06. PHẬT GIÁO NAM TÔNG VỚI VIỆC CỦNG CỐ TÌNH ĐOÀN KẾT KHMER - VIỆT TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC

Thứ bảy - 08/09/2018 12:24
PHẬT GIÁO NAM TÔNG VỚI VIỆC CỦNG CỐ TÌNH ĐOÀN KẾT KHMER - VIỆT TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC của ThS. Nguyễn Thị Diễm My*
 
  1. Mở đầu
Phật giáo Nam tông Khmer đã và đang có nhng đóng góp xây dng Giáo hội Pht giáo Việt Nam, đất nưc Việt Nam vng mnh và trưng tồn, góp phần bảo tồn bn sắc văn hóa của ngưi Khmer, làm phong phú thêm truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam, xng đáng vi truyn thống của Phật giáo Việt Nam là một n giáo gn bó, đồng hành cùng dân tộc.
Xuất phát từ lý tưởng truyền thng là hưng về Đc Phật, cho nên trong cuộc sng hng ngày, dù sư sãi ở chùa hay dân chúng tại gia đều phải rèn luyện theo đạo pháp: thọ giới - bố thí - tụng nim. Do vy, người Khmer ly việc làm thiện, tránh ác làm lẽ sống. Họ cho rằng bố thí, cu giúp đồng loại là việc làm thiện, làm phúc. Hằng ngày, người dân Khmer trong các phum sóc dâng cơm cho sư sãi, với quan nim đó là một điều phúc lớn.
Ngôi chùa đối với đồng bào Khmer có ý nghĩa hết sức đặc biệt. Chùa không chỉ là nơi diễn ra các lễ nghi tôn giáo, mà còn là nơi diễn ra các hoạt động sinh hot văn hóa của đồng bào, là môi trường giáo dục trẻ em Khmer. Chính vì những chc năng này mà quan hệ giữa ngôi chùa với đồng bào Khmer rất gắn bó với nhau. Người Khmer sn sàng góp công, góp của để xây dựng ngôi chùa của phum sóc, cho dù đời sống của đồng bào còn nhiều khó khăn.

* Hc viện Chính trquc gia Hồ Chí Minh khu vực VI.
 
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống M, Phật giáo Nam tông Khmer đã có đóng góp đáng kể làm nên những thắng lợi to lớn trong cuộc đấu tranh bảo vệ đất nước.
 
  1. Đóng góp của Phật giáo Nam tông trong kháng chiến chống Mỹ
    1. Âm mưu ca Mngụy đối vi đồng o Khmer Đng bằng sông Cửu Long
Mục tiêu của Mỹ đối với người Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long là phá hoại công cuc đấu tranh thống nhất đất nước, phân hóa và loi trừ các lực lượng thân Pháp, xây dựng chính quyn tay sai, nắm quyền chỉ huy quân ngy, tổ chc các đảng phái phản động thân M. Biện pháp cơ bản của chúng là thực hành “tố cộng, diệt cộng”, tập trung đánh phá phong trào cách mạng vùng Đồng bằng sông Cửu Long vô cùng tàn khốc. Chúng huy động mọi lực lượng quân sự, mật vụ, hành chính, tình báo, thông tin, tuyên truyền, tâm lý,… cùng bọn tay sai, địa chủ phản động mở nhiều cuộc vây ráp, khủng bố triệt phá cơ sở cách mạng người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Kế thừa một cách có chọn lọc những thủ đoạn trước đây của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ triệt để lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo của ngưi Khmer để chống phá cách mạng, dựng lên các đảng phái phản đng mang màu sắc dân tộc, tôn giáo để lừa bịp, lôi kéo quần chúng. Đế quốc Mỹ xác định, địa bàn Tây Nam Bộ và vùng đất người Khmer cư trú có mt vị trí chiến lược quan trọng về chính trị và quân sự, nên chúng không từ bỏ phương thức thủ đoạn nào để giữ vùng đất này. Mỹ ra sức viện tr, ủng hộ chính quyền tay sai thực hiện chính sách đồng hóa dân tộc, đàn áp, tàn phá các phum sóc của người Khmer nhm thực hin chính sách thực dân mới.
 
Dưới sự chỉ đạo của M, chính quyn Ngô Đình Dim ban hành các chỉ dụ số 2 và số 7 về việc thu hồi ruộng đất của chính quyền cách mng đã cấp cho dân nghèo trong thời kỳ kháng chiến, trả lại cho địa chủ.
Nhng chính sách dã man nêu trên làm cho mâu thuẫn gia đồng bào Khmer ở Đồng bằng sông Cu Long với Mỹ ngy ngày càng trở nên gay gắt. Do đó, đồng bào Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long càng quyết tâm đứng lên đấu tranh chng lại chế độ Mỹ ngy, để bảo vệ cuộc sống, bảo vệ quyn lợi của dân tộc mình.
Năm 1957, để phân hóa và chia rẽ Phật giáo, đế quốc Mỹ dựng lên con bài Sơn Thái Nguyên (quê ở Trà Vinh) làm tham mưu trưởng Khmer Srei (Khmer tự do), kiêm Chủ tịch Ban Quản trị Trung ương Phật giáo Theravada. Mỹ vin trợ tin bạc, vật chất cho tổ chc này hoạt đng nhằm lôi kéo sư sãi, Pht tử người Khmer. Mỹ đưa Hòa thượng Thạch Ngo cùng mt số sư sãi, dân biểu ngy thành lập phái Khemaranikay để chia rẽ, khoét sâu sự khác biệt và gây mâu thun phân hóa trong nội bộ n đPhật giáo ngưi Khmer ở Đồng bng sông Cửu Long.
Cùng với những hoạt động lôi kéo, chia rẽ, gây mâu thuẫn trong nội bộ cư dân Khmer ở Đng bằng sông Cửu Long, đế quốc Mcòn ráo riết đy mạnh chiêu bài Khmer tự trị để mua chuc các tầng lớp sư sãi thuộc phái Phật giáo Theravada, đưa mt số trí thức người Khmer vào hoạt động trong các đảng phái, các cơ quan do Mỹ lp ra; tuyển mộ thanh niên Khmer cho tổ chc Khmer Srei, Đảng Khăn trắng để chng phá cách mng.
Nhng chính sách dân tộc hòa đồng, đồng tiến” đối với người Khmer ở Đng bằng sông Cửu Long của ngy quyền Sài Gòn chỉ có tính chất đối phó với dư luận quốc tế, tranh thủ lực
 
lượng trong các canh bạc ở nghị trường hơn là giải quyết mt cách thực sự vấn đề người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Nhìn chung, thủ đoạn của Mỹ ngy đối với người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long là rất thâm độc và nguy him. Chúng lợi dụng vn đề dân tc, tôn giáo để lừa mị, lôi kéo quần chúng, sư sãi, biến một số nhà chùa, vn là nơi tu hành và trung tâm sinh hoạt văn hóa, thành trung tâm chỉ đạo, huấn luyn chng phá phong trào cách mng, tuyên truyền chia rẽ dân tộc Vit - Khmer, làm mất lòng tin của đồng bào Khmer đối với cách mng. Đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai không những lợi dụng sự lạc hậu, dễ tin của một bộ phận cư dân Khmer để gieo rắc nọc độc, lôi kéo họ đi lính, mà còn lợi dụng cả uy tín của sư sãi để lôi kéo quần chúng nhân dân, nuôi dưỡng ảo tưởng đất Nam Bộ là của người Khmer, khơi dy hận thù dân tộc, tập hợp họ chống lại cách mạng, đi ngược li quyền li của dân tộc, của đất nước.
    1. Đồng bào Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long sát cánh cùng đồng bào cả nước chiến đấu chng Mỹ cứu nước
Ngày 21/7/1954, Hiệp định Genève lập lại hòa bình ở Đông Dương được ký kết. Trong nim vui hòa bình, người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long, cũng như nhân dân miền  Nam không tránh khỏi nhng nỗi lo. Liệu đất nước có thực sự độc lập? Kẻ thù có tôn trọng và thực hiện nghiêm túc Hiệp định đã ký kết? Vốn là những người dân chịu nhiu tủi cc trong cuộc sống nô lệ dưới sự thống trị của thực dân Pháp, đồng bào Khmer ý thức một cách sâu sc giá trị hai chữ hòa bình. Mong muốn của họ là được làm chủ mnh ruộng, khẩu đìa, tự do sản xuất.
Trước tình thế mới, đồng bào Khmer ở Đng bằng sông Cửu Long đã đoàn kết cùng người Việt, người Hoa trong vùng tiến hành một cuộc đấu tranh mới, chống đế quốc Mỹ xâm lược.
 
Bất chấp sự khủng bố, đàn áp điên cuồng ca Mỹ - Dim, đồng bào Khmer đã cùng toàn thể nhân dân vùng Đồng bằng sông Cửu Long đứng lên đu tranh mạnh mẽ đòi thi hành Hiệp định Genève, các quyn dân sinh, dân chủ, chng chính sách “tố cộng, diệt cộng”.
Tại Châu Đốc, phong trào đấu tranh sôi động, mạnh nhất vùng Đồng Tháp Mười. Đây là một cuộc đấu tranh giành lại những quyền lợi thiết thân nhất, nên đng bào Khmer tham gia rất đông. Trong cuộc đấu tranh này có cả gia đình binh sĩ, dân vệ người Khmer tham gia, một số nơi còn giết cả địa chủ đi thu tô. Ở Châu Đốc, tên địa chủ On có 200 hécta, phần ln là hoang hóa. Hắn cho tay chân đi đòi đất. Anh Cù Giáo là nông dân nghèo ở Vĩnh Hòa phc hóa được 20 công ruộng, bị địa chủ On ly 10 công. Anh ức quá, đâm chết tên cặp rằng Sáu Đc là tay chân địa chủ On. Địa chủ On bỏ trốn. Ở huyn Châu Phú (Châu Đốc), Núi Sập (Long Xuyên) địa chủ cho máy cày, có dân vệ đi theo vào cày đất. Hàng ngàn nông dân Khmer - Việt rượt đuổi, bọn dân vệ bỏ chy.
Cuộc đấu tranh bảo vệ ruộng đất của người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long diễn ra sut trong hai năm 1955 - 1956. Kết quả là, họ giữ được nguyên canh, chng 50% diện tích phải đóng tô ở mức thấp và khoảng 30% phải lập khế ưc.
Từ ý thức đấu tranh đòi nhng quyền lợi thiết thực như chống địa chủ cướp ruộng đất, người Khmer dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã phát huy truyn thống tốt đẹp của mình đấu tranh chống bọn cướp nước và bán nước. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cu nước (1954 - 1975), lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết chiến đấu chống ngoại xâm của đồng bào Khmer ở Đồng bng sông Cửu Long đã phát triển lên một
 
trình độ mới, thể hiện trong việc tích cc tham gia các cuộc đấu tranh trên tt ccác mt trận chính trị, quân s, kinh tế, binh vận.
Trước sự đánh pquyết liệt của Mỹ ngy bng chính sách “tố cộng, diệt cộng, đồng bào Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long đã nhường cơm xẻ áo, nhưng cả ruộng ry cho các đơn vị sản xuất để nuôi quân. Đồng bào còn tích cc đào hm, địa đạo để bảo vệ cán bộ, chiến sĩ trước sự khủng bố ác liệt của địch. Được sự chở che, bo vệ của đng bào Khmer, nhiều vùng kháng chiến ở Đng bằng sông Cửu Long không những được an toàn mà còn phát triển mnh mẽ, trở thành n đạp tiến công kẻ thù.
Cuộc đấu tranh ngày 5/10/1960 của đội quân tóc dài có gn
10.000 người tham gia, phần lớn là phụ nữ Khmer ở An Giang, kéo vào quận lỵ Tri Tôn là một trong những cuộc đấu tranh chính trị đin hình ca đồng bào Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đoàn biểu tình giương cao khẩu hiệu: “Đế quốc Mỹ cút khỏi miền Nam Việt Nam”, “Hy bỏ Luật 10/59”, nêu một số yêu sách: không được càn quét, bắn phá phum sóc, để bà con đi lại làm ăn. Địch ra mặt khủng bố, bắt mt thanh niên Khmer mổ bụng và bắt giam hàng chục người khác. Tc nước vỡ b, căm thù chồng cht căm thù, đồng bào Khmer tràn lên bất chấp súng đạn, lưỡi lê quân thù bao vây quận l, hô vang khẩu hiệu Đả đảo bọn giết người” và đòi bồi thường nhân mng cho người bị giết, thả hết những người bị bt. Cui cùng, Quận trưởng Tri Tôn phải chấp nhận yêu sách.
Thắng lợi của các cuộc đấu tranh chính trị trc diện với Mỹ ngy đã làm cho đồng bào Khmer thêm tin tưởng vào cách mng, không quản ngi gian khó, hy sinh, sẵn sàng cung cấp tin tức, lương thực, thực phm cho cuc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đây là một trong những đóng góp to lớn của đồng bào
 
Khmer ở Đồng bng sông Cửu Long, thể hin truyn thống đoàn kết chống ngoại xâm giữa các tộc người. Nhiều vùng đông dân Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long là căn cứ cách mng như Tú M, Vĩnh Châu, Long Phú (Sóc Trăng), Trà Cú, Cầu Ngang, Cầu Kè (Trà Vinh), mt số xã ở Kiên Giang, An Giang, Cà Mau, Bạc Liêu. Đồng bào Khmer không quản khó khăn, nguy him đã đào hm bí mật nuôi giấu cán bộ cách mng. Dù địch luôn càn quét, khủng bố, nhưng đồng bào vẫn cương quyết bám đất, bám sóc. Nhiều đng bào, nhất là phụ nữ Khmer, đã băng mình dưi làn mưa đạn ca địch để tiếp tế lương thực, thuốc men, đạn dược cho bộ đội, du kích chiến đấu. Đó là những hình ảnh hết sức cm động của đồng bào Khmer cũng như đng bào các tộc người ở Đồng bằng sông Cửu Long trong kháng chiến chống M, thể hiện tình đoàn kết chiến đấu chống ngoại xâm.
Tinh thần đoàn kết chiến đấu của hai tộc người Việt - Khmer còn được minh chng bằng cuộc đấu tranh của người Khmer và người Việt ở xã Long Đc (Trà Vinh) để bảo vệ ngôi đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay trong vùng địch chiếm đóng. Năm 1969, sau khi nghe tin Bác Hồ mất qua Đài Phát thanh Hà Nội, đồng bào Việt - Khmer vô cùng đau đớn. Tuy sống gần đồn bốt địch, nhưng họ đã cùng nhau bí mật lp đền thờ Bác trong một khu vưn để mọi ngưi đến tưởng nim. Khi sự việc bị lộ, địch điều động hơn một tiểu đoàn lính, dùng pháo binh và máy bay càn quét, oanh tạc đền thnhiều lần. Đồng bào tổ chc đánh đch, bảo vệ ngôi đền. Sau khi địch tiến công đánh phá, đồng bào bí mật lập lại và quyết tâm bảo vệ ngôi đền cho đến ngày giải phóng. Trên các bờ tre, bờ mương, cánh đồng của xã Long Đc, máu của biết bao đồng bào, chiến sĩ người Khmer, người Việt đã đổ xuống để giữ gìn ngôi đền thờ thiêng liêng của vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc.
 
Tất cả đóng góp của đồng bào Khmer ở Đồng bằng sông Cu Long đã góp phần làm nên chiến thắng quan trọng dẫn đến cuộc tổng tiến công và nổi dy mùa Xuân 1975, giáng đòn sm sét quyết định vào ngay hang ổ của ngy quyn Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất nước nhà. Vượt qua muôn ngàn khó khăn gian khổ, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng bào Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long đã đóng góp sức người, sức của cho sự nghiệp đánh thắng đế quốc Mỹ trong một cuộc chiến với quy mô rộng lớn, lâu dài và ác liệt nhất từ trước đến nay.
 
  1. Một số bài học về tình đoàn kết Khmer - Việt trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chng Mỹ
Sở dĩ người Khmer có đóng góp to lớn vào cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mvì đồng bào ý thức mình là một thành viên trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; tiếp tục truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam, của đồng bào Việt - Khmer từ trước khi Đng Cộng sản Việt Nam ra đời. Đồng thi, đó cũng là kết quả của công tác vận động cách mng ca Đảng đối với đồng bào Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long trong hai cuộc kháng chiến chng ngoại xâm.
Giương cao ngn cờ độc lập dân tộc, đại đoàn kết dân tộc; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn chia rẽ dân tộc của kẻ thù.
Cương lĩnh đầu tiên của Đảng năm 1930 đã xác định rõ: “Đoàn kết các dân tộc trên nguyên tắc bình đẳng, tương trợ để tranh thủ độc lập, tự do và hạnh phúc chung”. Sau này, Hồ Chủ tịch đã kêu gọi: “Đồng bào ta Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xơ Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt… Nay
 
các dân tộc phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn non nước ta, để ủng hộ Chính phủ ta(1). “Giang sơn và chính phủ là giang sơn và chính phủ chung. Vy nên tất cả dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non ta, để ủng hchính phủ ta… Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ gim bt(2).
Đường lối đại đoàn kết dân tộc của Đảng là chỗ dựa cơ bản, quan trọng nhất cho công cuộc vận đng cách mạng đối với đồng bào các tộc ngưi thiểu số nói chung và đồng bào Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng, nhất là trong cuộc đấu tranh kiên quyết, khôn khéo và khoa học để đánh bại những luận điệu chia rẽ dân tộc của kẻ thù.
Bằng đường lối, phương pháp đúng đắn, thn trọng, chân thành của đội ngũ cán bộ Khmer vn, Đng đã làm thất bại về cơ bản các thủ đoạn chia rẽ của kẻ thù. Những hành động bạo loạn, gây tổn thất cho cách mng chỉ là tm thời, còn sự đoàn kết nhất trí trên quy mô toàn vùng Nam Bộ của đồng bào Việt, Khmer, Hoa, Chăm chống kẻ thù chung mới là nét bao trùm trong suốt hai cuộc kháng chiến.
Luôn tôn trọng nguyên tắc "bình đẳng, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển"(3), thực sự đem lại quyền lợi cho đồng bào Khmer; tích cực, chủ động xây dựng đội ngũ đảng viên, cán bộ thành những hạt nhân lãnh đạo ni Khmer, làm công tác Khmer vận.





 
  1. Nhng li kêu gọi ca Hồ Chtịch, tập I, Nxb. Sthật, Hà Ni, 1958, tr. 168.
  2. y ban Dân tc, Các n tộc thiểu số trưng thành i ngọn cờ vinh quang ca Đảng, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1960, tr. 57
  3. Đảng Cng Sn Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quc ln thIX, Nxb. Chính trị Quc gia, Hà Nội, 2001, tr. 127.
 
Thực hiện nguyên tắc bình đẳng, cùng tương trợ và giúp nhau tiến bộ”(1) giữa các tộc người, Đảng luôn chú ý đem lại cho đồng bào Khmer những quyn lợi vật chất và tinh thần, nhất là vấn đề ruộng đất. Ngay từ trong kháng chiến chống Pháp, khi Nam Bộ triển khai các hoạt động tạm giao, tạm cấp và chia lại ruộng đất công, Đảng bộ ở những vùng có đông đồng bào Khmer đã hết sức chú ý giải quyết vấn đề rung đất mt cách bình đẳng giữa các tộc người. Ở Trà Vinh, Đảng không chỉ chia ruộng đất, mà còn cấp cả vốn để đồng bào Khmer m ăn sinh sống; cho
đồng bào tự do khẩn hoang những vùng đt mới để cày cy; thm chí một số nơi đã giúp đồng bào Khmer chuộc lại ruộng đất đã cm bán(2). Đảng và chính quyn cách mng chú ý vn động đồng bào Khmer thực hiện đời sống mới, xóa bỏ mê tín trong các vùng nông thôn. Nhờ vy, đồng bào Khmer thực sự tin tưởng vào Đảng và cách mạng, hăng hái tham gia kháng chiến.
Một trong những kinh nghim quan trng bậc nhất và cũng là cách thể hin sự đoàn kết và bình đẳng giữa các tộc người là việc Đảng sm có phương hướng đào to đội ngũ đảng viên, cán bộ người Khmer trong lực lượng cách mạng. Từ rất sớm sau khi Đảng ra đời, Đảng bộ Nam Bộ đã có những cán bộ, đảng viên người Khmer, trực tiếp lãnh đạo đồng bào Khmer đấu tranh dưi ngọn cờ lãnh đạo của Đảng. Nhiều cán bộ, đảng viên người Khmer đã chiến đấu cực kỳ dũng cm, hy sinh anh dũng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, tiêu biểu như tm gương Thạch Ngọc Biên, Chủ tịch y ban Kháng chiến Hành chính xã Long Hip (Trà Vinh) trong kháng chiến chng Pháp. Bị địch bắt, tra tấn dã


 
  1. Tng cc Chính tr, Mt số vn đn tc và quan điểm chính sách n tc ca Đảng và Nhà nưc ta, Nxb. Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 1989, tr. 92.
  2. Võ Văn Sen, Vai trò của đồngo Khmer ở Đồng bằng sông Cu Long trong hai cuc kháng chiến chống Pháp, M(1954-1975), Báo cáo chuyên đcho BKhoa hc Công
 
man, đóng đinh vào đu, đâm lưỡi lê vào người, nhưng vẫn giữ vững khí tiết người cng sản, không khai báo với địch, hy sinh anh dũng(1).
Phát triển bn sắc văn hóa, bản lĩnh của người Khmer trong đấu tranh cách mạng và giao lưu, tiếp biến văn hóa trong cộng đồng đa tộc người, đa văn hóa Việt Nam nói chung, khu vực Nam Bộ nói riêng; có thái độ cẩn thn, kiên trì, chắc chắn trong giải quyết những vấn đliên quan đến đồng o Khmer.
Trong cả hai cuộc kháng chiến, Đảng lúc nào cũng chú ý đến việc tôn trọng, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa người Khmer; kiên quyết đấu tranh với những tư tưởng tộc người lớn, đồng hóa văn hóa ny sinh dưới bất cứ hình thức nào. Nhiều đi văn nghệ Khmer được thành lập và hoạt động tốt trong điều kiện chiến tranh ác liệt. c cán bộ người Việt làm công tác Khmer vận hay lãnh đạo chính quyền ở vùng người Khmer luôn là những người có tm lòng và am hiểu ngôn ngữ, phong tục tập quán của đng bào và được đồng bào hết sức tin yêu đùm bọc.
Cuộc đấu tranh của sư sãi và tín đồ Phật giáo ngưi Khmer ở Sóc Trăng, Trà Vinh năm 1958(2); cuộc biểu tình lớn của bốn vạn sư sãi ngày 7/12/1967 ở Trà Cú (Trà Vinh)(3),v.v... là những sự kiện điển hình về sự tham gia cách mạng của đồng bào Khmer. Điều đặc biệt quan trọng là, Đảng đã xây dựng, giác ngộ được nhiều nhà sư Khmer thành đảng viên, cán bộ lãnh đạo, thm chí có người còn tham gia bộ đội trực tiếp chiến đấu như trường hp của Hòa thượng Sơn Vọng, Hòa thượng Thạch Soan



 
  1. Viện Văn hóa (1987), Ngưi Khmer Cửu Long, Sở Văn hóa và Thông tin Cu Long, tr. 226.
  2. Lịch sử Đảng bc Trăng tp II (1954 - 1975), Ban Tuyên giáo Tnh y, 1999, tr. 47.
  3. Viện Shc, Nhng sự kin 1965-1975, tp II, Nxb. Khoa học xã hi, Hà Ni, 1976, tr. 347.
 
(Trà Vinh), Đại đức Hu Nhem (Cà Mau), Đại đức Sơn Thai (Cần Thơ),v.v...  Nhiu ngôi chùa Khmer trở thành nơi nuôi cha, bảo vệ cán bộ cách mạng, tiếp tế lương thực, thuốc men, đào tạo cán bộ cách mạng... Phật giáo Nam tông Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long vì vy đã nhận được hai Huân chương Giải phóng của Trung ương Cục miền Nam. Đây là tôn giáo đầu tiên nhận được huân chương này ở Đồng bằng sông Cửu Long(1).
 
  1. Kết lun
Bước vào thời kỳ cách mng mới, chính sách dân tộc, công tác dân tộc của Đảng có những yêu cầu và nội dung mới nhm "tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh, tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cng đồng các dân tộc Vit Nam..."(2). Những thành công và chưa thành công của công tác Khmer vn trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chng Mvẫn là những bài học kinh nghim quý báu làm phong phú thêm kinh nghim và bản lĩnh của Đảng
trong công tác vận động đồng bào các tộc người thiểu số nói chung và đồng bào Khmer nói riêng trong thi kỳ đổi mới.


TÀI LIỆU THAM KHẢO:
  1. Bộ Công an, Những vấn đề về công tác an ninh trong cng đồng người Khmer ở Việt Nam: Thực trạng và giải pp, Nxb. Công an Nhân dân, Hà Nội, 2001.
  2. Bộ Công an, Tổng kết lịch sử đấu tranh chống các thế lực thù địch lợi dụng vn đề Khmer chống phá cách mạng Việt Nam (1945-2002), Cục Bảo vệ Chính trị IV, Tổng cục An ninh, 12/2003.
 
  1. Phan Thị Yến Tuyết, bbđd, tr. 290, 264-265.
  2. Đảng Cộng sn Việt Nam (1991), Cương Lĩnh xây dng đất nưc trong thi kỳ quá độ lên ch nghĩa xã hi, Nxb. Sự tht, Hà Ni, tr.16.
 
  1. Lịch sử Đảng bộ tnh Sóc Trăng, tập II: 1954 - 1975, Ban Tuyên giáo Tỉnh y Sóc Trăng xuất bản, 1995.
  2. Lịch sử Trà Vinh, Ban Tuyên giáo Tỉnh y Trà Vinh xuất bản, 1994.
  3. Nguyễn Khắc Cảnh, Phum sóc Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long, Nxb. Giáo dục, 1998.
  4. Nguyễn Mnh Cường, Vài nét về người Khmer Nam B, Nxb.
Khoa học xã hội, 2002.
  1. Trường Lưu chủ biên, Văn hóa người Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Nxb. Văn hóa Dân tộc, Hà Ni, 1993.
  2. y ban Dân tộc và min núi, Viện Lịch sử Đảng, Chuyên đề lịch sử đấu tranh cách mạng ca đồngbào Khmer Tây Nam Bộ (1930-1975), Đề tài khoa hc 07/UBTH do TS. Trình Mưu m Chủ nhim.
  3. Thị Hồng Hoa, Âm mưu, thủ đoạn ca chủ nghĩa đế quốc và  các thế lực phản động đối với “vấn đề người Khmer” ở Đồng bằng sông Cửu Long, Luận văn thạc sĩ Sử học, 2004.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây