17. TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER TRONG TÁC PHẨM MILINDA-PANHA

Thứ bảy - 08/09/2018 12:59
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER TRONG TÁC PHẨM MILINDA-PANHA của PGS.TS. Hoàng Thị Thơ*
 
Milinda-panha một tác phm triết học Phật giáo nổi tiếng thuộc văn hệ Pali, là kinh điển không ththiếu khi nghiên cu và giảng dy về triết học Phật giáo và Pht học nói chung, cũng như về Phật giáo Nam tông và Nam tông Khmer ở Việt Nam nói riêng. Tác phm này là một bộ tư liệu quý giá không chỉ về sử liệu và văn hc Phật giáo Nguyên thy, mà còn đặc biệt về sự bảo vệ và khẳng định tư tưng triết học Phật giáo Nguyên thy. Nhng tư tưng trong tác phm này là suối nguồn tư tưng chân truyền có ý nghĩa lâu bền cho sự phát triển Phật giáo, không chỉ Nam tông mà cả Bắc tông. Đó là cơ sở để đánh giá hầu hết các tông phái, nhất là các tông phái mi trong bi cảnh hiện đại, để xem chúng có thc là Phật giáo không, hay chỉ là ngoài Phật giáo.

Hôm nay, c phẩm Milinda-panha đang đưc các giảng sư truyền dy tại Học vin Phật giáo Nam tông Khmer tại Thành phố Cần Thơ, trc tiếp bng tiếng Khmer và tiếng Pali, và ở cấp đại học dành cho tăng sinh còn giảng thêm bằng tiếng Việt(1). Phật giáo Nam tông Khmer ở Vit Nam đang góp phần tích cc gìn giữ ý nga cn truyền ca tư tưng triết hc Pht go Nguyên thy qua ng c truyền , ging dy c phẩm ni tiếng
này.

Milinda-panha xuất hiện vào giai đon cuối thi kỳ phân chia bộ phái, tc khoảng đầu Công nguyên. Lúc đó, Phật giáo đã


* Viện Triết hc, Viện Hàn lâm Khoa hc xã hi Việt Nam.
1 Thông tin từ Thưng ta Danh Lung và nhà nghiên cứu Nguyn Đại Đng.
 
trải qua bốn lần kết tập kinh điển và đã tương đối hoàn thiện Tam tạng kinh (Tripitaka, gm Kinh, Luật và Luận). Milinda- panha thuộc về Luận tạng. Tác phm này đã được dch ra rất nhiều thứ tiếng, hiện chưa có thống kê chính xác. Ở Việt Nam có ít nhất 5 bản dch vi nhng tiêu đề khác nhau: Na-Tiên Tỳ kheo kinh (1941), Đoàn Trung Còn dch, Nxb. Đc Lưu Phương, Sài Gòn; Na-Tiên Tỳ kheo kinh (1996), Cao Hữu Đnh dch, Nxb. Thuận Hóa, Huế; Kinh Tỳ kheo Na-Tiên (2007), Đoàn Trung Còn và Nguyn Minh Tiến dch và chú giải, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội; Mi Tiên vấn đáp (2009), Gii Nghiêm (Thitasilamahathera) dch, Nxb. Phương Đông, Thành phố Hồ Chí Minh; Vua Milinda vấn đạo một bn thâu gọn cuốn Milinda-panha (2010), Liu Pháp dch, Nxb. Tôn giáo, Hà Ni.

Bản gốc Milinda-panha đưc cho là bng tiếng Saskrit. Nhưng đến nay, ngoài bản Pali ca Phật giáo Sri Lanka và các bản sao từ đó thì không có bản nào khác. Bản tiếng Pali này đưc biên tập năm 1945 trong lần kết tập thứ V và đưc in n trong lần kết tp thứ VI tại Myanmar. Về tác giả của tác phm này thì có nhiu ý kiến khác nhau: Thích Gii Nghiêm cho là Pitakaculabhya; Đoàn Trung Còn lại cho là Btát Long Thọ; các tác giả n Độ trong cuốn 2500 năm Phật giáo lại khẳng đnh là
Nagasena(1). Song ý kiến thuyết phục hơn cả cho rằng, tác phm
này do nhiu ngưi tham gia trong một thi gian dài.

Tư tưng Phật học và triết hc Phật giáo Nguyên thy trong Milinda-panha đưc thể hiện qua nội dung 244 câu hỏi





1 P.V. Bapat (Nguyn Đức Tư, Hữu Song dch, 2002), 2.500 m Pht giáo, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Ni,191; http://en.wikipedia.org/wiki/Milinda_Panha.
 
đáp(1). Các câu hỏi và trả li trong tác phm có thể chia thành 5 loại:

1/ Mendakapanha: Câu hỏi có tính triết hc và Phật học chuyên sâu.
2/ Vimaticcchedanapanha: Câu hỏi nhm ct đt sự nghi ngờ đối vi Pháp.
3/ Anumanapanha: Câu hỏi nhằm xác đnh, khẳng đnh, kết
 
luận.



4/ Lakkhanapanha: Câu hỏi về tính chất, hình tưng, đặc
 
tính của Pháp.
5/ Upamapanha: Câu hỏi bằng lối ví dụ, so sánh…(2)

Đây là cuộc vấn đáp gay cấn song đy trí tuệ uyên áo gia hai học giả, một đại diện cho Bà La Môn giáo, một đại diện cho Phật giáo (Nguyên thy), mà kết quả là Tkheo Na-Tiên hoàn thành nhim vụ bảo vệ Phật giáo, thuyết phục đưc đc vua Milinda cải đạo từ Bà La Môn giáo sang Pht giáo(3). Trưc khi đánh giá chung vMilinda-panha, bài viết y sẽ phân tích và làm rõ một số nội dung tư tưng triết hc căn bản ca Phật giáo Nguyên thy trong mt số tác phẩm như: Vũ trụ luận, Tri thức luận, Nhân sinh luận, Giải thóat luận.

- Vũ trlun trong Milinda-panha chính là thuyết Duyên khi(4). Thuyết này phủ định c quan niệm duy tâm thn bí ca Bà La Môn giáo về Đấng ng To tn năng Đại n(Brahman),

 
  1.  
  1. 244 câu hi đáp nm trong Phần 2 ca Milinda-panha. Tham khảo bản tiếng Việt: Mi-Tiên vn đáp (Giới Nghiêm dch, 2009), Nxb. Phương Đông, Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 88-860.
  2. Xem Mi-Tiên vn đáp, sđd, tr. 21.
  3. Tham khảo Phn 3 ca My-Tiên vấn đáp, sđd, tr. 861-865.
  4. Kimura Taiken (Thích Qung Độ dch, 1969), Tiểu tha Phật Giáo tư tưng luận, Tập I, Thành hi Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 125.
 
mà khng định thế gii này đưc to nên bi vô n nhân duyên, vô thy vô chung. Theo đó, bản chất thc ca thế gii là Không. Không không có nghĩa là trống không, mà là do vạn vật luôn trong quan hệ trùng trùng Duyên khi, nên chúng không có một thuộc tính hay svật riêng biệt, bất biến. Các quan hệ đó chỉ có tính tương đối, nht thi (vô thường) do các yếu ttm thi tạo nên. Chúng giống như các hiện tưng: Không về bản chất tối hậu, song là Có về hiện tưng một cách tương đối và tạm thi. Milinda-panha khẳng đnh, quan hệ Có - Không là quan hệ tương đối, do duyên khi mà có, cũng do duyên khởi mà diệt:

“Do cái này có mặt nên cái kia có mặt.
Do cái này không có mặt n i kia không có mt. Do cái này sinh nên cái kia sinh.
Do cái này diệt nên cái kia dit(1).

Bi vy, bn cht Kng là bt biến, thưng hng nhưng n đằng sau (hoặc siêu vưt) mi Có - Không, mọi cp đôi nhphân” theo quan niệm tư duy thông thưng. Ngay trong cuộc đối thoại đầu tiên về “Tên gọi chỉ là giả danh” ở phần đầu của Milinda-panha, tính Không, và Vô ngã đã đưc giải thích khá cặn kẽ theo nguyên lý duyên khi qua các mi quan hbiện chng. Nhng tranh luận đối đáp giữa vua Milinda và Tỳ kheo Na-Tiên về tên gọi là sự minh họa sinh đng cho tư tưởng bin chng sâu sắc của thuyết duyên khi, từ đó thuyết minh cho tư tưng tính Không, Vô thưng, Vô ngã của triết học Phật giáo
Nguyên thy một cách thuyết phc(2). Cuộc đối thoại vi nhng

 
  1. Đại tạng Kinh Việt Nam (1999), Kinh tiểu bộ, tập 1, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 291.
  2. Trích đon: Bạch đại đức, ngài tên gì? Tâu đại vương! Bần tăng tên là Na-tiên! Thầy t, huynh đệ, pháp hu ca bần tăng cũng gi tên bn tăng như thế. Còn cha
 
câu hỏi loại Mendakapanha đã dẫn dắt ngưi đọc ti chỗ hiểu đưc rằng, bản cht ca vạn vật là Không, bi vì chúng chỉ là sự kết hp một cách tương đối của một số bộ phận hợp lại trong vô số điều kiện nhất đnh mà thành, từ đó hiểu đưc tính tương đối của “danh” (ngôn ng) chỉ là “giả danh” (ảo).

Qua Milinda-panha, vấn đề cấu trúc vũ trđưc bóc tách, phân tích qua các cặp phm trù (chung - riêng, bản chất - hiện tưng, danh - thc, bộ phận - toàn th), chúng phản ánh trình độ thuyết ging về bản thluận của Phật giáo Nguyên thy rất sâu sắc và độc đáo, song cũng rất sinh động và dễ hiểu.

Từ đây ta thy, lý luận về pháp Không và ý nghĩa Vô ngôn mà Vô Trưc, Thế Thân và Long Thọ sau y phát triển thành nội dung tư tưng Đại tha, thc ra đã đưc phân tích và vận dụng khá thú vị trong đối thoại gia Tỳ kheo Na Tiên vi vua Milinda:

“Khi nghe hỏi, Na Tiên mn cưi đáp:
    • Tâu đại vương, ngài cứ hỏi, bần tăng sẽ nghe.
    • Bạch đại đc, trm hi rồi, ngài hãy nghe đi.
    • Tâu đại vương, bần ng nghe ri, ngài hãy nói đi.
    • Bạch đại đc, trm hi rồi.
    • Tâu đại vương, bần ng đáp ri.
    • Ngài đáp như thế nào?
    • Đại vương hỏi như thế nào?(1).


mbần tăng không nhng gi tên bần tăng là Na-tiên, mà đôi khi kêu là Vanasena, Surasena hoặc Sihasena! Tuy nhiên, dù gọi tên gì đi nữa thì nó cũng chỉ là cái tên, cái tên suông, chng liên hệ gì đến bn tăng cả. Cái tên y chđphân biệt giữa người này với ngưi kia thôi, thế thôi, chng có cái gì là tôi” là ca tôi” như ngã chấp và tà kiến thế gian thưng nhận nhm, tâu đại vương được rõ!. Xem Mi-Tiên vn đáp, sđd, tr. 90.
 
Chủ đề Vô ngã đã đưc khẳng đnh bi Phật giáo Nguyên thy, nhưng câu hỏi Vô pháp hay Hu pháp đến giai đoạn bộ phái mi đưc hệ thng và phản ánh khá rõ trong tác phm Milinda-panha. Mt số bộ phái cho rằng, “Ngã không, Pháp hu”, số khác li cho rằng “Ngã Pháp hằng hu”, nhưng tư tưng về “Ngã, Pháp câu không” đã manh nha khi luận chng về Pháp không. Milinda-panha đã phân tích sai lầm của tư duy ngã kiến, minh họa bằng ý kiến của đc vua Milinda vsự đồng nhất và khác biệt gia bn chất vi hiện tưng. Về sau, quan nim “Ngã, Pháp câu không” đã được Long Thtriển khai thành phương pháp Trung quán trong Trung Quán luận nổi tiếng vi ý nghĩa bn thể luận, nhn thc luận rất quan trọng đối vi sự phát triển của Phật giáo Đại tha. Đây là cách lập luận làm rõ li (hay by) chấp vào hình tướng, ngôn ng, kinh nghiệm ca nhận thc thông thưng.

Vũ trụ quan của Milinda-panha tiến bộ hơn so vi tư tưng Bà La Môn giáo đương thi, khi quan nim thế gii này không phải do một lc lưng siêu nhiên nào đó sinh ra, mà vạn vật luôn theo quy luật phát sinh, phát triển và tiêu vong (thành - trụ - hoại
- không) trong không gian và thời gian. Milinda-panha vưt qua quan nim về thi gian (samaya) của Bà La Môn giáo, và khng đnh thi gian là vô thy vô chung và vận động không ngng, tc vô thưng (anitya): “quá khthì vô thy, vlai thì vô chung, hin ti chlà cái chp mt tang ti1. Mọi sự vật, hiện tưng cũng như con ngưi tồn tại trên thế gii hiện hu đều biến đổi theo ba thi: quá kh, hiện tại, vị lai, và chúng quan hệ khăng khít vi nhau, cái này làm tiền đề cho cái kia, nếu mất
 
đi mt thi thì sẽ không còn thời gian na. Không có thi gian ngoài sự vật và cũng không có sự vật tồn tại ngoài thi gian. Đơn vnhnht ca thi gian mà con ngưi có thbiết đưc là Sát-na (ksana). Ti mi Sát-na, svt va là nó va kng n là nó. Như vy, quan đim vthi gian của Pht giáo Nguyên thy có nhng nét gần vi cách nhìn của khoa học hiện đại.

Milinda-panha chia thế gii thành tam gii (Dục gii, Sc gii, và Vô sắc gii) vi nhng đặc đim và chc năng, thành phần khác nhau(1), nơi mà các loài hữu tình diệt vong và tái sinh gắn liền vi tiến trình tu dưng đạo đc của của con ngưi: “Dục gii là cõi mà dục tâm, đặc biệt là tâm ái dục thnh nhất; Sc gii là tâm tuy lòng dục không mnh, nhưng vẫn chưa hoàn toàn thóat ly sự ràng buộc của vật chất(2). Milinda-panha khẳng đnh, hậu quả của Dục gii là bốn đưng ác có thể gặp: “Đa ngục, Ngạ qu, Súc sanh, A-tu-la(3); từ đó mở ra khả năng tự la chọn và thay đổi số mnh của mỗi ngưi bằng tu dưng đạo đc để thóat khi đa ngục khổ đau vươn ti Vô sắc gii.

Theo nh Không và nguyên lý Duyên khi nên tri thc lun và nn sinh lun ca Pht go Nguyên thy cũng rt độc đáo.
- Tri thc luận của Milinda-panha khẳng đnh vô minh(4) là nguồn gc đầu tiên của mọi đau khổ, từ đó sinh ra tham, sân, si ở con ngưi. Mục đích của nhận thc chính là dùng trí tuệ để soi

 
  1. Mi-Tiên vn đáp, sđd. tr. 549.
  2. Kimura Taiken (Thích Qung Độ dch, 1969), Tiểu tha Phật giáo tư tưng luận, Tập I, Thành hi Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 83.
  3. Mi-Tiên vn đáp, sđd, tr. 548.
  4. minh trước hết là không có tri thức vKh, Giải thoát ca Phật go, nhất là không hiu biết gì vtn tại giả, ảo ca con người (ca bn thân), tức là không hiểu vbản chât đích thực ca con người là Vô ngã.
 
chiếu, dập tắt vô minh, để đt ti giải thóat, ti Niết Bàn. Milinda-panha giải thích: “Vô minh là tình trạng bất giác, thiếu tnh thc, thiếu sáng suốt nên khởi tâm vọng động, tạo nên hành và hành chính là ái, thủ, hu quá kh(1). Trước hết, đó là thiếu kiến thc về giáo lý cơ bản của Pht giáo: ... không biết rõ về khổ, không biết rõ về khổ tập, không biết rõ về khổ dit, không biết rõ con đường đưa đến khổ diệt, này các tỳ kheo, đy gọi là vô minh”(2). Phật giáo tha nhận con ngưi có thể nm bắt đưc chân lý, song chia thành hai con đưng và hai trình độ, đó là tư duy hưng ngoại và tư duy hưng ni (Vipassana). Tư duy hưng ngoại chỉ nm bắt đưc chân lý tương đối, còn tư duy hưng nội mi nm bt đưc chân lý tuyt đi(3). Tư duy hưng nội là “... hưng vào trong, tráo lui đtrở về tâm tĩnh lặng đến lúc không còn cm giác về thân na, không còn cm thọ na, cũng không còn tưng na, và mọi hot động của tâm thc đu ngưng nghỉ (vô nim, hay tnh, ch), đưc gi là “nội quán”. Khi đó trc giác bng sáng và nắm bắt trc tiếp (tc là giác ngộ) đưc chân lý tuyệt đối”(4).

Milinda-panha miêu tả con đưng nhận thc vi bưc đầu tiên là cm giác, đến tri giác, kết hp vi tâm lý làm ny sinh ý thc không tách ri vi tâm thc: Xúc là xúc chm vào Trần cảnh, Tư tác là khi ý đến trần cảnh, Thọ là cảm giác, Tưng là tri giác, nhận biết, Tư là tư tác do do tham sân hoặc bất động,


 
  1. Mi-Tiên vn đáp, sđd, tr. 144.
  2. Thích Minh Châu (1982). Tương Ưng BKinh, Tập V, Nxb. Tu thư Phật hc Vn Hạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 432.
  3. Hoàng ThThơ (2005), Lịch sử tư tưng Thiền từ Vê Đa Ấn Đtới Thiền Tông Trung Quc, Nxb. Khoa hc xã hi, Hà Ni, tr. 212.
  4. Hoàng ThThơ (2010), Tư duy hưng ni ca Phật giáo và vai trò ca nó trong tư
 
nhất tâm làm cho các Tâm sở được liên tục, Mạng căn là duy trì mng sng của mt tiến trình tâm”(1).

Thc (vijnana) Tuệ (pajna) là vấn đề thú vị mà Phật giáo Nguyên thy có nhiều đóng góp độc đáo cho nhân loi. Milinda- panha cho biết, Phật giáo quan nim Thc và Tuệ có mi quan hệ mật thiết với nhau nhưng thuộc nhng trình độ khác nhau: Thc vẫn có thể sai lm, vì có thể bị vô minh, ái dục chi phối; Tuệ không còn sai lm, đó là cái thy trong sáng, thanh tnh từ trong giác ngộ và giải thóat(2). Chc năng của chúng cũng khác nhau: Thc có chc năng thứ nhất là nhn thc, chc năng thứ hai là thu thập kinh nghim của lộ trình tâm, ta như “ngưi lính canh cổng thành của đại vương”(3). Tuệ cũng có hai chức năng, “… thứ nhất là cắt lìa, cắt đt, đốn bỏ diệt tận, hy diệt vô minh, chc năng thứ hai là soi sáng, chiếu soi, tự chiếu… hay còn gọi là soi sáng tỏ tưng mọi sự vật hiện tưng, ví như “ngưi cầm cây đèn sáng đi vào căn nhà tối tăm(4). Ở đây, Tuệ còn đưc phân làm hai trình đlà Phàm tuệ và Tuệ xuất thế gian. Phàm tuệ là nhng hiểu biết thông thưng, Tuệ xuất thế gian là có đưc nhpháp xuất thế gian, tc là tu luyện nội quán (vipassana) ở các bậc chân tu như Phật toàn giác, Thanh văn, Duyên giác...(5).



1 Mi-Tiên vn đáp, sđd, tr.155. 2 Mi-Tiên vn đáp, sđd, tr. 248. 3 Mi-Tiên vn đáp, sđd. tr. 164. 4 Mi-Tiên vn đáp, sđd. tr.121.
5 Mt là trí nhphi thưng. Hai là trí nhớ do cất đặt ca cải, tài sản. Ba là trí nhớ các ngày trọng đại hay hnh pc ln. Thứ tư, trí nhdo knim vui. Thứ năm, trí
nhdo từng bkhđau. Thsáu, trí nhdo những hình ảnh quen thuc. By là trí
nhđược tái hin do i v, âm thanh. Tám, trí nhdo được nhắc lại. Chín, trí nhớ do làm dấu, dấu hiệu. Mười, tnhdo nhắc nhnguyên nhân. Mười mt, trí nhdo nhìn mặt chữ. Mười hai, trí nhớ do ghi chép. Mười ba, trí nhớ lâu xa do đắc túc mng minh. Mười bốn, trí nhdo từ kinh sách, sử sách. Mười lăm, trí nhdo nhớ ý
 
Có thi, tri thc luận của Pht giáo trong Milinda-panha góp phần làm sáng tỏ và hệ thống nhiều thut ngữ về nhận thc và tâm lý độc đáo ca Pht giáo i riêng và nhân loi nói chung, mà đến nay nhiu n khoa học hin đại vn đang tiếp tc kiểm chng và thnghiệm khng tư duy của con ngưi, và thy có nhng kết qutrùng vi phát hin ca Pht giáo Nguyên thy. Do vy, Pht giáo không bxếpo ng n giáo thn quyền hay mê n gin đơn, mà ngày nay đang có xu hưng hp dẫn và phổ biến trong gii trí thc trung lưu ở Phương Tây.

- Nhân sinh luận của Phật giáo nhất quán tinh thần Duyên khi (bản thể luận) khi khẳng đnh bản chất con ngưi là Vô ngã. Bi vì, đó chỉ là sự kết hp tm thi của Ngũ uẩn(1), cuộc đi là Vô thưng qua vòng sinh-o-bệnh-tử vi Thập nhị nhân duyên qua nhiều mối tương quan trong Tam thi và Tam gii. “Do vô minh, có hành sinh; do hành, có thc sinh; do thc, có danh sắc sinh; do danh sắc, có lục nhập sinh; do lục nhập, có xúc sinh; do xúc, có thọ sinh; do thọ, có ái sinh; do ái, có thủ sinh; do thủ, có
hu sinh; do hu, có sinh sinh; do sinh, có lão t, sầu bi khổ ưu não sinh hay toàn bộ khổ uẩn sinh. Đây gọi là duyên khi, hay duyên sinh”(2). Do vy, bản chất thc của con người là rng không: Thân hành nó trú trong ngũ un, chính xác là trong sắc uẩn, đi sâu vào toàn bsắc un y, chúng chỉ là rng không”(3). Sng chết là hp tan ca nun, tùy duyên hp tnh là sng,


nghĩa. Mười sáu, trí nhớ do huân tập, thói quen. Mười by, trí nhdo nhờ công hc hành”. Xem Mi-Tiên vấn đáp, sđd, tr. 216.
  1. Ngũ un (Skanhha), gm: Sắc uẩn (Rupaskandha), Thuẩn (Vedànaskandha), Tưởng       un         (Samjnaskandha),   Hành   uẩn    (Samskaraskandha),             Thức  un
(Vijnanaskandha).
  1. Đại Tng Kinh Việt Nam (1991), Kinh tương ưng b, Tp II, Viện Nghiên cứu Phật hc Việt Nam, tr. 1-2.
 
hết duyên ngũ un tan là chết. Nhưng do mê lầm mà con người quá quyến luyến, ưu ái i Ta Ngã. Từ đó ny sinh sự ích k(tham, sân, si)… Sự nhầm ln (vô minh) về hu ngã chính là nguyên nhân ca bao nghiệp khmà loài ngưi không thóat đưc. Quan niệm này hoàn tn trái ngưc vi quan niệm ca c tôn giáo thn quyền trên thế gii, mra nhng hưng tìm kiếm hình thc tu hành, gii thóat độc đáo cho Phật giáo vsau như Thin tông Đại tha và đóng p cho nhân loi mt cách nn tự chvgii thóat và lsng chết.

Nhân sinh quan Phật giáo thể hiện tập trung nhất ở Khổ Đế (Dukkha Ariyasacca), đế thứ nhất trong Tứ Diệu Đế (Ariyasatyani). Milinda-panha khẳng đnh, ai cũng phải tri qua các nỗi khổ và luôn bình đẳng vi nhau về khổ. Đc Phật tổng kết thành 8 loại khcó tính phổ biến: “Ngũ uẩn sanh (khổ sanh); Ngũ uẩn héo mòn tiu ty (khổ già); Ngũ uẩn đau đn, nhc nhối, khó chu (khổ bnh); Ngũ uẩn tàn hoại diệt mất (khổ chết); Ái biệt ly khổ; Cầu bt đắc khổ; Oán tăng hội khổ; Ngũ m xí
thạnh khổ”(1). Song Đc Phật khẳng đnh rằng, càng giác ng
cao, sống thiện thì ít khổ hơn, đó là con đưng khả thi cho tất cả mi ngưi. Đây là mt tổng kết kỳ diệu, siêu vượt thi gian về bản chất cuộc đi con ngưi, cho đến nay chưa có lun thuyết nào vưt qua đưc. Mi ngưi cũng có thtchng nghiệm vKhvà không khi bthuyết phc bi học thuyết này ca Pht giáo. Lun thuyết vKhvà Thóat khbng đạo đc tgiác bình đng, vô thn là một đóng góp đy tính nn n cho nn loi. Hin nay nó đang tỏ ra có nhiu ưu thế khi thách thc thi đi mi li chyếu là về vn đề đo đc cá nhân (nn tâm), vì trình đcao
 
ca cuộc sng vt cht vn không gii quyết đưc vn đề Khổ ca nhân loi, và nhu cu làm chkhvà gii tat nơi con người trở thành chủ đề của triết hc, nn học hin đại.

Nhân quả và Nghip báo là một đóng góp có ý nghĩa của Phật giáo về giải thích vấn đề tất yếu và ngẫu nhiên của đi ngưi, song bằng tiếp cận đạo đc và trí tuệ: Chúng sanh có mt trên đi này, có kđi xung, có kđi lên, kvui, kkh, ktrm luân, ngưi githóat đu do duyên nghip, ngu trí quyết định. Ở đây nhân qunó m vic rt bình đng rt phân minh, chng thiên vai và bquên ai bao giNhân quxy ra ở ba đi quá kh, hin ti, vlai. Quá khlà nhân, hin ti là
qu. Hin ti là nhân, vlai là quả”(1). Nhân quả và Nghip báo
có quan hệ khăng khít vi nhau, quy luật nhân quả chi phối nghiệp, tác động ti nghiệp. “Nghiệp phi đưc hiểu là do hành động đã làm, đã tạo tác từ kiếp trưc gi là nghiệp nhân, kiếp này bị trả gọi là nghip quả. Đnh lut báo ng nhân quy gọi là nghiệp(2). Milinda-panha trin khai quan nim Luân hi qua svn đng tròn ca thp nhnn duyên trong ba thi quá kh, hin ti, vlai. Gii và phương pháp tu tập để thc thi con đưng giải thóat đưc triển khai theo tinh thn tu dưng hưng
nội, vô thần thành Ngũ gii, Thập thiện và Thiền đnh. Gii là nơi vng trú, ny n, tăng trưng của nhng thiện pháp sau; Ngũ căn, Ngũ lc, Thất gc chi, Tứ nim x, Tứ chánh cần, Tứ thần túc, Bốn thiền, Tám pháp giải thóat…(3). Trên quan đim bình đẳng, Gii không dành riêng cho một hng ngưi nào cả. Phật tử “… đều phải ly Gii làm nền tảng, vì đó là phương pháp chung

 
  1. Mi-Tiên vn đáp, sđd, tr. 367-639.
  2. Mi-Tiên vn đáp, sđd, tr. 657.
  3. Mi-Tiên vn đáp, sđd, tr.114.
 
cho một đích thóat(1). Bát chánh đạo, tc Đạo đế, đế thứ tư trong Tứ Diệu Đế, là mô hình tu dưng khả thi … là con đưng đi đến giải thóat, chm dt sinh tử luân hồi(2).

Nhân sinh luận Phật giáo là đóng góp độc đáo về phương pháp và hưng tiếp cn về các loại khổ, nguyên nhân của khổ và con đưng thóat khổ (Khổ, Tập, Diệt, Đạo), mà cho đến nay các khoa học kỹ thuật hin đại nhất cũng chưa vưt qua đưc các tổng kết đó, nói cách khác là chưa tìm ra cách thc để giải quyết nỗi khổ của nhân loại mt cách khả thi hơn.

- Giải thóat luận là mt trong nhng vấn đcó nhiều tranh luận gia các bộ phái Phật giáo vi nhau lúc by gi. Milinda- panha đã tập hp mt cái nhìn thống nhất hơn về Niết Bàn (Nirvana). Khái nim Niết Bàn của Bà La Môn giáo chtrạng thái hòa nhập của linh hồn cá nhân (Atman) vi linh hồn vũ trụ (Brahman), của Tiểu ngã vi Đại ngã. Phật giáo đã đưa thêm nội dung mi mẻ và độc đáo “Niết Bàn chính là diệt, là tnh diệt,
mt trạng thái ngưng nghỉ vắng lng”(3). Tại đây mọi nguyên
nhân của đau khổ đu hết, đều ngưng ngh, vắng lặng, đều diệt, đưc gi là “tch diệt” hay “Niết Bàn là pháp vô vi, xa ri hu vi”(4). Niết Bàn của Pht giáo Nguyên thy rõ ràng không phải là của thần thánh, không cần phi nhờ qua lễ tế các thn linh, mà


 
  1. Bát chính đạo gm: Chính kiến là hiểu biết đúng đắng; Chính tư duy là suy nghĩ chân chính; Chính nghiệp là hành đng chân chính không làm việc giả dối; Chính ngữ là lời nói chân chính trung thực; Chính mnh là sống chân chính, ngay thng, không tham lam, vlợi xa ri nhân nghĩa; Chính tnh tiến là cgng nlực chân chính. Chính nim là suy nghĩ chân chính; Chính đnh là kiên định tập trung tâm tư vào con đưng chân chính không đbất cứ điều gì lay chuyển làm thoái chí, phân tâm.
  2. Mi-Tiên vn đáp, sđd, tr. 498.
  3. Mi-Tiên vn đáp, sđd. tr. 182.
  4. Mi-Tiên vn đáp, sđd. tr. 675-688.
 
đó là kết quả tự tu dưng của mỗi ngưi bằng đạo đc và trí tuệ. Niết Bàn là cơ hội của tất cả mọi ngưi, không phân bit.

Milinda-panha phản ánh cuộc tranh luận về khả năng gii thóat ở các trình độ khác nhau như Cư sĩ, Bồ tát: “Ngưi tại gia… hưng thụ dục lạc một cách đy đủ, thỏa mãn… Còn bậc xuất gia phải cạo bỏ u tóc, mặc nhng thứ vải thô, xấu, lại phải nhum nưc chát cho ố màu đi. Họ phải thọ trì nghiêm khắc hai trăm hai mươi by gii điều, mưi ba pháp đầu đà khổ hạnh… họ phải có mt đi sống cơ cc thiếu thốn đủ mi bề”(1). Do vy, Milinda-panha cho Cư sĩ tại gia quá yếu, quá thấp… nên phải… chm dt mạng sống bằng cách nhập Niết Bàn”(2). Nhưng lại khẳng đnh bổn phận ngưi tại gia nhiu hơn so vi ngưi xuất gia, vì họ không nhng làm tròn bổn phận với chính mình mà còn vi gia đình, đối vi ngưi xung quanh và cả làm tròn nhim vụ tuân thủ nhng quy đnh ca Phật giáo về hàng Cư sĩ. Bt là hạng người cố gắng đạt đến trí tuệ và sáng suốt và có 10 phm cht (mưi Ba la mt)(3). Dù là xuất phát đim là khác nhau, li thế và khó khăn khác nhau… nhưng quả vị đều có thể đạt đưc như nhau. Đây là tinh thần bình đẳng có tính vô thần rất tiến bộ và đáp ng đúng đòi hỏi của xã hội Ấn Độ lúc đó và vẫn còn nguyên giá trtrong xã hội hin đại m nay.

Đánh giá chung về Milinda-panha




 
  1. Mi-Tiên vn đáp, sđd. tr. 440.
  2. Mi-Tiên vn đáp, sđd. tr. 510.
  3. Mười Ba la mật: Một là, sự bố thí siêu việt; Hai là, dứt trsyêu thương; Ba là, thái đdứt bỏ; Bốn là, không ăn năn, hi hn; Năm là, sbố thí vi tế; Sáu là, sự đoạn tuyệt; By là, sự bố thí to lớn; Tám là, sự bố thí thế gian khó hiu; Chín là, sbố thí khó khăn; Mười là, sbố thí chng ai so sánh được. Xem Mi-Tiên vấn đáp, sđd, tr. 603.
 
Milinda-panha luôn đưc coi là sự chỉ dẫn cụ thể và chi tiết để có thể tháo g, vưt qua nhng chống phá Phật giáo và cung cấp phương pháp tu tập nội tâm khthi. Nhng ví dụ trong Milinda-panha thưng cụ thể, giản d, nhưng rất bổ ích cho không chỉ tín đồ, mà còn các nhà nghiên cu trong và ngoài hthống Phật giáo(1).

Milinda-panha suối nguồn tư tưng của hu hết các tông phái Phật giáo. Ngài Phật Âm (Buddhaghosa, thế kỷ V), vị luận sư số mt của Nam tông, đã trích dẫn Milinda-panha để bảo vệ Phật giáo và viết Thanh Tinh Đạo (Visuddhimagga) nổi tiếng. Ngài Thế Thân (Vasubandhu, 316-396), ngưi khi xưng tư tưng Đại tha cũng dựa vào Milinda-panha để xây dng các
luận chng(2). Có thnói, “Milinda-panha mu hình của một
phương tin truyn bá và bảo vPhật giáo rất hiệu quả, nên không bao lâu Milinda-panha ng Phật giáo lan nhanh sang vùng lưu vực sông Hng, rồi phát triển mnh và thnh hành ở Bắc Ấn, Tây n và truyn bá sang Tích Lan và các nưc Nam phương Phật giáo” (3).

Milinda-panha đã vưt quá mục đích đầu tiên là bảo vệ giáo lý của Phật giáo Nguyên thy trưc sự tấn công, xuyên tạc, phá hoại của ngoại đạo. Tác phm này còn đưc coi là mẫu mc tranh lun để phát triển giáo lý Phật giáo, tạo ra sc hút vi nhng ngưi ngoi đo đi theo Phật giáo một cách tự nguyện. Milinda-panha đã hoàn thành sứ mệnh lch sử của mình tại thi đim lúc by giờ và góp một phn giúp Phật giáo lan truyền từ

 
  1. Mi-Tiên Vấn đáp (2009), Sđd. tr,19.
  2. Trần Trúc Lâm (2007), Nhng hpháp vương ca Pht giáo trong lch sử Ấn Đ, Nxb. Phương Đông, Thành phố Hồ Chí Minh,115.
  3. Edward Conze (2005), sđd, tr. 6.
 
Ấn Độ sang các nưc xung quanh mt cách hòa bình, thân thiện vi các tôn giáo bản đa khác. Milinda-panha còn đưc coi như kinh điển Pht học đại cương, “Nhng ai học Phật mà còn nghi hoặc, nếu coi đưc quyn Na-Tiên Tỳ kheo Kinh này, sẽ đưc vui thích khóai lạc lm”, và “Na-Tiên Tỳ kheo Kinh này có nhiều đoạn cao siêu, mà lý nghĩa biện bạch rất lành, chẳng khác nào mt nhà đạo học đng ra truyền bá, nâng đỡ và bênh vc ngôi
Tam bảo vy(1). Milinda-panha đã đưc Phật giáo Myanmar
xếp vào hệ thống thánh điển, thuộc Tiểu Bộ Kinh, tc bthứ năm trong Ngũ Bộ Kinh(2), và ở Sri Lanka, nó đưc xếp vào cùng năm bộ Quật Đà Già A Hàm (Khuddaka Nikaya)(3). Đối vi Bc tông thì “Đng về mặt giáo nghĩa, đọc Kinh Na-Tiên thy rõ tư tưng của ngài mặc dầu là tuyt đối trung thành vi giáo pháp nguyên thy, nhưng có nhiu khía cạnh đã manh nha những đim tế nhị ảo diệu của tư tưng Đại tha”(4).

Các nhà nghiên cu ngoài Pht học đánh giá Milinda- panha là tác phm không chỉ mang nhng giá trị tư tưng giáo lý Phật giáo, mà còn ẩn cha nhiều giá trị xét trên nhiu phương diện khác như về văn học, sử học, nghệ thuật… của Phật giáo nói riêng và của Ấn Độ nói chung: “Milinda-panha một cun sách… không ththiếu đối vi các tăng sinh Phật giáo, ngoài phần quan trọng của một văn bản Phật giáo… Milinda-panha mt vị trí đặc biệt trong văn học Ấn Độ dù xét về mặt lý luận,

 
  1. Đoàn Trung Còn (1941), Na-Tiên Tỳ kheo Kinh hay Vua Di-Lan-Đà hỏi đạo, Nxb. Đức Lưu Phương, Sài Gòn, tr. 4.
  2. Ngũ bkinh có nhiu nghĩa. Ở đây chNgũ BLuật ca Tiểu thừa. Xin tham khảo
Tđiển Phật học Hán Vit, Phân Viện Nghiên cu Phật hc, Hà Nội, 1992, tr. 891- 893.
  1. Mi-Tiên vn đáp, sđd, tr.15.
  2. Edward Conze (Nguyn Minh Tiến dch, 2005), Lược sử Phật go, Nxb. Tng hp, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.15.
 
văn chương, lch sử hay kiến thc đa lý. Điu này không thể bàn cãi là trong văn học hậu giáo đin không có một luận thư Phật giáo nào sánh ngang vi Milinda-panha(1).

Tác phm còn là ngun tư liệu phản ánh sinh động về tư tưng, văn hóa, tôn giáo của ngưi Ấn Độ lúc by gi, cho thy họ suy tư, trăn trở vi nhng vấn đề tôn giáo, xã hội và đã đạt ti nhng vn đvbn cht ca tn ti như: vũ trnày cu to tđâu(2); bn cht ca ssng và cái chết là ; vn đtái sanh và luân hồi(3); cũng như nhngu hi Mendaka có tm triết hc(4).

Milinda-panha khẳng đnh đưc vị trí, vai trò và chỗ đng của Phật giáo Nam tông (Theravada) nói chung và Nam tông Khmer nói riêng trong tính toàn thể của Phật giáo vi nhng nội dung chính truyn làm có thể chuẩn mc chung cho tất cả các tông phái Phật giáo.

Milinda-panha còn là mt pho sử cho thy đưc quá trình phát triển của Phật giáo tại Ấn Độ, từ chỗ ban đầu bị Bà La Môn giáo xếp vào hàng ngoại đạo, phi chính thng, ti chỗ tkhẳng đnh như một hệ tư tưng độc lập khắc phục nhng hạn chế của tư tưng Bà La Môn giáo và trở thành quốc giáo dưi thi vua Asoka và tiếp tục phát triển ra ngoài Ấn Độ thành tôn giáo ở khu vc Nam Á và Đông Nam Á.

Đến nay, Milinda-panha càng chng tỏ giá trị suối nguồn tư tưng về Phật học và triết học Phật giáo cho hoạt động lý luận và thc tiễn phát triển, chấn hưng và bo vệ Phật giáo từ nội bộ
  1. P.V. Bapat, 2.500 m Pht go, sđd, tr. 192.
  2. Mi-Tiên vn đáp, sđd, tr.149.
  3. Mi-Tiên vn đáp, sđd, tr. 126- 213- 654.
  4. Mi-Tiên vn đáp, sđd, tr. 261-745.

Phật giáo Nam tông và Phật giáo Khmer nói riêng, cũng như truyền bá rộng rãi trong Phật giáo nói chung và chống lại sự đả phá của ngoại đạo.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây