóa thân thứ tư trong số 136 tiền kiếp động vật của Đc Phật là một Kinnara. Quan điểm này rất giống vi câu chuyện Sudhana Jataka của Thái Lan có ldo giao lưu văn hóa gia vùng Chiang Mai và Myanmar. Lá cờ của bang Kayah ở Myanmar có ba màu xanh, trắng, vàng vi hình Kinnara ở trung tâm. Ngưi Myanmar cũng cho rằng, Kinnari là biểu tưng cho sắc đẹp nữ gii, sự hoàn hảo, thơ văn, nghệ thuật ca hát và nhy múa khác vi quan nim của người Ấn Độ là nhng lĩnh vực này thưng đặt dưi quyền cai quản của nữ thần Sarawati. Trong vũ điệu Kinnari, ngưi vũ công thường thể hiện điệu múa klại câu chuyện tình yêu thy chung của đôi chim huyn thoại này. Các động tác thưng thể hiện qua cách uốn lưn của thân thể và sự chuyển đng của đôi tay diễn tả một đôi chim đang đùa nghịch nhau. Trang phục truyn thống của vũ công luôn thể hiện có chiếc đuôi chim phía sau. Các vũ công thưng trình diễn trong các nghi lễ truyền thng cũng như các vũ điệu cổ điển ca bang Shan.
 
  1. Kết lun

Cùng vi nữ thần Mẹ đất Phra Thorni, Kinnari là nhân vật nữ nhân thứ hai xuất hiện trong thần điện Phật giáo Theravada của ngưi Khmer ở Nam Bộ. Nét đẹp lộng ly của nhng nàng Kinnari không biểu tưng cho nhục thể, mà thể hiện cho nét đẹp thánh thiện, quý phái của nhng nữ nhân Phật tử nhưng mang trong lòng tâm hồn thánh thiện và tình yêu thy chung trong hôn nhân gia đình.

Linh vật Kinnari là một phần quan trọng không ththiếu trong các ngôi chùa Khmer ở Nam B. Chúng đóng vai trò quan trọng trong việc xua đuổi tà ma bảo vệ Phật pháp; là biểu tưng cho môi trưng thiên nhiên của khuôn viên nhà chùa (khu rng Himaphan) nơi những loài chim muôn sinh sống. Sự xuất hiện của hình tưng Kinnari trong các ngôi chùa thể hiện cho tình yêu thiên nhiên, quan đim tôn trọng tình yêu của con ngưi và sự sống của muôn loài trong Phật giáo Theravada.

TÀI LIỆU THAM KHO:
  1. Chân Nguyên và Nguyn Tưng Bách (1999), Tđin Pht hc, Nxb. Thun Hóa, Huế.
  2. Châu Đạt Quan (Lê Hương dịch, 1973), Chân Lạp phong thổ ký, Nxb. Nguyên Thiu, Sài Gòn.
  3. Jean Chevalier (1997), Tự điển biểu tượng văn hóa thế gii, Nxb. Đà Nng.
  4. Will Durant (Nguyễn Hiến Lê dch, 2002), Lch sử văn minh Ấn Đ, Văn hóa Thông tin.
  5. E. Fisher Robert (Hunh Ngọc Trảng dch, 2002), Mỹ thuật và kiến trúc Phật giáo, Nxb. Mthuật.
 
  1. Geetesh Sharma (Thích Minh Trí dch, 2012), Những dấu vết văn hóa Ấn Đtại Việt Nam, Văn hóa Nghthuật Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Lê Hương (1974), Người Việt gốc Miên, Nxb. Thanh niên, Sài Gòn.
  3. Lê Hương (1974), Sử liệu Phù Nam, Nxb. Thanh niên, Sài Gòn.
  4. Lương Duy Thchủ biên (1996), Đại cương văn hóa Phương Đông, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
  5. Pamela York Taylor (1994). Beasts, Birds, and Blossoms in Thai Art, Oxford University Press.
  6. Phan Anh Tú (2004), “Truyền thuyết về rắn Naga trong văn hóa Khmer, Tạp chí Dân tộc và Thời đi, số 71, tháng 10, tr. 02 - 04.
  7. Phan Anh Tú (2005), “Hình tưng rắn Naga trong văn hóa Ấn Độ giáo”, Tạp chí Dân tộc và Thời đại, số 80 (2), tháng 7, tr. 13 - 16.
  8. Phan Anh Tú (2005), “Nghthut điêu khắc cổ Đông Dương, Tạp chí Xưa & Nay, số 238, tháng 06, tr. 55 - 60.
  9. Phan Anh Tú (2006), “Quan hệ gia sử thi Phả Đeng Nang Ay và truyn thuyết Pháya khăn khác (chúa Cóc) vi lễ hội Bun Băng Phay của ngưi Lào”, trong Kyếu Hội thảo văn học Lào, Trưng Đại học Khoa hc Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr 36 - 42.
  10. Phan Anh Tú (2013), “Điêu khắc Hộ thế Bát phương thiên (Dikpalaka) từ Ấn Độ đến Đông Nam Á, Tạp chí Khoa học Xã hội, số 10 (180).
  11. Reid Anthony (Ngô Bắc dch, 2008), Các vùng đất bên dưới luồng gió thổi, website: Gio O. org.
 
  1. Tanistha Dansilp and Michael Freeman (2000), Things Thai Craft and Collectibles, Asia Books
  2. Trần Kỳ Phương (2001), “Phù điêu Hộ thế bát phương thiên của đế chóp tháp Vân Trạch Hòa và hình tượng Hộ thế bát phương thiên trong điêu khắc Champa”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, số 3 (33), tr. 84 - 98, Sở Khoa học Công nghệ và i trưng tỉnh Thừa Thiên - Huế.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây