CÂN BẰNG GIỮA ĐẠO ĐỨC KINH DOANH VÀ LỢI NHUẬN KINH TẾ

Thứ bảy - 09/03/2019 08:58
CÂN BẰNG GIỮA ĐẠO ĐỨC KINH DOANH VÀ LỢI NHUẬN KINH TẾLý Hồng Tuyền
CÂN BẰNG GIỮA ĐẠO ĐỨC KINH DOANH VÀ LỢI NHUẬN KINH TẾ
 
Lý Hồng Tuyền

Tóm tắt
Bài viết đưa ra hướng cân bằng giữa đạo đức kinh doanh và lợi nhuận kinh tế thông qua một số giải pháp với mục đích tịnh hóa nguồn nhân lực kinh doanh theo chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp trên tinh thần Phật giáo nhưng vẫn đảm bảo nguồn lợi nhuận kinh tế.
1. Đạo đức nghề nghiệp - một vấn nạn của xã hội
Theo Ruth Chadwick, định nghĩa về đạo đức nghề nghiệp như sau: “Những người chuyên nghiệp và những người làm việc trong các nghề được công nhận, thực hiện kiến thức chuyên môn và kỹ năng. Việc sử dụng kiến thức này phải được điều động thế nào khi tạo một sự phục vụ cho công chúng để có thể được xem là một vấn đề đạo đức và được gọi là đạo đức nghề nghiệp.”[1]
Đây là thước đo chuẩn mực định giá tác phong, hành xử về nghề nghiệp, nhằm đảm bảo quyền lợi chân chính, cạnh tranh công bằng theo pháp luật quy định từng ngành, nghề với mục đích phát triển bền vững cho ngành nghề mình đang sở hữu.
Thế nhưng, nhịp sống ngày nay bị dao động bởi nền kinh tế thị trường, tốc độ phát triển kinh tế mở rộng, khoa học kỹ thuật nâng cao, những tệ nạn phi đạo đức trong nghề nghiệp cũng len lỏi xâm nhập. Đặc biệt, vấn nạn “thực phẩm bẩn” diễn ra hàng ngày, hàng giờ trong xã hội, chúng được bày bán tràn lan từ chợ, đến cửa hàng, trên vỉa hè, bên lề phố,… đang đe dọa đến đời sống, sức khỏe của con người. Thời gian qua, đất nước chúng ta liên tục xảy ra nhiều biến cố từ việc nước tương nhiễm 3 - MCPD, trứng gà giả, gạo giả, trái cây tiêm thuốc, những loại thực phẩm nhiễm độc chất trong động thực vật, cho đến thạch rau câu vị khoai môn nhãn hiệu Taro có chất phụ gia DEHP, một chất có nguy cơ gây ung thư… Hàng loạt các chủng loại hóa chất vô danh được thay thế các nguyên liệu chính trong sản xuất như: cà phê bẩn, bột cam dơ, không cần bất kỳ hạt cà phê hay quả cam nào, trong ít phút “phù phép” đã trở thành cà phê, bột cam thơm ngon đến tận tay người tiêu dùng.
Theo thống kê từ Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế), mỗi năm Việt Nam có khoảng 250 - 500 vụ ngộ độc thực phẩm với 7.000 - 10.000 nạn nhân và 100 - 200 ca tử vong. Thống kê của Bộ Y tế cũng chỉ ra rằng, mỗi năm Việt Nam có khoảng 150.000 ca mới mắc bệnh và trên 75.000 trường hợp tử vong do ung thư, trong đó có nguyên nhân từ việc sử dụng thực phẩm “bẩn” (thực phẩm có sử dụng chất kích thích, chất tăng trọng, thuốc bảo vệ thực vật quá dư lượng).[2] Việc ảnh hưởng đến sức khỏe con người có nhiều nguyên nhân, nhưng “thực phẩm bẩn” vẫn là nguồn chính yếu đáng lo ngại. Vấn đề nêu trên, trách nhiệm thuộc về ai? Câu hỏi này như là một “thủ tục” để an ủi người tiêu dùng cho đến nay vẫn còn là ẩn số.
Những phân tích trên cho thấy đây chỉ là phần nổi của “tảng băng chìm” về thực phẩm bẩn, còn vô số những việc khác chưa được phát hiện. Mặc dù, các cơ quan quản lý chuyên trách về vệ sinh an toàn thực phẩm tăng cường nhiều đợt thanh tra, kiểm tra nhưng vẫn chưa có biện pháp hữu hiệu để chế tài những hành vi bất chấp quy định vệ sinh an toàn thực phẩm của những nguồn sản xuất. Vì thế, đây là một vấn nạn đáng lo ngại chung cho toàn xã hội.
2. Nền tảng cơ bản cân bằng giữa nghề và lợi
Hiện nay, với cơ chế thị trường công nghiệp hóa hiện đại hóa, cơ cấu nền kinh tế đa thành phần, doanh nghiệp đổ vốn đầu tư vào các ngành phát triển đa dạng, sản xuất, chế biến, buôn bán, dịch vụ… Đây là những ngành có nguồn tiêu thụ rất lớn, lợi nhuận cao. Để không đi chệch mục đích tốt đẹp ban đầu, đạo đức nghề nghiệp phải luôn ngự trị trong tư duy, hành động của doanh nghiệp, nếu không tiết chế lòng tham, rất dễ dàng trở thành nghề “bất nhân”. Vì thế, tìm ra giải pháp thích hợp để cân bằng giữa nghề và lợi là việc không đơn giản.
Trên phương diện Phật giáo, Đức Phật thấu rõ mục đích của nghề nghiệp giúp con người ổn định cuộc sống vật chất, thăng hoa đời sống tinh thần, tạo nguồn phước thiện, đem đến cho người kinh doanh niềm hỷ lạc cả ba giai đoạn: Dự kiến, tiến hành và kết quả, đều phù hợp, đúng đắn và đạt hiệu quả cao.
Ba giai đoạn này được thực thi trên nền tảng cơ bản bằng “nếp sống bỏ ác hành thiện” thông qua thân - khẩu - ý để kiến tạo đạo đức cá nhân, giúp con người định hình về nghề, ổn định về lợi trong kinh doanh:
  • Không thực hành bốn việc: Trộm cắp, sát sinh, tà hành, nói dối.
  • Không hành động vì bốn động cơ: Tham, sân, si, sợ hãi.
  • Không phung phí tài sản theo bốn cách: Rượu chè; cờ bạc; đam mê sắc; kết bạn với kẻ xấu.
Với “ba không” trên, con người sẽ hiệu chỉnh mọi hành vi bất thiện, xây dựng cuộc sống hạnh phúc đích thực. Sự phân định hạnh phúc hay khổ đau trong kinh doanh là kết quả của những hành động thân, khẩu, ý của cá nhân. Cũng thế, sự thành đạt của nghề nghiệp không thể thẩm định trên hình thức, quy mô, lợi nhuận mà nghề nghiệp ấy được minh định qua giá trị lợi ích cho bản thân và tốt đẹp cho xã hội.
Đối với những người không có lương tâm trong sản xuất, nghĩ lợi trước mắt, hành động này Phật giáo sẽ quy trách nhiệm cho từng cá nhân. Mỗi cá nhân không ý thức trách nhiệm bản thân nên dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, vì lòng tham vô hạn mà đánh mất nhân tâm.
Bên cạnh đó, để nuôi dưỡng đạo đức kinh doanh, Đức Phật hướng dẫn người kinh doanh đầu tiên phải nắm giữ hạnh phúc thông qua việc kiểm soát chi tiêu tài chánh trong gia đình từ những lợi nhuận kinh tế: “Chi tiêu hằng ngày 1/4. Khuếch trương việc kinh doanh 1/2; Phòng khi có cấp sự 1/4” (Tăng Chi Bộ).
Thiết nghĩ rằng, một nguồn tài chính ổn định như thế, sẽ đem lại đời sống hạnh phúc cho cá nhân, gia đình và ổn định nền kinh tế xã hội. Cách thức duy trì sự nghiệp bằng cách quân bình lợi tức thu nhập một cách khoa học, sẽ giúp con người không âu lo trong cuộc sống, không sợ thiếu hụt, lãng phí vô ích. Những người bị phá sản, thường không kiểm soát được tài chánh, chi tiêu thoải mái vào những việc xa xỉ, những việc đáng chi tiêu thì biện ra nhiều lý do để từ chối. Nam giới thường phải chi vào “khoản đen” cho những việc không tên vô bổ, phụ nữ thường lãng phí vào việc mua sắm, làm đẹp… Đến khi ngân sách rỗng mới chợt nhận ra, lúc đó không còn khoản tài chính nào để lắp vào, dẫn đến phá sản.
Các nhà Kinh tế học phương Tây đã khảo sát so sánh hai nền kinh tế phương Tây và kinh tế Phật giáo[3], cho thấy rõ những điểm tồn tại tích cực và hạn chế. Từ đó, người kinh doanh có thể cân bằng giữa nghề và lợi một cách thỏa đáng: “Kinh tế phương Tây: Tối đa lợi nhuận, tối đa ham muốn, tối đa phát triển thị trường, tối đa sử dụng công công cụ, lớn hơn thì tốt hơn, nhiều hơn là nhiều hơn. Kinh tế Phật giáo: Tối thiểu khổ đau, tối thiểu ham muốn, tối thiểu bạo lực, tối thiểu sử dụng công cụ, nhỏ hơn thì tốt hơn, ít hơn là nhiều hơn”[4].
Nền kinh tế nào cũng lấy mục đích lợi nhuận làm chính, phương Tây với việc phát triển ngành nghề đa dạng, nghiệp vụ chuyên môn, khoa học kỹ thuật tối tân, tham vọng cho “tối đa lợi nhuận” là điều tất yếu. Bằng chiến lược mở rộng thị trường, các doanh nghiệp không ngừng cạnh tranh thương hiệu, quảng bá sản phẩm dưới mọi hình thức, mục đích xâm nhập thị trường quốc tế, chiếm lĩnh người tiêu dùng, có được lợi nhuận tối đa.
Để đạt được lãi xuất cao, giá thành thấp, sản lượng nhiều, khách hàng ưa chuộng… các doanh nghiệp đã cố tình “bỏ lơ đạo đức” để “cầm lấy cơ hội lợi nhuận” bằng nhiều kế sách kinh tế “vén rào” Pháp luật. Đây là vấn đề nan giải và cũng là mấu chốt để các ngành, các doanh nghiệp vi phạm Pháp luật.
Chúng ta cũng biết, khi giá thành thấp, chắc rằng chất lượng cũng tương đương và độ an toàn cũng tương ứng. Đem đến lợi nhuận cao, các nhà kinh tế phải nghĩ ra phương thức chiến lược “tối đa sử dụng công công cụ” tức phải trang bị thật nhiều những máy móc tối tân, hiện đại với tốc độ sản xuất ra sản phẩm siêu tốc. Đồng thời, thay thế chất liệu có giá thành cao bằng những chất liệu tạp, hóa chất rẻ, chất gây độc hại vượt quá quy định pháp luật. Những nguyên liệu này thường phải nhập lậu, sản xuất lậu, sử dụng những thủ thuật giả, tạo mẫu mã cầu kỳ bắt mắt để người tiêu dùng lầm tưởng, những việc làm trên, chỉ hướng về lợi nhuận, bất chấp thủ đoạn, gây biết bao hậu quả khó lường.
Đối với kinh tế Phật giáo, lợi nhuận vẫn được ưu tiên, nhưng đạo đức nghề nghiệp là hàng rào giới hạn, được xây dựng trên nền tảng “nhân quả, nghiệp báo” đã làm cho các doanh nghiệp “vung tay” trong mức độ cho phép, lợi nhuận tuy không cao như trên, nhưng chắc rằng những lo âu, phiền muộn, bất an sẽ không tồn tại. Vì thế, các nhà nghiên cứu xác định kinh tế Phật giáo làm cho “khổ đau con người sẽ giảm thiểu tối đa”.
Chúng ta xét nghĩ, phát huy tối đa lợi nhuận là “lòng ham muốn tột độ”, đây là điểm chính yếu thúc đẩy con người mất lý trí, bất chấp nhân quả, rơi vào vòng lao lý. Một số nước hiện nay vẫn diễn ra chiến tranh, tranh chấp vùng đất, vùng biển, vùng trời… được trá hình bằng nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng chắc chắn ẩn chứa bên trong vì lợi ích kinh tế. Có thêm địa phận đồng nghĩa là tăng thêm lĩnh vực thị trường, thu nguồn lợi nhuận cho nước mình nói chung, cho cá nhân nói riêng, dẫn đến, đấu tranh, bạo lực, tranh giành quyền “tối đa phát triển thị trường”.
Phật giáo, với lợi nhuận tương đối, hợp pháp vì họ biết mọi hành động đều dẫn đến hậu quả, nguyên nhân chính yếu là lòng tham, nên họ “bớt những ham muốn” để cuộc sống được nhẹ nhàng. Phật giáo, kinh doanh để có nguồn lợi nhuận sống, phục vụ xã hội trên tinh thần “từ bi, trí tuệ”, những hành động chiếm lĩnh thị trường bằng bạo lực không được chấp nhận, nên “Tối thiểu bạo lực” trong kinh tế với tâm niệm đem nghề nghiệp phục vụ lợi ích cá nhân và cộng đồng, luôn nghĩ đến sức khỏe người tiêu dùng. Bên cạnh đó, Phật giáo hạn chế tối đa việc hoang phí, tận dụng tối đa những công cụ hiện có “tối thiểu sử dụng công công cụ”. Kinh tế Phật giáo không chủ trương bành trướng, chỉ quan tâm đến việc làm tốt, làm tròn, có trách nhiệm, khả năng mình thế nào thì đầu tư kinh doanh tầm cỡ tương đương, quản lý thật tốt, tạo nền móng thật vững, uy tín tràn đầy, thu hút nhiều khách hàng, như vậy: “Nhỏ hơn thì tốt hơn - Ít hơn là nhiều hơn” lợi nhuận tuy ít, nhưng an lạc sẽ nhiều hơn.
Đối với quan niệm phương Tây, càng bành trướng lãnh thổ, thâu tóm thị trường, đem lợi nhuận tuyệt đối, luồng lách những khe hở Pháp luật, càng “lớn hơn thì tốt hơn, nhiều hơn là nhiều hơn”, vì sản lượng càng nhiều, lợi nhuận sẽ càng lắm và như vậy lợi nhuận nhiều thì sự bất an, lo âu nhiều hơn.
Vì thế, phát huy tiềm năng kinh doanh kết hợp những nguyên tắc đạo đức Phật giáo thì các ngành, nghề… sẽ được cân bằng trên hai phương diện vật chất lẫn tinh thần; vật chất trợ duyên cho nền kinh tế ổn định, tinh thần tạo nên cuộc sống an vui. Điều này cần phải có sự hỗ trợ tích cực, mật thiết từng cá nhân tham gia kinh tế, vì chiến lược kinh tế hữu dụng khi nó được thực thi nghiêm túc bởi từng cá nhân trong nghề, bằng không những phương án chỉ nằm trên triết lý.
3. Chung tay “tịnh hóa” nguồn nhân lực kinh doanh
Hiện nay, con người trực diện với vấn nạn “thực phẩm bẩn” - một vấn nạn không riêng ở Việt Nam mà trở thành mối đe dọa toàn cầu. Vì thế, chung tay “tịnh hóa” nguồn nhân lực kinh doanh theo hướng tích cực, thông qua việc nâng cao ý thức đạo đức nghề nghiệp theo tinh thần nhân quả Phật giáo là việc rất cần thiết. Giáo lý “Nhân quả” chú trọng đến hành vi thiện ác, trong đó vấn đề trọng yếu là trách nhiệm cá nhân liên quan trực tiếp đến việc kinh doanh, sản xuất, nên mọi hành động phải cẩn trọng, tròn trách nhiệm, nghĩa vụ, không vì lợi riêng mà bán rẻ nhân phẩm nghề nghiệp. Vì thế, đạo đức Phật giáo được ứng dụng vào nền kinh tế sẽ tối thiểu những tệ nạn trong kinh doanh và sản xuất.
Trên bình diện thực tế, hình ảnh Ni giới xuất hiện trong mọi lĩnh vực, từ Đạo pháp cho đến ngoài xã hội. Tại tỉnh Tiền Giang, chư Ni tham gia công tác xã hội trong nhiều phương diện: Cứu trợ, cứu tế, hỗ trợ phụ nữ nghèo, mở Trường Mầm non miễn phí, khám bệnh phát thuốc, bát cháo, bếp ăn tình nghĩa, mổ mắt từ thiện, nuôi các bà mẹ Việt Nam anh hùng, Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo, quan tâm đến người khuyết tật, quỹ tài trợ học sinh nghèo hiếu học, xây nhà tình thương, xây cầu, sửa đường…

Bên cạnh đó, Ni giới hiện nay đã “vượt ra” khỏi khuôn viên nhà bếp, không còn quanh quẩn với công tác từ thiện thuần túy, mà vươn tầm theo sự tiến bộ của xã hội như: Ni trưởng Tịnh Nghiêm, Ni sư Huệ Năng, Ni sư Minh Nhẫn, Ni sư Tuyết Liên, Ni sư Tắc Hoa, Ni sư Huệ Thông, Ni sư Tịnh Thủy, Ni sư Hạnh Liên, Sư cô Trung Hương, Sư cô Diệu Tâm… tham gia tích cực các ban ngành của Giáo hội, đồng thời thể hiện tinh thần hội nhập qua nhiều lĩnh vực.
Vì thế, tầm ảnh hưởng của Ni giới hiện nay đối với xã hội nói chung, tín đồ Phật tử nói riêng không nhỏ, việc chư Ni chung tay tịnh hóa ý thức nguồn nhân lực kinh doanh thông qua “thân giáo, khẩu giáo, ý giáo” trên pháp tọa và trong cuộc sống là điều rất cần thiết.
Xưa nay, Phật tử đi chùa thường là phụ nữ - người chăm lo mâm cơm cho gia đình, chư Ni có thể hướng dẫn Phật tử chọn lựa lối sống lành mạnh bằng cách ăn chay, chọn lựa thực phẩm an toàn, tự trồng rau, củ, quả sạch, đồng thời giáo dục Phật tử về đạo đức kinh doanh, để họ ý thức được những suy nghĩ, lời nói và hành động của bản thân, chính là nguồn gốc phát khởi khổ đau hoặc hạnh phúc trong cuộc sống, như lời Phật dạy:
Tự mình, điều ác làm,
Tự mình làm nhiễm ô,
Tự mình không làm ác,
Tự mình làm thanh tịnh.
Tịnh, không tịnh tự mình,
Không ai thanh tịnh ai.
(Pháp Cú 12)

Tự mình không làm ác,
Tự mình làm thanh tịnh.
Tịnh, không tịnh tự mình,
Không ai thanh tịnh ai.
(Pháp Cú 12)
Tinh thần này, thể hiện được khả năng tự làm chủ “thân tâm” trước lợi nhuận phi pháp. Vì thế, nền tảng cơ bản cho chiến lược kinh tế toàn cầu là “đạo đức nghề nghiệp”, mỗi cá nhân tự ý thức trách nhiệm trong kinh doanh sẽ không xuất hiện những hành vi vì lợi nhuận mà bất chấp mọi thủ đoạn.
Có thể nói, chung tay “tịnh hóa” nguồn nhân lực kinh doanh cần phải đồng bộ kết hợp trên mọi phương diện, từ việc tuyên truyền thông tin về các nguồn thực phẩm sạch, cảnh giác các nguồn thực phẩm bẩn; mà còn giáo dục ý thức đạo đức nghề nghiệp; hướng dẫn con người tạo nếp sống thiện theo Ngũ giới, Thập thiện, Nhân quả... tạo thành một sức mạnh đẩy lùi những bất hạnh khổ đau về thân bệnh, giảm thiểu những lo âu, sợ hãi về tinh thần, tất cả chung tay vì một cộng đồng “thân khỏe, tâm an, trí sáng”.


 

[1] Tham khảo: Giáo trình giảng dạy môn học “Phật Giáo Ứng Dụng” của HT. Thích Giác Toàn, tr. 22
[2] http://enternews.vn/moi-nam-viet-nam-co-7-000-10-000-nan-nhan-ngo-doc-thuc-pham-104619.html.
[3] Kinh tế Phật giáo được xem là phương thức tạo ra tài chính theo tinh thần Phật giáo.
[4] Tham khảo: Giáo trình giảng dạy môn học “Phật Giáo Ứng Dụng” của HT. Thích Giác Toàn, Lớp Cao học Phật giáo, Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM, tr.24-25.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây