18. PHÁP MÔN NIỆM PHẬT TRONG PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY VÀ NHỮNG CÂU CHUYỆN THÚ VỊ LIÊN QUAN

Thứ bảy - 08/09/2018 13:02
PHÁP MÔN NIỆM PHẬT TRONG PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY VÀ NHỮNG CÂU CHUYỆN THÚ VỊ LIÊN QUAN của HT. Thích Giác Toàn*
Vi chủ đề trên, chúng tôi nhn thy có hai từ cần làm rõ: Nim và Phật. Nim (sati) ở đây cn đưc hiu theo nghĩa truyền thống là nhớ nghĩ đến hay tưởng đến. Nim có nghĩa là nhớ lại, nhớ nghĩ ti, nhớ rõ không quên; cũng có nghĩa là sự tỉnh táo, sự có mt của ý thc, sự duy trì ý thc về mt đối tượng. Niệm còn có nghĩa là nguồn năng lưng giúp ta ý thc đưc những gì đang xy ra trong giây phút hiện ti trong thân, tâm ta và trong hoàn
cảnh(1). Động từ nim Phật do vy ít khi có ý nghĩa liên quan đến
việc phát ra âm thanh hay đi kèm vi âm thanh như dạng niệm Lục tự hồng danh trong hthng Phật giáo Phát triển. Từ Phật trong Phật giáo Nguyên thy thưng đưc mặc nhiên hiu là Đc Phật Thích Ca Mâu Ni, chứ không phải là một vị Phật quá khứ hay tương lai nào khác.

Chúng tôi xin bắt đầu câu chuyện bng pháp môn có ni dung và tính chất ngưc hẳn với pháp môn nim Phật. Đó là Pháp môn Quán Bất tnh, cụ thể là quán tử thi trong hthng Phật giáo Nam truyền. Pháp môn Quán Tử thi đưc Buddhaghosa diễn gii tỉ mỉ trong tác phm Thanh Tịnh Đạo. Trong bản dch của Thích nữ Trí Hải, đề tài Quán Bất tịnh chiếm trọn chương 6, dài 37 trang, cha đng những diễn giải rất chi tiết cho thy những hành giả ngày xưa đã thc sự sử dụng pháp


* Phó Chtịch Hi đồng Trị sự, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Giáo dc Tăng ni Trung ương.
1 Tâm TuH, Danh từ Phật hc thc dụng, Nxb. Tôn go, Hà Nội, 2005, tr. 327- 328.
 
quán này để tu tập, chí ít là đã thực sự quan sát và miêu tli những gì đã quan sát đưc trong quá trình tiêu hoại của một tử thi. Một cách cô đặc nhất, chúng ta có ththy, quá trình tiêu hoại gm 10 giai đoạn đặc trưng bi 10 tưng trạng: tưng phình trương, tưng xanh bm, tưng máu mủ, tưng bị nt ra, tướng bị gm khi, tướng bị rã ri, tướng bị phân tán, tướng bị chy
máu, tướng bị trùng ăn và tướng bộ xương(1). Trong mưi tưng
trạng ở trên, tướng bị gm khi cần hiểu rõ hơn một chút vi những dòng diễn giải như sau: bị chó, bị chồn... ăn chỗ này chỗ kia bằng nhiều cách, gọi là bị gm khi (vikkhayita)(2). Tưng tử thi bị gm khi cần đưc tâm nim: "Tướng thi thể bị gặm khi thật là ghê tm, gtm là tướng thây bị gm khới"(3). Đến đây, chúng tôi sẽ không đi sâu vào pháp quán mà muốn nêu lên điều mà Buddhaghosa cảnh giác nhiều lần trong việc chọn la loại tử thi liên quan đến gii tính(4). Xin trích một chút nguyên văn: "Ngay cả khi thi thể đang tàn tạ, một phụ nữ cũng xâm nhp tâm người đàn ông và ở mãi tại đy"(5). Như vy, trong pháp quán này, sc thân người khác phái dù đã chết cũng không thể làm đối tưng để quán. Điều thú vị đối với chúng tôi là cách nhìn của Nhất thiết hu bộ. Ngưc lại, sắc thân của Như Lai sau khi xả báo an tưng hay vô dư Niết Bàn cũng không thể dùng để làm đối tượng để quán chiếu. Vì sao? Sc thân của Đc Pht dù đã thị tch cũng không thể nào làm khi lên cm giác chán chê nơi người chiêm ngưỡng bi vì sc thân của Đc Phật là hoàn hảo. Theo Nht thiết hu b, sc thân của Đức Phật là siêu tuyệt trong


 
  1. Buddhaghosa (Thích nTrí Hải dch), Thanh Tnh Đạo, Nxb. Tôn go, Hà Ni, 2001, tr. 289.
  2. Buddhaghosa (Thích nTrí Hải dch), Thanh Tnh Đạo, sđd, tr. 290.
  3. Buddhaghosa (Thích nTrí Hải dch), Thanh Tnh Đạo, sđd, tr. 315.
  4. Buddhaghosa (Thích nTrí Hải dch), Thanh Tnh Đạo, sđd, tr. 293, 301, 319.
  5. Buddhaghosa (Thích nTrí Hải dch), Thanh Tnh Đạo, sđd, tr. 302.
 
tất cả phương diện vi tất cả tính chất thanh tnh, tinh tế, trong sáng, chói ngi. Ngay cả những vết thương nho nhỏ do Đề bà đạt đa xô đá chm phải cũng lành ln tc thi và không đlại vết sẹo nào.

Chính vì tính chất thanh tnh, tinh tế, trong sáng, chói ngi nơi thân thể của Đc Phật, mà Ngài có thể làm đối tượng cho mt pháp tu khác. Đó là pháp môn Nim Phật. Từ Nim Phật có ý nghĩa như chúng tôi đã xác lập ngay từ ban đầu. Nim trong trường hợp này có nghĩa là nhớ nghĩ đến hay tưởng đến, nhớ lại, nhớ rõ không quên; cũng có nghĩa là stnh táo, sự có mt của ý thc, sự duy trì ý thc về một đối tượng. Pháp môn Niệm Phật Thanh Tnh Đạo gi là Tùy Nim và đưc ging gii:

Mt thiền giả có nim tin tuyệt đi, trước hết mun tu tập tùy nim về Đấng Giác Ngộ, thì nên độc cư tại một trú xứ thích hp và tưởng nim đc tính đặc biệt của Đấng Giác Ngộ như sau: "Đc Thế Tôn là bậc A La Hán Chánh Đẳng giác, đy đủ minh và hạnh, Đng Thiện thệ, Đng Hiu rõ thế gian, bậc Vô thượng đạo sư điều phục những người đáng điều phục, bậc Thy của chư Thiên và loài người, Phật, Thế Tôn. Tóm lại, đó là nim tưng về mưi đc hiu hay mười phm tính của bậc Đạo sư."

Dưi đây, chúng tôi căn cứ trên Thanh Tnh Đạo tóm tắt 10 phm tính:

 
    1. A La Hán: Tác phm Thanh Tnh Đạo chép lại chi tiết và hàn lâm về vị A La Hán như là một phm tính đầu tiên của Đc Phật, chúng tôi chỉ nêu vài câu kệ tóm kết mà thôi:

Các căm xe sanh tử
Bị phá bằng gươm tu
 
Do vy Đng cu thế Đưc gọi A La Hán Bậc thánh xa uế nhim
Chiến thng giặc não phiền Các căm xe phá hy
Xng đáng đưc cúng dưng Không ác hành bí mt:
Vì năm lý do này Ngài có thể tuyên bố Thành bậc A La Hán.

 
    1. Chánh Đẳng Giác: Chánh đẳng giác là tự biết mọi sự vật mt cách chơn chánh. Bậc đạo sư thắng tri các pháp cần phải thắng tri, tc là thắng tri bốn chân lý; liễu tri các pháp cần liễu tri, tc là liễu tri Khổ đế; đoạn tận các pháp cần phải đoạn tận, tc là đoạn tn Tập đế; chng đắc các pháp cần phải chng đắc, tc là chng đắc Diệt đế; và tu tập các pháp cần phải tu tập, tc là tu tập Đạo đế. Ở một phương diện tu tập khác, bậc đạo sư tự mình tìm ra mỗi một pháp một cách chính xác theo tng bưc mt như sau: Con mt là chân lý về khổ; khát ái đi trưc phát sinh ra nó, là chân lý vstập khi của khổ; sự không sinh khi cả hai pháp y là chân lý về Diệt kh; và con đường hay sự hiểu rõ Dit là chân lý về Đạo diệt khổ. Đối vi tai, mũi, lưi, thân, ý cũng thế. Trong mối liên quan với giáo lý i hai Nhân duyên thì Già chết là chân lý về Khổ; Sanh là chân lý về Tp; Gii thóat cả hai là chân lý về Diệt kh; và con đường hay sự hiểu rõ Dit là chân lý về Đạo diệt khổ.
 
    1. Minh Hạnh Túc: Kinh điển truyền thống cho chúng ta biết có 3 loại minh và 8 loại minh. Ba loại minh được miêu tả chi
 
tiết trong Kinh Sợ hãi và Khiếp đảm thuộc Trung Bộ gm Túc mnh minh, Thiên nhãn minh và Lậu tận minh(1). Tám loại minh theo cách dụng ngữ của Thanh Tnh Đạo gm "sáu thắng trí vi tuệ giác và thn thông của thân ý sanh"(2). Hạnh ở đây gm 15 điều: phòng hộ bằng gii; gìn giữ các căn môn, biết va đủ trong ăn uống; chánh nim tnh giác; tín; tàm; quý; đa văn; tấn; nim; tuệ; và 4 thiền sắc gii. Đc Thế Tôn đy đủ 3 loại hay 8 loại minh và 15 loại hnh này nên gọi là đấng đy đủ minh hạnh, Minh Hạnh Túc.
 
    1. Thiện Thệ: Thiện Thệ đưc phân thành 4 phương diện:
(1) Đi mt cách tốt đẹp: đi trên chánh đạo, tốt đẹp, thanh tnh, an ổn, không vưng mắc, không lỗi lm. (2) Đi đến một nơi tốt đẹp, nơi đó chính là Niết Bàn bất t. (3) Đi một cách đúng pháp: tc là không quay trli hưởng thụ những cấu uế đã từ bỏ ở mỗi chặng đường. Một giải thích khác cho rằng, đi một cách đúng pháp ở đây được tính từ thi Đc Phật Thích Ca nhận đưc sự thọ ký dưi chân Đức Phật Nhiên Đăng cho đến khi giác ngộ hoàn toàn, Ngài luôn luôn hành động vì li lc và hạnh phúc cho hu tình, đạt đưc đy đủ 32 tướng tốt, và không rơi vào hai cc đoan nào cả. Và (4) tuyên bmột cách chính đáng, chỉ nói lên những li thích đáng ti nơi thích đáng.
 
    1. Thế Gian Gii: Thế Gian Giải có nghĩa là hiểu rõ thế gian: đặc tính riêng bit của nó, sự sinh khi của nó, sự chấm dt của nó. Đáng chú ý là cách giải thích tinh tế và khúc chiết như sau: "Hành giả, có một chỗ tn cùng thế giới ở đây ngưi ta không sanh, không già, không chết, không tái sinh, có thể đưc
 
  1. Trung bộ kinh tập 1,Thích Minh Châu dch và chú thích, Tu thư Đại hc Vn Hạnh, 1973, tr. 22-2 3
  2. Buddhaghosa (Thích nữ Trí Hải dch), Thanh Tnh Đạo, sđd, tr. 340.
 
biết hay thy hay đi đến bằng du lch - điều ấy ta không tuyên bố. Tuy nhiên ta cũng không nói rằng có sự chấm dt khổ mà không cần đi đến tn cùng thế giới. Đúng hơn trong cái thân xác nhỏ bé này, vi các tưởng các thc của nó, mà ta công bố có thế giới, sự sinh khi của thế giới, sự chấm dt của thế giới, và con đường đưa đến sự chm dt của thế giới."

Thế gian giải cũng có thể đưc hiểu là biết thói quen của tất cả hữu tình, biết những khuynh hưng ni tâm của chúng, biết tánh tình của chúng, biết sở thích của chúng, biết rõ chúng có ít bụi trong con mắt, kẻ li căn, độn căn, thiện hạnh ác hnh, dễ dy, khó dạy, có khả năng chng đắc, và không có khả năng chng đắc...

6,7. Vô Thưng Sĩ Điu Ngự Trượng Phu: Vô Thưng Sĩ nghĩa là không có người nào cao cả hơn, không có ai sánh bằng về giới, đnh, tuệ, giải thóat và giải thóat tri kiến. Kinh Tương Ưng Bộ có đon:

“II. Cung Kính.

 
    1. Như vy tôi nghe.

Mt thi Thế Tôn ở tại Uruvelà trên bng Neranjarà, dưi gốc cây Ajapàla Nigrodha, khi Ngài mi thành đạo.
 
    1. Và Thế Tôn trong khi Thin tnh độc cư, tư tưng sau đây đưc khi lên: "Thật là khó khăn, sng không có cung kính, không có vâng li. Vy Ta hãy cung kính, tôn trọng và sng y chỉ vào mt Sa-môn hay Bà-la-môn".
 
    1. Rồi Thế Tôn, suy nghĩ: "Vi mục đích làm cho đy đủ gii uẩn chưa đưc đy đủ, Ta hãy cung kính, tôn trọng và sống y chỉ vào một Sa-môn hay Bà-la-môn khác. Nhưng Ta không
 
thy mt chỗ nào trong thế giới chư Thiên, Ác ma và Phạm thiên, gia các Sa-môn, gia quần chúng loài Tri hay loài Ngưi, không có một vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác,vi gii uẩn cụ túc, tốt đẹp hơn Ta mà Ta có thể cung kính, tôn trng và sống y ch".
 
    1. "Vi mục đích làm cho đy đủ đnh uẩn chưa đưc đy đủ, Ta hãy cung kính, tôn trọng và sống y chỉ vào một Sa-môn hay Bà-la-n khác...".
 
    1. "Vi mục đích làm cho đy đtuệ un chưa đưc đy đủ...".
 
    1. "Vi mục đích làm cho đy đủ giải thóat uẩn chưa đưc đy đủ...".
 
    1. "Vi mục đích làm cho đy đủ giải thóat tri kiến uẩn chưa đưc đy đủ, Ta hãy cung kính, tôn trng và sống y chỉ vào mt Sa-môn hay Bà-la-môn khác. Nhưng Ta không thy một chỗ nào trong thế gii chư Thiên, Ác ma và Phạm thiên, gia quần chúng Sa-môn và Bà-la-môn, gia loài Tri hay loài Ngưi, không có một vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác, vi giải thóat tri kiến uẩn tốt đẹp hơn Ta mà Ta có thể cung kính, tôn trọng và sống y ch".
 
    1. "Vi pháp này, Ta đã chánh đẳng giác, Ta hãy cung kính, tôn trọng và sống y chỉ pháp này(1).

Về ý nghĩa của Điều Ngự Trưng Phu đưc giải thích như sau: Ngài dẫn đo những con người đáng đưc dẫn đạo, uốn nn (nhng người y), làm cho thuần thc (nhng người y).


1 Kinh Tương Ưng B, Tập 1, Hòa thưng Thích Minh Châu dch, Viện Nghiên cu Phật hc Việt Nam n hành 1993, tr. 306 - 307.
 
  1. Thiên Nhân Sư: Thiên Nhân Sư đưc hiểu là Thầy của Tri và Người. Tác phẩm Niddesa nói rằng, Đc Thế Tôn như là bậc dẫn đạo đoàn lữ hành, đưa chúng qua sa mạc sanh tử đy những kẻ cưp, không thc ăn, không nước uống. Đc Thế Tôn giúp cho chúng vưt qua mt cách thích hp để đến nơi an ổn. Có nơi chép lại rằng, Đc Phật không chỉ giáo hóa Tri và Người mà còn giáo hóa cả súc sanh. Chuyện tích kể rằng, có một con cóc đang nghe Thế Tôn thuyết ging, một kẻ chăn bò vô ý đè chiếc gy lên đầu con cóc và nghiền nát nó. Chết đi, cóc liền đưc tái sinh vào một cung đin vàng son thuộc cõi tri 33. Nó thy mình ở đy như thể va tnh thc sau một giấc ngủ, chung quanh là các vị tiên n. Nó đã là một vị thiên và thốt lên: "Ta đã đưc tái sinh ở đây. Ta đã làm nghiệp gì?" Nó nhận ra đầu đuôi câu chuyn nên đi đến Thế Tôn vi dung nghi chói sáng và đảnh lễ dưi chân Ngài. Thế Tôn mặc dù đã biết những vẫn hỏi:

Ai đảnh lễ dưi chân ta đy? Mà chói sáng quang minh của sthành công
Chiếu khắp chung quanh vi vẽ đẹp cc kmlệ? Con cóc trả li:
Đi trước con là một con cóc Ly nưc ao tù làm nhà ở
Chiếc gy mục tử chm dt mạng căn
Trong lúc con lắng nghe diu pháp của Ngài.

Đc Thế Tôn bèn ging pháp cho nó. Tám vạn bốn ngàn chúng sinh nhân đó đưc ngộ nhp Phật pháp. Khi vị thiên tử nhập trong Dự lưu quả, vị y mm cưi và biến mt.
 
  1. Phật: Phật vi ý nghĩa là Đấng giác ngộ, mi sự có thể biết thì Ngài đều biết. Tác phm Niddesa nói rằng, vì tìm ra chân lý nên Ngài là Đấng giác ngộ, vì hay đánh thc chúng sanh nên Ngài là Đng giác ngộ.
 
  1. Thế Tôn: Trong nhng phm tính thể hiện qua đức hiệu đã đưc diễn giải trên thì phm tính Thế Tôn mặc dù là đưc xếp ở cuối bng liệt kê nhưng lại đưc din giải nhiều nht. Thanh Tịnh Đạo đã dành gần 10 trang để diễn giải đc hiệu này. Chúng i xin đưc nêu một tóm tắt có sẵn trong Thanh Tnh Đạo như sau:

Đấng đo sư có phúc lạc; Ngài là người thưng lui ti, người sở hu những gì đã đưc phân tích; Ngài đã tạo ra stừ bỏ; Ngài là người may mắn; Ngài đã phát triển toàn vn trong nhiều cách; Ngài đã đi đến tn cùng của các hu; nên Ngài đưc gọi là Thế Tôn.

Pháp môn Nim Phật trong kinh tạng truyn thống qua sự diễn gii của Buddhaghosa có thể đưc kết luận bằng li khuyến tấn và khích lệ rằng một người chú tâm đến vic tưởng nim Đấng Giác Ngộ thì sẽ đạt đưc sự viên mãn của đc tin, của chánh nim, trí tuệ và công đc. Vy có nhiều hạnh phúc và an lạc, chinh phục đưc sự sợ hãi. Vy có cảm giác như mình đang sống một cuộc sng có Đấng đạo sư. Thân xác vy khi trú trong pháp Nim Pht theo nghĩa tưng nim những phẩm tính của Phật thì trở thành một dng của ngôi điện thờ Phật. Khi có nguy cơ phm gii, vị y cm thy tàm qmnh mẽ và sc mnh trì gii gia tăng để vưt qua him nạn.

Người thc sự có trí
 
Thì thưng xuyên tưng nim Phm đc của Thế Tôn
Đấng an lạc vĩ đại.

Nhng người con Phật thường chiêm ngưng sắc thân của Phật như là một hội tụ chuẩn mc của sự hoàn hảo và có vô số những câu chuyện nói rằng chỉ cần nhìn thy gương mặt thanh thản trn lành của Ngài, chúng hu tình, cả chư thiên và loài người, đã đưc cm hóa. Sc cm hóa mạnh mẽ này không chỉ có khi Phật còn tại thế mà còn đưc ẩn cha trong những pho tưng đưc khéo to tác và xây dng, những pho tưng phản ánh đưc những phẩm tính của Ngài và có năng lc khơi dậy nơi người chiêm bái lòng kính ngưỡng sâu xa. Có nim tin tưng rằng dù chính là kim thân của Đc Pht hiện tiền hay đơn thuần chỉ là một pho tưng khéo tạc đều có thể to ra những hiệu quả tương tự nơi người chiêm bái. Nói cách khác, về phương diện tạo nên lòng kính ngưng thì một pho tưng giả làm bằng vật liu thế gian có thể thay thế tốt thân tưng tht của Đc Thế Tôn. Nói một cách cẩn thận, pho tưng giả đó dĩ nhiên là phải đưc khéo tạc.

Khẳng đnh điều này mt cách tốt nhất có lẽ là câu chuyn của ngài Upagupta. Chúng tôi xin dng câu chuyện sau đây để kết thúc bài viết của mình. Cuộc đi của Upagupta là cmột câu chuyện ly kỳ và khá dài vi nhiều giai thoi khác nhau và nhiều tình tiết hấp dẫn nhưng ở đây, chúng tôi đành phải gạn bỏ hầu hết những giai thoại khác mà chỉ gilại mt giai thoại nói về cuộc đi đầu gia Upagupta và Ma vương. Chúng ta có thtưng tưng cuộc chiến đấu để phân đnh ai thắng ai, trong đó chắc chn rằng, Ma vương chưa bao giờ nhân nhượng và cũng s
 
không bao giờ nhân nhưng. Rất có thể, Upagupta gặp rất nhiều khó khăn và khốn khổ vì Ma vương lần này đã có nhiều kinh nghim chiến đấu do kinh qua nhiều chiến trưng hơn, rút ta đưc nhiu những bài học trong những lần chiến tranh trước kia, nhất là trong lần chống lại Thái tử Tất Đạt Đa ở làng Ưu lâu tần loa bên dòng Ni Liên thuở xưa. Ngôn ngữ chiến tranh ngày nay có thể gọi cuộc đối đầu gia Upagupta vi Ma vương là một cuộc chiến tranh tng lc và toàn din vi một kẻ thù khôn ngoan và đy kinh nghim. Dẫu sao thì câu chuyện đã kết thúc có hậu. Sau khi bthất bại, Ma vương xin quy y Tam bảo nguyn làm đồ đệ của Upagupta. Câu chuyện chưa chm dt vi chiến thắng vẻ vang của Upagupta vì tuy là bậc giải thóat vô lậu nhưng Upagupta vẫn có một nỗi khao khát của một hành giả cách Pht lâu xa chưa tng biết qua gương mặt tht của Đấng đạo sư Thích Ca Mâu Ni. Upagupta lại biết rằng, người đtử Ma vương của mình đã tng đưc tự thân giáp mặt vi Đấng Từ phụ Thích Ca và một điều na là khả năng biến hình của Ma vương đạt đến trình độ tuyệt vi hay trên cả tuyt vi. Vì vy, mặc dù là thy, Upagupta vẫn yêu cầu vị tân đệ tử đy thần biến hãy tái hiện thân tưng của đức bn sư để có dp chiêm bái và thỏa lòng kính ngưng. Ma vương đng ý biến hình nhưng trưc khi biến hình Ma vương yêu cầu tân sư phụ không đưc đảnh lễ khi thấy kim thân vinh quang của Đấng Từ phụ do Ma vương thần biến mà có ra. Vi tư cách là ông thy, Upagupta tự tin bảo đệ tử rằng: "Chắc chn, ta đảnh lễ ngươi là một sự tình không thể xy ra." Đùng mt cái, trưc mặt Upagupta, Đc Thích Ca hiện ra rạng rỡ chói ngi, dung nghi đĩnh đạc, uy tưng khoan thai, pháp âm hùng lc, vầng hào quang bao phủ khắp không gian. Upagupta trong mt nim bất giác đang sụp quỳ xuống thì giọng nói của

Mara vang lên, nhắc li li Upagupta va mi ha: "Chắc chn, ta đảnh lễ ngươi là mt sự tình không thể xy ra." Upagupta sc tnh, sa thẳng ngưi vì nhận ra toàn thân vinh quang của Đấng đạo sư là giả, đó chẳng qua là Ma vương biến hình hóa hiện nên có ra mà thôi. Chuyn tích Upagupta thu phc Ma vương đã kết thúc có hậu như vy.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây