11. PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER CHUNG TAY XÂY DỰNG GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM, PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG ĐỒNG HÀNH CÙNG DÂN TỘC

Thứ bảy - 08/09/2018 12:38
PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER CHUNG TAY XÂY DỰNG GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM, PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG ĐỒNG HÀNH CÙNG DÂN TỘC của Hòa thượng Thích Gia Quang*
Hôm nay, chúng ta có mặt ở đây nhân kỷ nim 40 năm sự kiện “4 vị sư ngưi Khmer hy sinh” trong sự kiện ngày 10/06/1974; đó là cách thể hiện sự tôn kính vi các vị sư đã hy sinh vì chính nghĩa, hành động của chư vị, máu của chư vị đã thêm một lần na tô thm trang sử vẻ vang của dân tc, rạng danh Phật giáo Vit Nam truyền thống Hộ quc an dân.
  1. Truyền thừa của Phật giáo Nam tông Khmer trong truyền thng Phật giáo Việt Nam
Phật giáo Nam tông (PGNT) truyn vào Việt Nam đưc ngưi Kinh, ngưi Khmer tin theo nên cùng vi thi gian, cách
gọi Nam tông Khmer và Nam tông Kinh đã trở thành “cm tmang tính chỉ dẫn về địa dân cư tôn giáo rất đặc thù của Phật
giáo Việt Nam.
Theo các tài liệu sử hc Phật giáo, Phật giáo Nam tông đã có mặt ở Đồng bằng sông Cu Long khá sm, vào khoảng thể kthứ IV, thứ V; đặc bit đến đầu thể kỷ XX ở nhng địa bàn có ngưi Khmer sinh sng, hầu hết các Phum (xóm), Sóc (nhiều xóm hp thành) đều có chùa thi Phật.
Theo thống kê năm 2010, ngưi Khmer ở Đồng bằng sông Cu Long có gn 1,3 triệu dân, vi gn 500 ngôi chùa và khoảng 9.000 vị sư, tập trung chyếu ở 9 tnh (Trà Vinh, Vĩnh
Long, Cn Thơ, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cà
Mau).
Theo đó, đại đa số tuyệt đối ngưi Khmer theo Phật giáo; về số lưng chc sắc nhà tu hành theo đạo Phật chiếm gần 20%





* Phó Chtch Hi đồng trsự Giáo hi Phật giáo Việt Nam.
 
tổng số ngưi tu hành theo Phật giáo trên toàn quốc; tlngôi chùa chiếm khoảng 3,3%, so vi dân số chiếm hơn 1%.
Theo truyn tha của PGNT ngoài nhng đặc đim chung của Phật giáo, PGNT Khmer duy trì gii luật và cách hành trì
theo truyền tha của tông phái. Truyền thống đó, khi ngưi con trai n 12, 13 tuổi thì vào chùa để học đạo; học đạo đưc hiểu là
để báo hiếu cho gia đình, ông bà, cha mẹ; đthc hiện tình cm, trách nhim đối vi dân tộc; để tỏ lòng thành kính vi đc
Phật…
Thi gian tu tại chùa y theo hoàn cảnh, tùy duyên của các cá nhân, nhưng ti thiểu là một tháng, sau đó trlại cuộc sống đi thưng, họ có thể lập gia đình, làm ăn, tham gia các công việc xã hội, khi muốn họ lại có thể xin vào chùa tu một thi gian rồi sau đó lại có thtrở về với gia đình.
Để vào chùa tu, tiêu chuẩn và các trách nhiệm cần đủ đó là: phải đưc sự đồng ý của cha mẹ hoặc ngưi nuôi dưng (nếu còn nhỏ). Người nam đã có gia đình muốn vào chùa tu phải đưc sự đồng ý của ngưi bạn đi; Phải là công dân tốt, không trong tình trạng vi phm pháp luật; Phải có thy dn dắt và có nhng vật dụng cn thiết của mt nhà sư.
Nhà sư – đối vi ngưi Khmer là đại diện cho đức Phật để truyền dy và giáo hóa chúng sinh, bi vy nhà sư luôn là ngưi thy đưc tôn kính và tin tưởng.
Chùa là nơi tu hành của các vị sư sãi, là nơi làm lcủa đồng bào, là nơi giáo dục đào tạo dy ch, dy nghề cho con em của đồng bào dân tộc, là trung tâm văn hóa của dân tộc, là bảo tàng lưu giữ các hiện vật từ đồ thờ tế t, điêu khắc, trm trổ, ghe ngo (để dùng đua trong các lễ hội dân gian)đồng thi cũng là nơi thờ cúng nhng ngưi thân của đồng bào dân tộc Khmer sau khi mt.
Đời sống, sinh hot trong gia đình, cộng đng Phum, Sóc của ngưi Khmer đa phần đều gắn vi tín nng và triết lý của đạo Phật. Các công việc của gia đình cũng như sinh hoạt văn hóa, lễ hội của cộng đng đều có sự tham dự của các vị sư.
Do vy đi sống, sinh hoạt của ngưi Khmer có thể ví như mối quan hệ hu cơ gia các mái m gia đình và các ngôi
 
chùa, gia các ngôi chùa và các vị sư tu hành, giữa các vị sư tu hành vi lch sử truyn tha của Phật giáo Nam tông.
  1. Skiện bi tráng ca các vị sư PGNT Khmer ngày 10/06/1974
Đóng góp của PGNT Khmer đối vi dân tộc và Phật giáo là hết sc to lớn; gn 1,3 triệu ngưi đồng bào Khmer do chu
ảnh hưng của triết lý đạo Phật nên đã đề cao nhng trách nhim và đạo lý nhân sinh truyn thống của dân tc nói chung và của
Phật giáo nói riêng.
Cách đây 40 năm, vào ngày 10/06/1974, ti tnh Kiên Giang (Rạch Giá), vi sự vận động và dẫn đầu của chư Tăng,
chư Tăng Hội Đoàn Kết Sư Sãi Yêu Nưc, hơn hai ngàn chư Tăng Phật tử Khmer và một số đồng bào ngưi Kinh, ngưi Hoa
đã tham gia biểu tình trong sự đàn áp dã man của chính quyền Sài gòn lúc by gi.
Trong cuộc biểu tình bảo vệ Phật pháp, bảo vệ dân tộc và bảo vệ chính nghĩa này đã có 4 vị sư hy sinh; đó là các Đi đc:
Lâm Hùng, Danh Hoi, Danh Tấp, Danh Hom và 32 vị bị thương.
Để phi tang, chúng đã cướp ly thi hài của 4 vị sư đưa về nhà xác tnh Rạch Giá, đem Y bỏ xuống biển, cho mặt bộ đồ đen, đặt 4 khẩu súng bên 4 thi hài, lãnh đạo đoàn biểu tình đấu tranh mãi mi đem được thi hài của 4 vị sư về m tang lễ.
Lễ tang của 4 vị sư diễn ra trong my ngày đêm lúc đất nưc vẵn còn khói la chiến tranh, thông tin truyền thông còn nghèo nàn, nhưng hàng chục ngàn lưt tăng, ni, Phật tử Khmer - Kinh – Hoa trong và ngoài tnh đến cầu nguyện, hộ nim.
Shy sinh của 4 vị sư vì chính nghĩa, vì sự tng tồn của đạo pháp xng đáng là 4 vBồ tát vô úy đã góp phần khơi dy
lòng yêu nưc của tăng, ni, Phật tử Việt Nam, góp phần dẫn đến
thắng li của ngày 30/04/1975 đưa đất nưc giang sơn thu vmt mi, Bắc – Nam sum họp một nhà. Sự hy sinh anh dũng của 4 vị sư là tm gương sáng để tăng, ni, Pht tử chúng ta noi theo.
Đc Phật đã dy: “Nhân thiện sẽ trổ quả lành. Nhân bất thiện sẽ trổ quả d”, thật đúng như vy, vi công quhy sinh của các chưu vị và sự đu tranh của cả dân tộc đất nước đã sm hòa bình. Phật giáo Vit Nam đã thống nhất sau giải phóng mùa xuân năm 1975.
 

Phật giáo Nam tông Khmer chung tay xây dng Giáo hội Phật giáo Việt Nam, đồng hành cùng dân tộc

Năm 1964, Phật giáo Khmer Nam bộ thành lập Hội đoàn
kết sư sãi yêu nưc khu Tây Nam bộ do Hòa thưng Thạch Som làm Hội trưng. Tiếp sau đó là các tnh Đng bằng sông Cu
Long lần lưt thành lp, hoạt động.
Năm 1972, miền Nam Việt Nam lúc nào cũng sôi sục khói la bom đạn, chùa chiền nông thôn thì hoang tàn, phum sóc vắng lặng; Chư Tăng Phật giáo Nam tông Khmer không cam chu cảnh gia đình Phật tử ngưi thì mất chồng, kẻ mất v, ngưi thì mất cha lẫn mẹ, còn phum sóc đìu hiu, vắng lặng, có nhng chùa lúc nào cũng có tiếng kinh cu siêu.
Sau năm 1975, Hội đoàn kết sư sãi yêu nưc Tây Nam bộ nói chung và Hội đoàn kết sư sãi yêu nưc ở các tnh nói riêng vẫn tiếp tục hoạt động, tập hp sư sãi, đồng bào Phật tử tham gia
khôi phc hậu quả chiến tranh, kiến thiết nưc nhà.
Đến tháng 11-1981, Hội đoàn kết sư sãi yêu nưc Tây Nam bộ do Hòa thưng Dương Nhơn làm trưng đoàn cùng vi 8 tổ chc, hệ phái Phật giáo đã thống nhất thành lập mt tổ chc chung đại diện cho tăng ni, Phật tử Phật giáo Việt Nam ở trong và ngoài nưc trong ngôi nhà chung Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Trong nhim kỳ qua, Ban Thưng trc Hội đồng trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã ký Quyết đnh thành lập Phân
ban Tăng sự Phật giáo Nam tông, thuộc Ban Tăng sự Trung
ương và Phân ban Văn hóa Phật giáo Nam ng thuộc Ban Văn hóa Trung ương.
Trong ngôi nhà chung của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, 33 năm qua Phật giáo Nam tông Khmer tiếp tục có nhng đóng góp công
sc xây dng Giáo hội Phật giáo Việt Nam, đất nưc Việt Nam
vng mạnh và trưng tồn, góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa của dân tộc Khmer, làm phong phú thêm truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam, xng đáng vi truyền thống của Phật giáo Việt Nam là mt n giáo gn bó, đồng hành cùng dân tộc.

Lời kết:

Vì li ích của quốc gia - dân tộc, Phật giáo Nam tông
Khmer đã có những đóng góp quan trọng vào việc củng cố quốc
 
gia thống nhất, vun đp sự đoàn kết hu nghị gia các dân tộc chung sng trên dải đất hình chữ S.
Ngày nay, Phật giáo Nam tông Khmer vẫn là nền tảng văn hóa - xã hội của ngưi Khmer ở min Tây Nam Bộ, ngôi chùa
ngoài việc là trung tâm văn hóa của bản làng còn là nơi bảo vệ nền văn hóa lâu đi ca dân tộc, bảo vệ và xây dng vẻ đp cho
cuộc sống mọi ngưi.
Phật giáo Nam tông nói chung và Phật giáo Nam tông Khmer nói riêng đang có điều kiện phát triển, nhiều chùa chiền đưc xây dng mi, văn hóa Pht giáo và văn hóa của ngưi Khmer đưc quan tâm giữ gìn và phát huy trong khối đại đoàn kết n tộc.
Nhân sự kiện kỷ nim 40 năm 4 vị sư liệt sĩ ngưi Khmer hy sinh vì đại nghĩa dân tộc, chúng ta ôn lại quá khlà thêm một lần ghi nhận nhng đóng góp của Phật giáo Nam tông Khmer
vào các mặt của đi sống, từ văn hóa – xã hội đến sự đoàn kết
các dân tộc, tôn giáo mà đã đưc Giáo hội Phật giáo Việt Nam đánh giá; Chư tăng và Phật tử Pht giáo Nam tông Khmer đã có nhiều hoạt động tích cc đưa giáo lý, đạo đc văn hóa của đạo Phật vào cuộc sống góp phần ổn đnh sinh hoạt Phật giáo gắn bó đồng hành cùng dân tộc. Vi truyền thống tu tập, truyn thống truyền tha của Phật giáo Nam tông Khmer, nhng dòng chy đó đã có sự đóng góp hết sc có ý nghĩa trong quá trình thng nhất Phật giáo Việt Nam, xây dng ngôi nhà chung Giáo hội Phật giáo Việt Nam vng mnh, thống nhất trong sự đa dạng. Đúng như Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã khẳng đnh "S thống nhất Phật giáo Việt Nam xây dng trên nguyên tắc: Thống nhất ý chí và hành động, thống nhất lãnh đạo và tổ chức, đng thời vẫn tôn trọng và duy trì các truyền thống hệ phái cũng như các pháp môn và phương tiện tu hành đúng chánh pháp".

I LIU THAM KHẢO:

1.  Tài liệu Hội tho Phật giáo Nguyên Thy trong kỷ nguyên
toàn cầu hóa (tại Tp.HCM tháng 01/2014).
2.  Giới thiệu sơ lược về Phật giáo Nam tông Khmer (Ban n giáo Chính ph).
 
  1. Tài liệu lch sử Phật giáo trên Wikipedia.org.
  2. Các tham luận, bài báo có liên quan trên mạng Internet toàn cầu.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây