NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA PHẬT GIÁO

Thứ bảy - 26/10/2019 03:48
NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA PHẬT GIÁO
Thượng toạ Thích Thọ Lạc Trưởng Ban văn hoá Trung ương GHPGVN
NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA PHẬT GIÁO
Thượng toạ Thích Thọ Lạc
Trưởng Ban văn hoá TƯ - GHPGVN

Những nghiên cứu về Phật giáo hiện đại gần đây cũng như thực tế cho thấy: Giới nữ trong Phật giáo đã, đang, ngày càng tham gia tích cực và có nhiều đóng góp quan trọng cho sự phát triển chung của Phật giáo.  Sự đóng góp của họ trải dài trên mọi lĩnh vực, từ học thuật, tu tập cho đến các hoạt động xã hội, thậm chí cả công cuộc cứu quốc. Những đóng góp đó góp phần xác định lại vai trò ngày một quan trọng của người phụ nữ trong Phật giáo.
Khi nghiên cứu Phật giáo, thú thực tôi rất quan tâm vấn đề “Quan điểm của Phật giáo về phụ nữ”. Và thật tuyệt vời, ngay từ khi đức Phật Thích Ca ra đời, xây dựng nên một tôn giáo bình đẳng, vị tha. Ngài phủ nhận giai cấp bất công, đem quan điểm bình đẳng để tiếp xúc mọi thành phần trong xã hội. Từ đó, Ngài đã mở ra cho nữ giới con đường giải phóng, không những ra khỏi thân phận đen tối thấp hèn, lệ thuộc vào nam giới, mà còn ra khỏi ngục tù bản ngã nhỏ hẹp để đạt đến Niết bàn. Khi nhìn nhận về Phụ nữ, Ngài đề cao quyền bình đẳng của người phụ nữ trên ba phương diện: bình đẳng trong các quan hệ xã hội, bình đẳng trong gia đình, bình đẳng về mặt chứng đắc. Ngài nhấn mạnh: “Chúng sinh có cùng một bản thể, tất cả chúng sinh đều có Phật tính. Sự khác biệt giữa giới tính nam nữ chỉ là thứ yếu, và sự giác ngộ của tâm tính mới là quan trọng nhất”. Đó là quan niệm cốt lõi của Phật giáo về Phụ nữ.
Nhìn lại lịch sử truyền giáo, Phật giáo truyền vào Việt Nam qua hai ngả: từ Ấn Độ và từ Trung Hoa. Theo tương truyền, đạo Phật đã được người Việt biết đến từ những thế kỷ cuối cùng trước công nguyên, khi Văn Lang – Âu Lạc chưa bị rơi vào ách thống trị của phong kiến phương Bắc; Đến thời hai Bà, đầu công nguyên, khi đất nước ta bắt đầu bị quân phương Bắc xâm lược thì hình ảnh cứu quốc của các vị Nữ tư sĩ Việt đã xuất hiện, như Ni sư Phương Dung, Bát Nàn...; Đến thế kỷ thứ VI, Luy Lâu đã trở thành một Trung tâm Phật giáo lớn của khu vực. Điều đặc biệt là, ngay từ những năm tháng đầu tiên của Đạo Phật trên đất Việt cổ, bóng dáng người phụ nữ đã in rất đậm, vai trò của người phụ nữ đã trở nên vô cùng quan trọng, góp phần tạo nên sắc thái riêng của Phật giáo Việt Nam.
Khi xem xét vấn đề NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA PHẬT GIÁO, tôi xin bàn đến 2 vấn đề: 1 là hình tượng của phụ nữ Việt Nam trong Đạo Phật, trong nền Văn hóa Việt Nam. 2 là hình tượng người Phụ nữ Việt Nam trong sinh hoạt Văn hóa – Phật giáo đời thường.
1. Hình tượng người phụ nữ Việt Nam trong đạo Phật, trong nền Văn hóa dân tộc
Một là: Tinh thần hộ quốc an dân của các Nữ tu sĩ Việt
Tinh thần hộ quốc an dân, đạo pháp với dân tộc được hình thành ngay từ khi mới du nhập của Phật giáo vào Việt Nam nói chung, điển hình qua hình ảnh các vị nữ tu sĩ Việt nói riêng. Theo cuốn thiền phả và 23 đạo sắc phong của Chùa Yên Phú, Liên Ninh, Thanh Trì, Hà Nội thì Ni sư Phương dung còn gọi là Công chúa Phương Dung đã cho hai vị đệ tử tên là Trung Vũ và Đài Liệu tòng quân dẹp giặc phương Bắc theo lời hiệu triệu của hai Bà Trưng. Sau khi chiến thắng, đã được hai Bà Trưng ban tặng nhiều mẫu ruộng cho chùa Yên Phú và đến thời Lê Đại Hành có chủ trương truy tặng những người có công với đất nước trong giai đoạn quá khứ, thì Ni sư Phương Dung được tôn phong làm Quốc Mẫu và hai vị đệ tử được tôn phong làm tả tướng quân và hữu tướng quân. Sau này được dân thôn Yên Phú xây đền tôn thờ Ni sư Phương Dung và hai vị đệ tử làm thành hoàng làng, và được bộ lễ của triều đình thời phong kiến đến dâng lễ tri ân vào những ngày kỵ hội từ ngày 5 đến 7 tháng 11 Âm Lịch hàng năm. Hình ảnh Bát nàn công chúa ở Thái Bình cũng tương tự. Qua đó cho thấy tinh thần hộ quốc an dân của các nữ tu sĩ Việt đã xuất hiện rất sớm trong lịch sử Phật giáo Việt Nam.
Hai là: Hình tượng Phật Mẫu Man Nương và hệ thống thờ Tứ Pháp
Mẫu Man Nương và hệ thống thờ Tứ pháp là sự hỗn dung của tín ngưỡng thờ các nữ thần nông nghiệp, thờ các hiện tượng tự nhiên và tín ngưỡng phồn thực của cư dân nông nghiệp lúa nước và đạo Phật của Ấn Độ. Nói cách khác, các nữ thần của tín ngưỡng bản địa đã được Phật hóa, được mang Phật tính song vẫn vô cùng gần gũi với cư dân. Họ vốn là Bà Dâu, Bà Đậu, Bà Dàn, Bà Tướng nay trở thành Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện thờ ở bốn ngôi chùa, quy tụ quanh Phật Mẫu Man Nương …Phật Mẫu có thể xem như hình ảnh của người Mẹ khởi nguyên vốn xuất hiện rất sớm (Nữ Thần trông coi núi Ba Vì) rồi hỗn dung với Phật giáo mà ra đời hệ thống thờ Tứ Pháp và phát triển thêm một bước nữa trong Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt sau này. Chùa Dâu xứ Kinh Bắc xưa kia là nơi thường tổ chức các lễ cầu mưa.
Ba là: Hiện tượng Phật nữ trong Phật giáo Việt Nam
Trước hết là hình tượng Phật Bà Quan Thế Âm: Theo Phật giáo Ấn Độ, Quan Thế Âm là một vị Phật giới tính nam. Khi du nhập vào Giao Châu và vùng đất phía nam Trung Hoa thì vị Phật này được biến đổi sang hình tướng nữ và trở thành Phật Bà Quan Âm hay Quan Thế Âm Bồ Tát. Người Việt gọi giản dị là “Phật Bà”, hiện thân của Đức Từ Bi, cứu khổ, cứu nạn, mà người phụ nữ là người đau khổ nhất, cần cứu vớt nhất. “Phật Bà” cũng là hiện thân của một người Mẹ hiền, của tình mẫu tử thiêng liêng không một tình yêu thương nào sánh nổi.
- Hiện tượng Bà Chúa Xứ thờ ở Núi Sam, Châu Đốc cũng là một minh chứng cho xu hướng “Nữ tính hóa” này. “Bà Chúa Xứ” chính là người Mẹ xứ sở thiêng liêng của cả vùng Nam bộ. Trong tâm thức dân gian, “Bà Chúa Xứ” cũng được coi như một “Phật Bà Quan Âm” vậy.
- Sự hóa thân của Phật Bà vào các hình tướng nữ:
Quan Âm Thị Kính, Quan Âm Tống Tử, Bà Chúa Ba Chùa Hương… đều là hóa thân của Quan Thế Âm Bồ Tát để cứu độ chúng sinh. Họ được nhân dân tôn thờ như hình tượng tiêu biểu của những người vợ dịu hiền, chịu thương chịu khó như Thị Kính, người con gái hiếu thảo hết lòng yêu thưong cha mẹ như Bà Chúa Ba, đức hy sinh cao cả của họ đã lay động cả Thần, Phật, đất trời. Phải chăng, dân gian đã mượn hình tượng Quan Thế Âm Bồ Tát để nói lên khát vọng được thấu hiểu và cứu vớt của những người phụ nữ khổ đau trong xã hội, cũng như khẳng định phẩm hạnh đáng trân trọng của họ. Nỗi khổ đau oan trái ấy chỉ có sức mạnh và tình yêu thương vô bờ bến của Phật Bà mới cứu vớt nổi. Một số nơi như: Chùa Thiên Mụ ở Huế, Tháp Bà ở Nha Trang, núi Bà Đen ở Tây Ninh v.v…Vào trong các ngôi chùa, ta lại thường thấy có Ban thờ Mẫu. Đó là sự hòa hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu của cư dân bản địa.
  • Nguyên Phi Ỷ Lan– cô Tấm của xứ kinh Bắc, người có công chấn hưng đạo Phật thời Lý
Ỷ Lan Hoàng Thái Hậu vốn xuất thân từ một làng quê Kinh Bắc – cái nôi của Phật giáo Việt Nam với những ngôi chùa cổ nổi tiếng như chùa Dâu, chùa Keo, chùa Bút Tháp…Vốn có tâm Phật, khi trở thành Nguyên Phi, rồi Hoàng Thái Hậu, lại sống trong bầu không khí xã hội tôn vinh Phật giáo, bà đã phát tâm xây dựng hàng trăm ngôi chùa lớn nhỏ. Tính đến năm 1115, bà đã cho xây cất 150 ngôi chùa, đền, trong đó có chùa Từ Phúc ở quê hương Thổ Lỗi... Không chỉ sùng đạo Phật, góp công xây dựng nhiều ngôi chùa, vốn thông minh, bà còn nghiên cứu nhiều về đạo Phật. Sử sách cũng nói tới việc bà hay đàm đạo với các nhà sư về Phật pháp, chính nhờ câu chuyện giữa bà và các vị sư thời Lý mà đến nay mới biết được gốc tích sự truyền bá đạo Phật vào Việt Nam. Bà cũng nghiên cứu về văn chương, viết những bài kệ, có những câu kệ của bà được nhiều người biết đến và còn lưu truyền tới ngày nay.
Xuất thân mồ côi, bà hiểu thấu những khổ đau của người nông dân nên bà đã mở tấm lòng từ bi, cho “phát tiền ở kho Nội Phủ để chuộc những con gái nhà nghèo đã phải bán đi ở đem gả cho những người góa vợ”. Chẳng thế mà từ xưa nhân dân đã xem bà là “Phật giáng thế” hay “Bà Tấm” nhân hậu, thương dân của xứ Kinh Bắc và thờ tự bà ở rất nhiều nơi. Hiện nay, tại Dương Xá, Gia Lâm, Hà Nội có một quần thể di tích gồm chùa, đền, điện, sơn trang. Chùa có tên “Linh Nhân Từ Phúc tự” vốn do chính bà xây dựng tại quê hương. Khi bà mất, nhân dân xây thêm ngôi đền thờ bà để tưởng nhớ ân đức của bà.
2. Hình tượng người Phụ nữ Việt Nam trong sinh hoạt Văn hóa – Phật giáo đời thường.
Một là: Chùa làng và người phụ nữ
Thiết chế văn hóa làng Việt không thể thiếu đình và chùa. Đó là một cặp sóng đôi trong tâm thức người Việt, thể hiện triết lý nhân sinh và tinh thần khoan dung hòa hợp trong đời sống tín ngưỡng của người Việt. Dân gian có câu: “Đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt” hay “Cây đa, bến nước, sân đình” …
Đình là nơi thờ Thành Hoàng, cũng là nơi Hội đồng kỳ mục, các quan viên bàn việc làng; chốn đình trung thâm nghiêm - nơi thực thi nghiêm cẩn việc Tế, Lễ… vốn là công việc của các cụ cao niên và những người đàn ông có uy tín trong làng, người phụ nữ không được can dự. Thế nhưng, ngôi chùa làng lại là nơi lấy lại vị thế của người phụ nữ, tạo nên nét bình đẳng làng xã trong sinh hoạt cộng đồng làng quê xưa. Chùa làng chính là nơi dành cho họ, “Trẻ vui nhà, già vui chùa”. Hình ảnh các bà, các mẹ dắt theo con cháu, cùng các cô thôn nữ rủ nhau đi lễ chùa từ lâu đã trở nên quen thuộc, thân thương, gợi cho người ta hình ảnh về một làng quê thanh bình, yên ấm. Không chỉ đi lễ chùa, các vãi còn là những người tham gia giúp việc nhà chùa một cách tự nguyện, vô tư như một nhu cầu tinh thần.
Hiện nay, ngay cả tại các thành phố lớn, hầu hết các đạo tràng chuyên tu của các chùa, phụ nữ cũng chiếm phần nhiều. Người phụ nữ Việt Nam thời nào và ở đâu cũng luôn hướng tới cái thiện.
Hai là: Phụ nữ và việc xuất gia: theo Phật giáo thì phụ nữ có quyền xuất gia làm ni và thụ Đại giới như nam giới. Ở Việt Nam, dễ dàng bắt gặp những ni, sư là nữ, có nhiều hoạt động thiết thực như từ thiện xã hội, nuôi dưỡng trẻ mồ côi hoặc người già không nơi nương tựa.... Có nhiều vị ni trở thành trụ trì tại các chùa lớn, có học vị cao, hoằng pháp năng động không kém gì nam giới. Nữ giới có quyền tham gia vào Ban lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam hay Đại biểu Quốc hội …
Tóm lại: Với người phụ nữ nói chung và phụ nữ Việt Nam nói riêng, dưới góc nhìn văn hóa Phật Giáo, vai trò và vị trí của người phụ nữ theo tinh thần bình đẳng mà đức Phật dạy, không có nhiều thay đổi. Đặc biệt, trong điều kiện văn hóa lúa nước như Việt Nam ta, vai trò của người phụ nữ đối với đất nước nói chung và đối với đạo pháp nói riêng lại có phần thiết thực và gần gũi hơn nữa. Những điều kiện đó cũng góp phần làm cho văn hóa Phật giáo Việt Nam phong phú hơn, đa dạng hơn, đặc sắc hơn so với các quốc gia Phật giáo khác. Hình tượng Người phụ nữ Việt Nam dưới góc nhìn Văn hóa Phật giáo gợi nhớ đến câu nói: “For most of history, Anonymous was a woman”- “Làm nên lịch sử là một người phụ nữ ẩn danh”.
Tài liệu tham khảo
1) Nguyễn Quốc Tuấn và Thích Thọ Lạc “Chùa Yên Phú Quá khứ - Hiện tại – Tương lai”
2) Như Hạnh “Quan điểm của Phật giáo về phụ nữ”
3) Đặng Tài Tính “Vài nét về vai trò của Văn hóa Phật giáo trong nền văn hóa việt Nam
4) Đặng Thu Hương dịch - Trần Kim Chi hiệu đính “Quan điểm Phật Giáo về vai trò Phụ nữ Bà Kumudini Ranathunga”
5) Lương Quỳnh Khuê “Vai trò của người phụ nữ trong văn hóa Phật giáo Việt Nam”
6)https://www.chuabuuchau.com.vn/phat-giao-va-nu-gioi/quan-diem-cua-phat-giao-ve-phu-nu_31784.html
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây