27 VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG CÁC SINH HOẠT PHẬT GIÁO Ở VIỆT NAM

Thứ sáu - 25/10/2019 22:36
VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG CÁC SINH HOẠT PHẬT GIÁO Ở VIỆT NAM
 ĐĐ. THÍCH NHUẬN PHÁP  - TS. NGUYỄN NGỌC QUỲNH

VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ

TRONG CÁC SINH HOẠT PHẬT GIÁO Ở VIỆT NAM
 
                                                                                           ĐĐ. THÍCH NHUẬN PHÁP                         TS. NGUYỄN NGỌC QUỲNH*
Mở đầu
Phụ nữ Việt Nam, từ nông thôn cho tới thành thị, đã có nhiều đóng góp đối với sinh hoạt Phật giáo. Họ không những giữ vai trò quan trọng trong việc xây dựng cơ sở vật chất Phật giáo mà còn làm cho những sinh hoạt của Phật giáo thêm phong phú, đa dạng. Tinh thần bình đẳng nam nữ đã xuất hiện khá sớm trong tư tưởng Phật giáo Việt Nam cũng như trong hệ thống tổ chức của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Điều này được thể hiện qua những biểu hiện sau: 
1. Những dấu ấn của tín ngưỡng thờ nữ thần trong Phật giáo Việt Nam
Phật giáo vào Việt Nam kết hợp với tín ngưỡng nữ thần, thờ Mẫu bản địa đã tạo nên một hiện tượng thờ cúng các Phật bà khá nổi trội trong hệ thống đối tượng thờ trên điện thờ của các cơ sở thờ tự của Phật giáo. Có người cho đây là tính nữ trong Phật giáo Việt Nam, nhưng cũng có thể nhìn nhận đây như là một sự kết hợp của Phật giáo với một đặc điểm tín ngưỡng của một nước nông nghiệp mang tính mẫu hệ, trọng sự sinh sôi nảy nở nên Phật giáo tại Việt Nam cũng mang những ảnh hưởng đó. Các thần mây, thần mưa, thần sấm, thần chớp… là những biểu tượng của tín ngưỡng cư dân Việt cổ khi kết hợp với Phật giáo đã trở thành Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện, có thể coi là những nữ thần nông nghiệp đầu tiên được đưa vào điện thờ của Phật giáo Việt Nam. Khi du nhập vào Việt Nam, hình tượng Bồ Tát Quán Thế Âm chuyển hẳn thành hình tượng nữ giới với các biến thể như: Phật Bà Quan Âm nghìn mắt nghìn tay, Quan Âm Chuẩn Đề, Quan Âm tọa sơn, Quan Âm tống tử/Quan Âm Thị Kính,… Do những đặc điểm vùng, tộc người như trên mà dần dần, qua quá trình tiếp biến của lịch sử, đã xuất hiện những vị Phật bà mang đậm dấu ấn riêng có của Việt Nam. Đó là Phật Pháp Vân (thế kỷ thứ II) như đã nêu ở trên, Phật Bà Chùa Hương (thế kỷ XVIII). Là những vị Phật sinh ra trên đất nước Việt Nam để rồi đại diện cho dân tộc Việt Nam nói tiếng nói bảo vệ chân lý của dân tộc, làm điểm tựa cho dân tộc, bảo vệ quyền lợi linh thiêng của dân tộc[1].
Trong các chùa Việt ở miền Bắc hiện nay, hiện tượng thờ Mẫu là rất phổ biến. Trước đây, việc thờ mẫu chỉ trong phạm vi các đền, điện, phủ. Sau này, do nhu cầu của các tín đồ, điện thờ Mẫu được đưa vào chùa, đặt trong gian chính điện, hoặc xây dựng một gian nhà để thờ riêng. Đôi khi, tại một số chùa có hiện tượng ban thờ Mẫu có các hoạt động sôi nổi, phong phú, góp phần thu hút tín đồ tại một số di tích Phật giáo, đáp ứng nhu cầu tam linh đa dạng của người dân.
Ngoài ra còn phải kể tới Phật giáo của người Hoa kiều với các đền thờ bà Thiên Hậu, cũng còn được gọi là Chùa Bà (còn các Chùa Ông là để thờ Quan Công của người Hoa). Bà Thiên Hậu là một vị thần sông biển được người Hoa Kiều thờ cúng khá phổ biến ở những nơi họ đến cư trú. Ở Miền Nam phổ biến tục thờ Thiên Y A Na với các đền thờ và nghi thức có nhiều điểm tương đồng với thờ Mẫu Tam phủ.
Trong các chùa Nam bộ thường có tượng Quán Thế Âm với kích thước lớn có lẽ do ảnh hưởng tín ngưỡng thờ Quan Âm Nam Hải của người Hoa; hoặc nhiều tượng Quan Âm tạo thành vườn tượng các hóa thân của Bồ tát Quán Thế Âm. Những năm gần đây việc thờ phụng này đã xuất hiện khá nhiều ở cả các ngôi  chùa ở cả miền Nam và miền Bắc.
2. Vấn đề giới và bình đẳng giới trong sinh hoạt Phật giáo ở Việt Nam
Phụ nữ Việt Nam giữ một vị trí quan trọng sinh hoạt Phật giáo nói riêng cũng như trong các sinh hoạt kinh tế, văn hoá xã hội từ nông thôn cho tới thành thị. Điều này có thể lý giải do ảnh hưởng từ trong nếp sống, nếp sinh hoạt của người Việt. Ở đó, người phụ nữ là người phải thực hiện những nghĩa vụ với gia đình, còn người đàn ông truyền thống của Việt Nam lo làm nghĩa vụ với xã hộ. Trong ca dao, tục ngữ Việt Nam cũng có những câu thể hiện sự gắn bó của người phụ nữ với ngôi chùa Phật như: “Trẻ vui nhà, già vui chùa”, “Đàn ông vui đám vui đình, đàn bà vui kệ vui kinh cửa chùa”…
Đối với người phụ nữ Việt Nam, từ nông thôn cho tới thành thị, Phật giáo là một tôn giáo rất gần gũi. Các ngôi chùa vừa là nơi sinh hoạt tôn giáo, vừa là nơi để phụ nữ đến cùng nhau sinh hoạt mang tính cộng đồng, phục vụ các việc trong chùa vào các ngày rằm, mùng một, nấu nướng trong các ngày giỗ tổ, các ngày lễ lớn ở chùa, những phụ nữ này thường là những người đã lớn tuổi và nằm trong hội các bà vãi theo đơn vị chùa. Hơn chục năm trở lại đây đã có hoạt động sôi nổi của các đạo tràng, các khóa tu mùa hè… đã thu hút được đông đảo tín đồ trẻ tuổi, làm thay đổi hình ảnh tín đồ Phật giáo truyền thống.
Ngoài ra, người phụ nữ cũng có những đóng góp trong việc xây dựng, sửa chữa các cơ sở vật chất của Phật giáo. Điều này được thể hiện qua tục cúng hậu và bầu hậu ở các ngôi chùa Việt. Kể từ thế kỷ XIV đã thấy xuất hiện việc thờ các bà hậu cùng với việc thờ các ông hậu trong chùa. Họ là những người phụ nữ đã có công lớn cho làng xã, có đóng góp nhiều tiền của cho việc xây dựng chùa. Với những đóng góp đó, làng xã, hoặc chùa sẽ đứng ra tổ chức việc khắc bia ghi nhớ công đức của họ và giao ước sẽ cúng giỗ họ lâu dài trong chùa. Ở một vài nơi còn tạc tượng những bà hậu có công đức với địa phương để thờ trong chùa. Theo khảo sát của chúng tôi tại một số ngôi chùa ở đồng bằng bắc bộ và thành phố Hà Nội, các tượng bà hậu phổ biến hơn các tượng ông hậu ở chùa[2]
Ở Việt Nam, dưới thời Trần, tư tưởng bình đẳng nam nữ đã được thể hiện trong Khoá Hư Lục của Trần Thái Tông (1225- 1258): “Mạc vấn đại ẩn tiểu ẩn, hưu biệt tại gia xuất gia, bất câu tăng tục, chỉ yếu biện tâm, bổn vô nam nữ, hà tu trước tướng” (Không kể là ẩn dật lớn hay nhỏ, không kể là tại gia hay xuất gia, tăng hay tục, điều cốt yếu là biện tâm, vốn không phân biệt nam nữ, sao lại còn chấp tướng)[3]. Ngoài tư  tưởng bình đẳng nam nữ, câu nói của Trần Thái Tông còn bao quát cả tinh thần bình đẳng đối với hai giới xuất gia, tại gia, trình độ tu tập, điều cốt yếu là ở cái tâm.
Tính bình đẳng nam nữ còn được thể hiện trong khá nhiều lĩnh vực hoạt động của hệ thống tổ chức của Phật giáo Việt Nam. Phật giáo Việt Nam từ rất sớm đã có hệ thống Tỳ Kheo cho nam tu sĩ và Tỳ Kheo Ni cho nữ tu sĩ. Điều này khác với các nước Phật giáo Đại thừa ở Tây Tạng và Mông Cổ cũng như một số nước trong khu vực Đông Nam Á theo Phật giáo Nam tông: Campuchia, Lào, Miến Điện đều không có phụ nữ xuất gia[4]. Hiện nay, những nữ Phật tử ở các nước này muốn thụ giới Tỳ kheo ni phải thụ nhận giới này ở nước ngoài và không được phép thực hiện bất kỳ một nghi lễ tôn giáo nào một khi họ trở về nước[5].  
3. Một số tấm dương tiêu biểu
Ở Việt Nam, một trong những phụ nữ đầu tiên xuất gia được ghi lại trong sử sách là Ni sư Diệu Nhân (1041- 1113) Ni sư thuộc đời thứ 17, dòng Tỳ ni đa lưu chi, là trưởng nữ của Phụng Càn Vương. Thuở nhỏ bà hiền hậu đoan trang, được vua Lý Thánh Tông nuôi trong cung. Lớn lên bà được gả cho người họ Lê, làm quan Châu mục ở Chân Đăng. Chồng mất, bà thủ tiết không tái giá. Bà đem của cải đi bố thí rồi đến gặp Thiền sư Chân Không xin thọ giới Bồ tát với pháp danh Diệu Nhân[6]. Ni sư cũng được coi là nhà thơ nữ đầu tiên của văn học Việt Nam. Trong Thiền Uyển Tập Anh Ngữ Lục có ghi lại bài thơ của ni sư Diệu Nhân về vấn đề sinh, lão, bệnh, tử. Tác giả Nguyễn Đăng Thục có nhận định: “Tác giả là một nữ hiền triết uyên thâm về thiền học đời Lý”[7].
Đến giữa thế kỷ XIV có Ni sư Tuệ Thông. Ni sư họ Phạm, con gái của một gia đình đời đời làm quan, xuất gia tu ở am trên núi Thanh Lương. Ni sư tu khổ hạnh, trì giới chuyên cần, thường ngồi thiền định, diện mạo giống hệt La hán, danh tiếng lừng lẫy. Vua Trần Nghệ Tông (1370- 1372) ban hiệu là “Tuệ thông đại sư”[8].
huyện Long Thành (tỉnh Đồng Nai) có Ni sư Lượng lập am Vân Tĩnh ở trên gò cao, tiếp nối với núi Châu Thới, thuộc thôn Long Sơn, để tịnh tu. Nay chùa đã bị phá huỷ[9].
Hà Tiên có Ni cô họ Tống, là con một nhà giàu ở Hà Tiên, giỏi nữ công, Khi đến tuổi 16, nhiều nhà giàu có quyền thế cậy người mai mối đến cầu hôn, nhưng tất cả đều bị từ chối. Cha mẹ trách cứ, cô thưa: “Nhân duyên của con phải chờ đức Phật chỉ giáo”. Sau khi một vị sư đến nhà, cô một mực xin cha mẹ cho đi tu, họ lập cho cô am Quan Âm bên trái núi Đại Kim, trên đảo Đại Kim để cô tụng niệm tu hành. Cô thêu một bức hình Bồ tát Quán Thế Âm rất lớn, cứ mỗi mũi kim lại niệm Phật một câu, suốt ba tháng mới xong. Bức tranh rất sống động như vị Phật sống, được để thờ trong am. Chùa trên núi Đại Kim  là cảnh “Kim dự lan đào” (Đảo kim ngăn sóng), một trong 10 cảnh đẹp của trấn Hà Tiên[10].
Đến thời các chúa Nguyễn (1558- 1802), trong hoàng gia triều Nguyễn cũng có nhiều công chúa, vương phi sùng mộ đạo Phật, có đóng góp không ít cho việc hoằng dương Phật pháp như: Công chúa Ngọc Tú. Bà là con gái cả của Hưng tổ Hiếu Khang hoàng đế (tức Nguyễn Phúc Luân, thân sinh của vua Gia Long). Bà một lòng thờ Phật, nhiều lần xin cắt tóc đi tu nhưng vua Gia Long không cho[11].
Bà Chiêu Nghi là vợ thứ của Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát, được phong Quý Nhân, bà thường ra vườn dâng hương niệm Phật, sau khi mất bà được phong làm Từ Mẫu Chiêu Nghi[12].
Công chúa Ngọc Huyên, con của Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1748- 1765) và bà tả cung tần họ Tống. Sau khi chồng mất, bà thủ tiết, quy y. Vua Gia Long thường đến thăm viếng và ban thưởng rất hậu[13].
Cuối thể kỷ 19 đầu 20, Ni bộ Bắc tông bắt đầu phát triển, xuất hiện các vị Tôn đức Ni có đức độ và đạo hạnh đáng kính ngưỡng, làm nên đạo nghiệp, tiêu biểu là cố Trưởng lão Ni Diên Trường, Ni trưởng Diệu Tịnh, Ni trưởng Diệu Không, Ni trưởng Như Thanh… Hệ phái Khất sĩ cũng có những vị Tôn đức Ni nổi danh như Ni trưởng Huỳnh Liên, Ni trưởng Bạch Liên, Ni trưởng Tạng Liên… đã thành lập được Ni giới Khất sĩ để truyền bá chánh pháp, cứu độ nhân sinh. Tính đến nay chư Ni đã xây dựng được giáo đoàn lên đến hàng vạn người[14].
Trong giai đoạn đất nước có chiến tranh, đã có nhiều thế hệ Ni giới Việt Nam đứng lên chống giặc, bảo vệ Phật pháp, bảo vệ hòa bình cho đất nước. Trong chế độ Mỹ- Diệm ở miền Nam Việt Nam, các chư Ni đã cùng sinh viên học sinh đứng lên đòi quyền tự do dân chủ, xuống đường yêu cầu thả Tăng Ni, Phật tử. Những tấm gương đấu tranh tiêu biểu giai đoạn này có Ni sư Huỳnh Liên, sư cô Diệu Quang...[15]
Trong kháng chiến chống Pháp, ở vùng địch tạm chiếm nhiều vị ni sư đó gúp sức người, sức của để nuôi nấng, bảo vệ cán bộ, bộ đội hoạt động. Nhiều vị đã được Chính phủ tặng thưởng Huân chương, huy chương như: Sư bà Đàm Tiến, chùa Mai Hương, Hà Nội đó được Chính phủ tặng “Kỷ niệm chương Tổ quốc ghi công” và bằng “Có công với nước”. Sư cụ Đàm Đăng trụ trì chùa Diên Khánh ở làng Dịch Vọng được Chính phủ tặng Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng 2. Sư Đàm Nghi Chùa Yên Phú, Hà Nội, tham gia Việt Minh, chùa được Chính phủ tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất… Trong thời gian chống Chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, các vị tăng ni tu hành tại các chùa đó làm tốt phần phụng đạo của mình, phát huy được chính tín, bài trừ mê tín dị đoan. Các vị cũng đã tích cực đóng góp công lao động để xây dựng Hợp tác xã. Nhiều vị được bầu là chiến sĩ thi đua, lao động tiên tiến, cá nhân xuất sắc, có vị được bầu vào HĐND thành phố, huyện. Đặc biệt có vị tham gia dân quân du kích trực tiếp chiến đấu và phục vụ chiến đấu chống chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ như sư thày Đàm Luận chùa Hương Thể, sư thày Đàm Đạt chùa Hộ Quốc, sư thày Đàm Vân ở khu Đống Đa…6
Theo thống kê từ 63 tỉnh, thành của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, hiện nay, trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam, số lượng Ni chiếm khoảng 1/3 trên tổng số tăng ni cả nước. Số liệu cụ thể như sau: Tổng số Tăng Ni thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam trên cả nước có: 53.941 vị. Trong đó, Bắc Tông: 38.629 vị, Nam Tông Khmer: 8.574, Nam Tông Kinh: 1.754, Khất sĩ: 4.984 vị. Trong đó, số liệu của Ni là: Chư ni: 14.211 vị. Trong đó: Chư ni hệ phái Bắc tông: 12.718 vị, Khất sĩ: 1.493 vị[16].
Nhiều ni trẻ ngày nay đã và đang ra sức tu học tại các học viện trên khắp đất nước, cũng như đang du học tại các nước bạn như Ấn Độ, Nepal, Trung Quốc, lãnh thổ Đài Loan, Myanmar, Mỹ, Thái Lan… Nhiều vị ni đã đỗ đạt nhiều học vị: cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ Phật học, thế học trong và ngoài nước. Họ đã và đang phụng sự tích cực cho các Ban trị sự các tỉnh thành, Trung ương giáo hội trên các mặt: thông tin báo chí, Hoằng pháp, Giáo dục, Nghi lễ, Từ thiện xã hội…[17]
Kết luận
Từ khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất cả nước năm 1981, dù các hoạt động của chư Ni Việt Nam luôn luôn có mặt trong cộng đồng Tăng già nhưng nhìn chung vẫn chưa thể hiện được hết vai trò năng động trong lòng giáo hội. Kể từ tháng 1 năm 2009, được sự cho phép và chấp thuận của Chư Tôn đức Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự, Phân ban Đặc trách Ni giới được ra đời là một niềm vui lớn của chư Ni Phật giáo Việt Nam. Hy vọng rằng, trong thời gian tới Ni giới sẽ tiếp tục phát huy khả năng vốn có, đặc biệt trong các ngành hoạt động xã hội, để làm tốt hơn nữa trọng trách mà Giáo hội giao phó để thể hiện đúng vai trò và chức năng của Ni giới Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, từ đó Phật giáo Việt Nam được phát triển với một tinh thần thật sự bình đẳng, tiến bộ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
 
  1. Giác Dũng, Phật Việt Nam, Dân tộc Việt Nam. Nxb Tôn giáo, H.2003.
  2. Nguyễn Đại Đồng, “Ni giới Thăng Long- Hà Nội”, Kỷ yếu Hội thảo Phật giáo thời Lý với 1000 năm Thăng Long- Hà Nội.
  3. Thích nữ Bổn Giác “Ni sư Diệu Nhân tổ sư Ni khơi nguồn cho ni giới Việt Nam”. Trong Phật giáo đời Lý,Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, Nxb Tôn giáo 2010.
  4. Nguyễn Ngọc Quỳnh, Tục cúng hậu và lập bia hậu ở nước ta trong lịch sử, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 5/2003.
  5. Phật giáo trong thời đại chúng ta, Nxb Tôn giáo 2005.
  6. Kristana Raksachom. “Nguồn gốc của các Tỳ kheo ni ở Thái Lan”. Các bài tham luận Hội nghị nữ giới Phật giáo thế giới lần thứ 11, tập 1.
  7. HT. Thích Thanh Từ, Thiền sư Việt Nam, Nxb Tôn giáo 1991.
  8. HT. Thích Thanh Từ, Thiền sư Việt Nam, Nxb Tôn giáo 1991.
  9. Nguyễn Đắc Xuân, Chuyện nội cung chín đời chúa, Nxb Thuận Hóa, Huế.
  10. Văn kiện Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2017-2022, H. 19-22/11/2017


Tóm tắt:
Phụ nữ Việt Nam, từ nông thôn cho tới thành thị, đã có nhiều đóng góp đối với sinh hoạt Phật giáo. Họ không những giữ vai trò quan trọng trong việc xây dựng cơ sở vật chất Phật giáo mà còn làm cho những sinh hoạt của Phật giáo thêm phong phú, đa dạng như các sinh hoạt hội, nhóm, đi lễ hội chùa, tụng kinh miệm Phật, các màn múa, hát, dâng hương,… Tinh thần bình đẳng nam nữ đã xuất hiện khá sớm trong tư tưởng Phật giáo Việt Nam cũng như trong hệ thống tổ chức của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Ngay từ thời Lý - Trần, ở Việt Nam đã xuất hiện những ni sư nổi tiếng đắc đạo. Hiện nay, Ni giới Việt Nam đang ngày càng có nhiều đóng góp đối với sự phát triển của giáo hội trong các lĩnh vực hoằng pháp, từ thiện, giáo dục, y tế…
 
 
* ĐĐ. Thích Nhuận Pháp. Phó Thư ký, Chánh VP Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Kon Tum.
TS. Nguyễn Ngọc Quỳnh, Ban Tôn giáo, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
[1] Giác Dũng, Phật Việt Nam, Dân tộc Việt Nam. Nxb Tôn giáo, H.2003.
[2] Xem Nguyễn Ngọc Quỳnh, Tục cúng hậu và lập bia hậu ở nước ta trong lịch sử, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 5/2003, tr.63-69.
[3] Xem Phật giáo trong thời đại chúng ta, Nxb Tôn giáo 2005, tr.13.
[4] Xem Phật giáo trong thời đại chúng ta, Sđd, tr.10-15.
[5] Kristana Raksachom. “Nguồn gốc của các Tỳ kheo ni ở Thái Lan”. Các bài tham luận Hội nghị nữ giới Phật giáo thế giới lần thứ 11, tài liệu đã dẫn, tập 1, tr.195.
[6] Xem HT. Thích Thanh Từ, Thiền sư Việt Nam, Nxb Tôn giáo 1991, tr.173- 175.
Thích nữ Bổn Giác “Ni sư Diệu Nhân tổ sư Ni khơi nguồn cho ni giới Việt Nam”. Trong Phật giáo đời Lý,Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, Nxb Tôn giáo 2010, tr.202-209.
[7] Nguyễn Đăng Thục, Thiền học Việt Nam, Nxb Lá Bối, 1967, tr.308. Dẫn theo Phật giáo trong thời đại chúng ta, tr.79.
[8] Xem thêm HT. Thích Thanh Từ, Thiền sư Việt Nam, Nxb Tôn giáo 1991, tr.385- 386.
[9] Xem thêm Nguyễn Hiền Đức Lịch sử Phật giáo đàng trong, tr.384-385 và Đại Nam liệt truyện tiền biên.
[10] Đại Nam liệt truyện tiền biên, quyển 6, tr.197. Xem thêm Lịch sử Phật giáo đằng trong, tr.385-386.
[11] Xem thêm Đại Nam thực lục tiền biên;  Nguyễn Đắc Xuân, Chuyện nội cung chín đời chúa, tr.86.
[12] Xem thêm Đại Nam thực lục tiền biên;  Nguyễn Đắc Xuân, Sđd, tr.69.
[13] Nguyễn Hiền Đức, Lịch sử Phật giáo đàng trong, tr. 386. 
[14] Các bài tham luận Hội nghị nữ giới Phật giáo thế giới lần thứ 11,  Sđd, tập 2, tr.3, 27.
[15] Ni trưởng Thích nữ Huệ Giác, “Nữ giới Phật giáo và sự lãnh đạo của Ni đoàn”, Các bài tham luận Hội nghị nữ giới Phật giáo thế giới lần thứ 11, Sđd, tập 2, tr.3.
6 Xem Nguyễn Đại Đồng, “Ni giới Thăng Long- Hà Nội”, Kỷ yếu Hội thảo Phật giỏo thời Lý với 1000 năm Thăng Long- Hà Nội, tr.128-141.
[16] Xem Văn kiện Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2017-2022, H. 19-22/11/2017, tr.21, 226.
[17] “Sự dấn thân của ni giới Phật giáo trên lĩnh vực từ thiện xã hội”, trong Các bài tham luận Hội nghị nữ giới Phật giáo thế giới lần thứ 11, Sđd, tập 1, tr.2.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây