HƯƠNG NGƯỜI ĐỨC HẠNH

Chủ nhật - 10/03/2019 05:11
HƯƠNG NGƯỜI ĐỨC HẠNH
 Tịnh xá Ngọc Quang
HƯƠNG NGƯỜI ĐỨC HẠNH
 Tịnh xá Ngọc Quang

Đạo hạnh người xuất gia là hệ quả của quá trình điều phục, làm mới thân tâm. Nói cách khác là sự rèn luyện thanh lọc thân, khẩu, ý trong đời sống hằng ngày. Chính những hành động, lời nói và ý nghĩ chơn chánh của người xuất gia, đã làm nên nét đẹp văn hóa đặc thù của Phật giáo. Nó là nét chấm phá tuyệt hảo trong bức tranh văn hóa muôn màu của đạo Phật. Theo thuật ngữ ngành Mỹ học, Đạo hạnh người xuất gia chính là “cái đẹp”. Theo ngôn ngữ nhà Phật, đó là đời sống “Chân – thiện – mỹ”. Chúng ta có thể nhìn thấy đức hạnh một vị tu sĩ tỏa sáng, thánh thiện, giải thoát qua hình ảnh những bậc đại thụ tiền bối trong nước nói chung và Tỉnh Tiền Giang nói riêng. Đặc biệt ở đây, người viết muốn giới thiệu đôi nét về Ni trưởng viện chủ Tịnh Xá Ngọc Quang, thuộc Thị Xã Gò công, một bậc Tòng lâm thạch trụ của Tỉnh nhà.
Chân dung Ni trưởng được thể hiện qua phong cách thanh bần, giản dị nhưng sâu lắng; nghiêm nghị, nhẹ nhàng nhưng vững chãi, bao dung. Nơi Người luôn toát ra đạo phong của một bậc nghiêm trì giới luật. Bất cứ hoàn cảnh nào, dù vật chất khó khăn hay thuận lợi Người vẫn luôn sống hạnh thiểu dục tri túc của tiền nhân.
Người giàu sang vẫn còn ham muốn,
Ta nghèo hèn vẫn cảm thấy no lòng,
Người nghèo trong tiền rừng bạc bể,
Ta giàu trong túi vá áo may.
                                                                           (NT. Huỳnh Liên)
Vốn có túc duyên nhiều đời, gia đình Ni trưởng gồm bốn người phát tâm xuất gia. Ba cô gái và một người mẹ đều là những bậc tôn túc trong hàng lãnh đạo Ni giới Hệ phái khất sĩ. Đúng như lời ban tặng của cố Ni trưởng Đệ nhất Thượng Huỳnh Hạ Liên: “Một cội ba cành sanh trái ngọt”. Thuở ấu thơ của Ni trưởng không được trọn vẹn trong niềm hạnh phúc gia đình, sớm mất cha khi vừa lên 2 tuổi. Mẹ nhọc nhằn thân cò một nách năm con, tần tảo sớm hôm nuôi dạy con khôn lớn. Tuy hoàn cảnh sống chật vật nhưng mấy chị em Ni trưởng cũng được mẹ cố gắng đưa đến trường học cùng chúng bạn. Năm lên 16 tuổi Ni trưởng đã trường chay, 18 tuổi dùng ngọ không ăn điểm tâm sáng, đêm về Người ra đường hẽm gần nhà ngồi thiền, muỗi cắn trân mình kham nhẫn không dám cử động. Mùa hạ, Ni trưởng đến Chùa Ngọc Lâm, Phú Lâm - Quận 6 nghe Đức Tổ sư giảng pháp. Mỗi ngày Người còn phát tâm công quả nấu cơm sớt bát cho chư Tăng tu học trong ba tháng an cư kiết hạ. Duyên lành hội đủ, cô gái đang độ tuổi thanh xuân thấm nhuần giáo lý Phật đà, thức tỉnh về lẽ vô thường giả hợp của cuộc đời, lý tưởng ly trần thoát tục được nuôi dưỡng, ấp ủ trong tâm giữa cuộc sống phồn hoa nơi đất Sài Thành.
Ngán nỗi phồn hoa mộng dệt thành,
Tầm tu nào ngại buổi đầu xanh.
Lên đường giải thoát ly nhà tục,
Nhẹ gót chân không ném gánh tình.
                                                      (NT Huỳnh Liên)
Năm 1951, Người “nhẹ gót chân không ném gánh tình” xuất gia với đức Tổ sư Minh Đăng Quang - vị khai sáng Đạo Phật khất sĩ Việt nam. Ba tháng sau thọ giới Sa di ni được Tổ sư truyền Tứ y pháp và ban Pháp hiệu là Tân Liên, lúc ấy vừa tròn 19 tuổi. Sau khi bước vào đời sống “Khất sĩ”, Người được Tổ sư dạy chơn lý, pháp tu và bắt đầu nếp sống phạm hạnh của một tu sĩ hành trì miên mật. Hằng ngày sống hạnh tùy duyên, trì bình khất thực theo đoàn du tăng khất sĩ do cố Ni trưởng Đệ nhất lãnh đạo.
Khất thực vai mang bình bát đất,
Hoá duyên độ chúng khoác y vàng.
Rưới mưa bác ái nhuần ba cõi,
Soi đuốc từ bi rạng bốn phương.
Nguyện lực đem thân hành chánh Đạo,
Cho đời sớm tỉnh giấc hoàng lương.
                                                                  (NT Huỳnh Liên)
Vì hạnh nguyện độ sanh, mong “cho đời sớm tỉnh giấc hoàng lương”nên đôi chân người nữ tu sĩ tuy có mềm yếu nhưng tâm hạnh rất vững chãi, kiên cường. Có khi Người dừng chân nơi Thị thành hoa lệ, có lúc dời gót về vùng quê hẻo lánh xa xôi, hoặc xuôi về Trung hoặc ngược lên Cao nguyên với những cơn mưa phùn rét mướt để hoằng hóa chúng sanh. Đôi khi buổi khất thực chỉ vỏn vẹn có một trái chuối qua ngày, nếu khá hơn là một ít cơm trắng với muối hột. Lắm lúc khất thực không có phẩm vật phải hái lục bình, rau muống ven sông dùng tạm no lòng. Tối đến dùng tấm y giăng lên làm màn ngồi thiền nghỉ đỡ dưới cội cây.  Đời sống tu sĩ bữa đói bữa no đối với Người là chuyện thường ngày, nhưng niềm tịnh tín Tam bảo vẫn luôn bất động trong Người, luôn kham nhẫn vui chịu với mọi cảnh ngộ, vẫn vững bền vui đạo và sống đạo. Người luôn tâm niệm lấy chúng sanh làm lẽ sống:
Ta đã là người của chúng sanh,
Người nuôi Ta để học gương lành,
Sống đây Ta sống cho muôn loại,
Ta có quyền đâu sống lấy mình.
                                                   (NT Huỳnh Liên)
Có lần Ni trưởng thấy: “Thân mẫu cầm dao bảo trở về nhà, nếu không về bà chém chết. Ni trưởng Châu nói: Thôi em về đi, em về báo hiếu cho mẹ về xác thân, còn chị báo hiếu về tinh thần. Ni trưởng đồng ý, ra đến cổng Tịnh Xá chợt nghĩ sao uổng vậy đã đến xứ Phật mà còn trở về, nghĩ vậy rồi quỳ xuống khóc và nhủ thầm nếu chết thì chết tại đây chứ con không trở về. Liền lúc ấy con dao trên tay mẹ tự nhiên biến mất, mà thế vào đó là bó hoa sen. Thân mẫu nói: mẹ thử con đó, thôi con đem bó hoa sen này vào cúng dường cho Sư cô lớn đi (Ni trưởng Đệ nhất Thượng Huỳnh Hạ Liên)”. Choàng tỉnh dậy, Ni trưởng mới biết mình nằm mơ. Phải chăng? Giấc mơ ấy đã thể hiện căn duyên sâu dày của Người đối với Phật Pháp, tâm Bồ đề vững chắc không lui sụt khi đã chọn con đường xuất gia đầu Phật, theo bước chân du hóa của Đức Tổ sư.
Trải qua thời gian vân du hóa đạo rày đây mai đó theo Tông chỉ của Tổ sư, mỗi chổ trụ 6 tháng rồi chuyển đi nơi khác. Năm 1964, Người về Tổ đình Ngọc Phương, Quận Gò Vấp – TP Sài Gòn học kinh, luật và văn thơ do cố Ni Trưởng Đệ nhất giảng dạy, học văn hóa, hán văn tại trung tâm giáo dục, học thơ phú từ thầy Thuần Phong. Năm 1972, tiếp học Trung Đẳng tại Phật học Ni viện Hoa Quang, do Hòa Thượng Minh Châu làm Tổng vụ trưởng Tổng vụ Giáo dục, Quận Phú nhuận – Sài Gòn.
Song song với việc trang bị kiến thức Phật học và thế học, Ni trưởng tiếp tục hạnh nguyện truyền đăng tục diệm đem đạo vào đời, Người được Giáo hội chỉ đạo về trụ trì các miền Tịnh Xá như: Tịnh Xá Ngọc Bửu – Biên Hòa, Tịnh Xá Ngọc Vinh – Trà Vinh, Tịnh Xá Ngọc Hải – Kiên Giang, Tịnh Xá Ngọc Long – Long Xuyên, Tịnh Xá Ngọc Khánh – Sóc Trăng, Tịnh Xá Ngọc Quãng – Quãng Ngãi, Tịnh Xá Ngọc Cơ – Đà Nẵng, Tịnh Xá Ngọc Sơn – Bồng Sơn, Bình Định.v.v…khắp mọi miền đất nước nơi nào lưu dấu chân Người nơi đó đều được thắp lên ánh sáng chánh pháp cho hàng Tứ chúng nương nhờ. Đồng thời, bằng trái tim từ ái nhân hậu Người còn tham gia các công tác xã hội cứu trợ lũ lụt miền Trung, cùng với quí Ni sư và đoàn Phụ nữ Đòi quyền sống ủy lạo tại: Khám chí hòa, Trung tâm Cải huấn - Thủ Đức, Bệnh viện Chợ quán, Dưỡng Trí viện - Biên Hòa, Kiều bào hồi hương – Tây Ninh, Nạn nhân chiến cuộc - Long thành, Vũng tàu, Đồng bào Cam Lộ tỵ nạn – Bình Tuy…
Năm 1975, lịch sử đất nước sang trang mới đánh dấu nền Độc lập, Tự do hoàn toàn của một Quốc gia. Ni trưởng sống giữa buổi giao thời với nhiều biến cố của thời đại, biết bao cam go thử thách về nội tâm cũng như ngoại cảnh, nhưng ở Người vẫn không nhục chí, sờn lòng càng ngời sáng lý tưởng “Thượng cầu Phật đạo hạ hóa chúng sanh”. Năm 1976, Người về trụ trì Tịnh xá Ngọc Quang tiếp tăng độ chúng. Năm 1982, được Giáo hội giao nhiệm vụ làm giáo thọ dạy Kinh Tứ Thập Nhị Chương, Thập Thiện, Qui Sơn Cảnh Sách và Luật Tỳ Ni, Sa Di bằng Hán văn cho ni chúng làm nền tảng tu học. Lúc bấy giờ, vì nhu cầu Phật sự phát triển Đạo pháp Người mới bắt đầu cầm tiền và giữ tiền.
Sau khi nhận lãnh trách nhiệm trụ trì do Giáo hội giáo phó, với tâm nguyện “Phụng sự chúng sanh là cúng dường chư Phật”, Ni trưởng đã không ngại gian lao, không từ khó nhọc, vượt qua bao trở ngại chướng duyên từng bước trùng tu Tịnh Xá, ổn định đạo tràng nuôi dạy chúng tu học.
Tay nâng bút ghi dòng kỷ niệm,
Tâm chí thành lãnh nhiệm thầy ban,
Về đây chăm sóc đạo tràng,
Giống lành gieo hạt ác gian tận trừ.
Ôi! Gặp phải chùa hư nhà dột,
Chủ tình hình: mối mọt cỏ gai,
Làm sao đảm nhiệm cảnh này,
Đắn đo suy nghĩ đêm ngày lo toan.
Bắt đầu việc sữa sang tu bổ,
…………………………………….
Nhưng gặp lúc đảo điên hoạn nạn,
Kế bên hè kho đạn nổ tung,
Ngôi chùa tan nát hãi hùng,
Thiếc rơi tường đổ não nùng tâm can.
Ôi! Tịnh Xá Ngọc Quang lâm nạn,
Cảnh điêu tàn ảm đạm thê lương!
…………………………………….
Tám năm tu bổ đạo tràng,
Hôm nay Tịnh Xá nghiêm trang hoàn thành.
                                                   (Ký ức kỷ niệm – NT Tân Liên)
Bên cạnh việc trùng tu Tịnh Xá, Người còn nhắc nhở ni chúng phải tâm niệm lời Phật dạy để tu tập, hằng gìn giữ giới luật một cách cẩn trọng như gìn giữ tròng con mắt của mình, có như thế người xuất gia mới đền đáp được Tứ trọng ân trong muôn một. Những lúc Bố tát Người nói: “Các cô phải ráng tu cho có đức, học cho thành tài, làm cho ngọn đèn Chánh pháp được rạng ngời mãi mãi, thân tôi dù có nát ra tro bụi tôi cũng không màng”. Chính tâm nguyện ấy, nên hàng đệ tử được Người tế độ trong nước và ngoài nước cũng không ít. Nhờ sống trong sự thương yêu, đùm bọc và giáo dưỡng của Người một số vị đã trưởng thành trong đạo pháp đều có thể tham gia Phật sự. Có những vị lãnh trọng trách trụ trì các Tịnh Xá, hoặc tham gia Phật sự trong và ngoài tỉnh. Cũng có vị đảm nhiệm Phật sự hoằng pháp giáo dục trong Hệ phái Ni giới. Cảm nhận đức từ và tinh thần vị tha sâu sắc của Người nên cư gia bá tánh đến Tịnh xá quy y Tam bảo ngày càng đông, mong muốn học Phật  pháp ngày càng nhiều. Vì lẽ đó, Ni trưởng tổ chức cúng hội, mở đạo tràng Niệm Phật, khóa tu Bát quan trai đáp ứng nguyện vọng cho Phật tử về tu tập hằng tháng vào ngày rằm, ba mươi, mùng tám, hai mươi ba và các ngày chúa nhật.
Hạnh nguyện người lái đò đưa khách sang sông sao mà mênh mông quá. Tuy tuổi cao, sức yếu, nhiều bệnh tật, Ni trưởng vẫn không ngừng đóng góp công sức mình cho đạo pháp và dân tộc. Người thuộc hàng Giáo phẩm trong Hệ phái đảm nhiệm chức vụ Trưởng Ban Tăng Sự, kiêm ban giám luật Ni giới Hệ phái Khất sĩ Tổ đình Ngọc Phương, trực tiếp tham gia điều hành phát triển Hệ phái Ni giới. Đồng thời Người còn tham gia công việc Phật sự của Giáo hội như: - Phó Trưởng Phân ban Ni giới Trung Ương, đặc trách Ni giới Hệ phái Khất sĩ. - Chứng minh Phân ban Ni giới Tỉnh Tiền giang. - Chứng minh Ban từ thiện Phật giáo Tỉnh Tiền Giang. - Nguyên Ủy Viên Tài chánh Ban Đại Diện Phật Giáo Thị Xã Gò Công. Mặc khác, Người còn được cung thỉnh vào hàng Thập sư khi có các giới đàn của Tỉnh, của Hệ phái tổ chức. Khi các khóa tu truyền thống Giới – Định – Tuệ trực thuộc Hệ phái Ni giới mở ra, Người đều có mặt để chứng minh sách tấn cho thiền sinh tu tập.
 Với bi nguyện lợi sanh, Ni trưởng luôn quan tâm giúp đỡ đồng bào có hoàn cảnh khó khăn, chia sẽ, xoa dịu nỗi khổ thiếu thốn của những mãnh đời bất hạnh. Vào các dịp Lễ Phật Đản, Lễ Vu Lan, Tết Nguyên Đán đều có chương trình tặng quà cho người mù, nhiễm chất độc da cam, người nghèo ăn tết. Cho máy xe nhang, xe lăn, xe lắc cho người khuyết tật. Nấu bếp ăn từ thiện cho bệnh nhân của Bệnh viện Đa khoa Thị xã Gò công. Cấp tập, viết, quần áo và tiền học bổng cho học sinh nghèo. Xây nhà tình thương, làm cầu nông thôn, cứu trợ lũ lụt...Quả thật! Người sống đúng với tâm hạnh:
Mượn đời manh áo chén cơm,
Tặng đời tất cả tâm hồn thanh cao.
Ngoài ra, những lúc tâm tư lắng động, cõi lòng thênh thang, tỉnh lặng… Ni trưởng cảm tác viết nên những bài văn, những dòng thơ như: 1. Đấng cha lành của nhân loại, 2. Sự ra đời của đức Bổn sư, 3. Lòng biết ơn Thầy Tổ đã dày công dạy dỗ, 4. Truyền trao giới pháp, 5. Lời khuyên, 6. Niềm vui… diễn tả niềm vui, cảm xúc về sự hiện hữu của Đức Phật ở thế gian, cảm nhận về công ơn Thầy tổ hoặc cảnh tỉnh mọi người đến với Đạo tu học.
Tuy đã ngoài 80 tuổi, thân tứ đại yếu dần theo năm tháng, nhưng trí Người vẫn minh mẫn, thỉnh thoảng vẫn làm thơ xuân tặng Phật tử vào dịp Tết cổ truyền. Nếp sống hằng ngày của Người vẫn toát ra nét bình dị, sáng trong với chiếc áo vải thô, bạc màu khoác trên mình. Mỗi ngày như mọi ngày, chất đơn sơ mộc mạc thường nhận thấy trong từng bữa ăn, đại chúng dùng như thế nào Người cũng dùng như thế ấy không cầu kỳ riêng biệt. Người nói: “Nhớ lại buổi đầu Thầy Tổ khó khổ vì Đạo, nên tôi không dám xài sang, phải tiết kiệm để dựng xây tự viện, phát triển Tam bảo làm cho dòng chảy Phật pháp được trường lưu và tha nhân được lợi lạc”. Thanh bần lạc đạo là nếp sống thường nhật của Người. Thật đúng như kinh Pháp cú 54 có ghi:
Hương các loài hoa thơm,
Không ngược bay chiều gió,
Nhưng hương người đức hạnh,
Ngược gió khắp tung bay.
Có thể nói, tâm của một vị hành Bồ tát đạo như biển cả bao la, Ni trưởng luôn gắn kết giữa Đạo và đời. Suốt cuộc đời luôn lấy tinh thần vô ngã vị tha làm nền tảng để phát huy đạo lực. Nghĩ đến tiền đồ Phật pháp và thế hệ kế thừa Người luôn trăn trở, quan tâm đến sự nghiệp giáo dục Tăng tài có đủ phẩm chất đạo đức và trí tuệ để phụng sự cho ngôi nhà chánh pháp.
Hơn sáu mươi năm cống hiến cho đạo pháp, phục vụ cho chúng sanh trong thầm lặng, nơi Người thể hiện rõ nét đức Từ bi hỷ xả. Công hạnh Ni trưởng là bài pháp sống luôn tỏa sáng, xứng đáng là bậc mô phạm của Ni giới.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây