26 NI GIỚI TRONG TẦM NHÌN TÔN GIÁO VÀ PHỤ NỮ

Thứ sáu - 25/10/2019 22:33
NI GIỚI TRONG TẦM NHÌN TÔN GIÁO VÀ PHỤ NỮ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
  GS.TS. ĐỖ QUANG HƯNG

NI GIỚI TRONG TẦM NHÌN TÔN GIÁO VÀ PHỤ NỮ

Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
                                                                                              GS.TS. ĐỖ QUANG HƯNG*

Nhập đề
Ngày nay, vấn đề nữ quyền và quyền bình đẳng giới vẫn tiếp tục là một trong những vấn đề có tính nhân loại. Trong đó, tôn giáo và phụ nữ có những khía cạnh đặc biệt, nó hắt qua phong trào nữ quyền với nhiều sắc thái vừa tôn giáo vừa thế tục. Tham luận này có mong muốn tiếp tục được trao đổi trên mấy khía cạnh sau đây:
1. Tiếp tục trở lại mệnh đề “tôn giáo và phụ nữ”;
2. Nữ Phật tử Việt Nam có phải “những người khách lạ” trong ngôi nhà Giáo hội của mình?;
3. Mấy nhận định về vai trò vị trí và những vấn đề đặt ra với nữ Phật tử và ni giới.
Nội dung
1. Tiếp tục trở lại mệnh đề “tôn giáo và phụ nữ”
Có rất nhiều cách tiếp cận vấn đề tôn giáo và phụ nữ. Ở đây chúng tôi kết hợp lối tiếp cận lịch sử tôn giáo, xã hội học tôn giáo và nhân học tôn giáo để có thể một lần nữa làm rõ hơn người phụ nữ có địa vị như thế nào trong những thực tại tôn giáo từ xưa đến nay. Điều này cũng cần thiết để khi chúng ta nhìn nhận về nữ Phật tử, ni giới ở Việt Nam. Dưới đây chúng tôi xin “tóm tắt” những luận điểm, góc nhìn cơ bản vốn đã được giới nghiên cứu, đặc biệt là các nhà sử học tôn giáo, đưa ra.
1.1. Tại sao lịch sử loài người được viết bởi đàn ông (Odon Vallet)?
Kinh Thánh đã nói lên điều này. Trong Kinh Thánh, chỉ có hai cuốn Sách Bà Ruth và sách Esther là nói về phụ nữ. Trong khi đó, bản thân Eva, người phụ nữ đầy cám dỗ, lại là nguồn gốc gây ra tội Tổ tông. Tất nhiên ngần ấy chưa đủ để có thể lý giải phụ nữ vốn bất bình đẳng với đàn ông ngay cả trong lĩnh vực tôn giáo. Có một điểm rất đặc biệt là ở chỗ xã hội Cựu ước là xã hội phụ hệ như phần lớn các xã hội thời đại Kim khí. Chúng ta biết rằng ở thời đại Đồ đá mới, người phụ nữ đã từng đóng vai trò rất quan trọng. Nhưng đến thời đại Kim khí, các loại vũ khí phục vụ chiến tranh phát triển nhanh chóng, thì người phụ nữ chỉ còn đóng vai trò phụ: họ có chức năng cung cấp những chiến binh cho Chúa mà thôi.
Người ta cũng phát hiện rằng, trong lĩnh vực tâm linh, vai trò của người phụ nữ cũng khá nổi bật với những nhân vật trong Thánh Kinh như Maryam, Esther, Deborah… nhưng rồi khi đạo Kitô độc thần ra đời thì người ta bắt đầu từ bỏ các nữ thần.Tương tự, trước Mohammad, thánh địa Mecca cũng là nơi thờ phụng nữ thần cổ xưa Allat. Nhưng khi đạo Hồi ra đời, thì người ta cũng từ bỏ các hình thức thờ cúng đa thần, phiếm thần như vậy… Trở lại câu chuyện bà Eva. Nhân vật này không phải là trung tâm của lịch sử Israel, nhưng rõ ràng với thế giới Kitô giáo thì chính bà lại mang một sứ mệnh đặc biệt: người phụ nữ thời cổ đại đã có thể sinh đẻ mà không cần biết đến đàn ông.
Nhắc lại những điều trên để chúng ta thấy rằng, vấn đề quyền bình đẳng của phụ nữ vốn đã có từ buổi hồng hoang của lịch sử, hiện thực và huyền thoại, thần học và lịch sử đã đan xen với nhau mà không dễ có những lý giải về thực tại này. Ngày nay, mặc dù xã hội loài người đã có những tiến bộ vô cùng to lớn, nhưng sự nghiệp bình đẳng nam nữ vẫn cho thấy “phụ nữ: thất bại của loài người?” (50% nhân loại là phụ nữ nhưng họ mới chỉ hiện hữu chứ chưa hiện diện).
1.2. Các tôn giáo lớn và phụ nữ
Các tôn giáo lớn có cái nhìn thần học và giáo lý rất khác nhau. Do Thái giáo có một nghịch lý là người đàn ông tỏ lòng biết ơn Thiên Chúa đã không tạo họ thành đàn bà, trong khi việc kết hôn, sinh đẻ con cái lại luôn được đề cao trong Do Thái giáo. Kitô giáo thì lại luôn đề cao các bậc góa bụa và nữ đồng trinh. Hai loại nhân vật này giúp rất nhiều trong công việc truyền bá Công giáo. Chính Kitô giáo đã đề cao chế độ một vợ một chồng, đồng thời cũng loại bỏ chế độ coi phụ nữ như con hầu, đa thê, đề cao hôn nhân bình đẳng. Người phụ nữ Hồi giáo kế thừa một truyền thống văn hóa vùng Trung Cận Đông: đa thê và tục khăn che mặt để rồi cho đến tận ngày nay họ vẫn bị ràng buộc bởi truyền thống này.
1.3. Vấn đề lớn bậc nhất trong quan hệ phụ nữ và tôn giáo là câu hỏi: liệu khi nào có thể có một người phụ nữ trở thành Giáo hoàng (une papesse) hay một nữ Thượng phụ (patriarche) hay Giáo trưởng (Rabbi)? Câu hỏi lớn này không biết đặt ra từ bao giờ nhưng chắc chắn trong thế kỷ XX này là một trong những câu hỏi mạnh mẽ của phong trào nữ quyền có liên quan đến tôn giáo. Mỗi tôn giáo có cách giải thích khác nhau. Tòa thánh La Mã cho đến ngày nay dù đã có Công đồng Vatican II nhưng tuyệt nhiên vẫn không chủ trương truyền chức linh mục cho phụ nữ, bởi lẽ Giáo hội sợ rằng, nếu giáo sĩ được kết hôn sẽ sinh ra một hàng giáo sĩ cha truyền con nối. Bản thân Đức Kitô đã là người phải đánh đổ chế độ giáo sĩ cha truyền con nối trong truyền thống Do Thái. Ngay Đức Phật cũng vậy. Việc không chủ trương phụ nữ làm linh mục vì về giáo lý sẽ làm thay đổi vai trò thiêng liêng của linh mục. Theo truyền thống Kitô giáo, tế lễ là việc của nam giới, nếu phụ nữ làm linh mục lễ Thánh thể có nguy cơ biến thành một hành vi tưởng niệm đơn thuần. Đạo Tin Lành là một trường hợp đặc biệt.Bên cạnh thắng lợi của cuộc Đại Cải cách Tin Lành còn có thắng lợi xứng đáng của nhân vật tôn giáo mới là những nữ mục sư. Người ta nói rằng khi Luther lấy vợ, việc đó có nghĩa tạo ra một nền tảng xã hội mới và chính nó lại là điều kiện để có thể cắt đứt với Roma nhiều quan điểm thần học và giáo lý truyền thống. Khi người Tin Lành sử dụng hành vi phối ngẫu như là một vũ khí của sự bất đồng, thì chính Luther đã trao cho người phụ nữ những vũ khí mới. Hồi giáo cũng có lý lẽ của mình để không trao cho phụ nữ vai trò Imum. Riêng Phật giáo dù ít bảo thủ hơn nhưng Đức Phật cũng có lý lẽ của mình trong việc này. Giới nghiên cứu cũng khẳng định rằng, Đức Phật chắc chắn không kỳ thị phụ nữ, ít nhất nếu so sánh với những người đàn ông khác trong thời kỳ của Ngài. Nhưng chắc chắn Đức Phật cũng rất nghiêm khắc trong vấn đề giới tính: Phật giáo chấp nhận sự khác biệt lớn giữa những nguyên tắc của Tăng đoàn và sự áp dụng tự do trong thực hành. Ấn Độ giáo có tình trạng ngược lại: đề cao cả hai giới tính, xem đó như sự bổ sung cho nhau, nhưng trong thực tiễn đời sống xã hội và tôn giáo thì nữ giới vẫn phải phục tùng.
1.4. Phụ nữ và tôn giáo: một số vấn đề liên quan khác
Ngày nay, khi đánh giá vai trò người phụ nữ của các tôn giáo, người ta dễ nhất trí rằng, ở các mức độ khác nhau, người phụ nữ có vai trò rất đặc biệt. Nếu như người phụ nữ không thể đóng vai trò người sáng lập ra các tôn giáo, cũng không thể là người thủ lĩnh của các tôn giáo lớn như chúng ta đã phân tích ở trên, thì ngược lại họ thường đóng vai trò “thành trì của các tôn giáo” (giữ đạo, truyền đạo, đối chọi với những sự đàn áp tôn giáo…) và những đóng góp xã hội của họ so với người đồng đạo thật đáng kể.
Các dòng tu của Công giáo, phụ nữ đông gấp đôi đàn ông. Họ thường xuyên bị cuốn hút vào các hoạt động xã hội, duy trì sự cứu trợ đồng loại (ba thế mạnh của tôn giáo đó là: y tế, giáo dục và từ thiện xã hội đều có vai trò rất lớn của các dòng tu nữ). Phụ nữ Chính thống giáo có nét riêng của họ, số lượng không nhiều, nhưng thực hành tôn giáo thường kín đáo như người Phật tử. Có nghiên cứu nói rằng, ở nước Nga Xô viết trước đây, phụ nữ Chính thống giáo đã ghìm giữ một cách sống động truyền thống tôn giáo của họ trong khi những người đàn ông thì bận rộn với cách mạng hoặc bị lôi cuốn bởi kỹ thuật sản xuất (Femmes ce qu’elles veulent changer dans les religions; bài trả lời phỏng vấn của O Vallet, tạp chí Actualité des Religions, tháng 6/2001).
2. Nữ Phật tử Việt Nam có phải “những người khách lạ” trong ngôi nhà Giáo hội của mình?;
2.1. Những điều dễ ghi nhận
Phụ nữ trong các tôn giáo nói chung dường như đều mong muốn biến đổi thế giới tôn giáo của mình. Ở đây, chúng tôi nêu hai trường hợp.
- Phụ nữ trong Islam (Jamila)
Phải nói rằng, phụ nữ Hồi giáo chịu nhiều ràng buộc nhất trong các tôn giáo lớn nếu họ muốn biến đổi. Vì sao vậy? Ngoài những vấn đề “trời định”mà chúng tôi đã phân tích ở phần trên về tôn giáo và phụ nữ (Freud còn dùng danh từ phân tâm học để nói, đó là cái “ẩn đề của phụ nữ”) thì phụ nữ Hồi giáo còn phải chịu một khó khăn khác: trong thế giới Hồi giáo xưa nay, chưa bao giờ xuất hiện yếu tính “thế tục” (Laic), bởi vì với Hồi giáo cái xã hội và cái tôn giáo luôn đồng nhất với nhau. Khó khăn lớn này khiến cho cuộc đấu tranh về mặt nữ quyền của Hồi giáo còn phức tạp hơn nhiều so với phụ nữ trong các cộng đồng tôn giáo khác.
Vì thế, chúng tôi đưa ra đây, theo Jamila
Câu chuyện ly dị
Ly dị là cách giải quyết cuối cùng trong Islam. Kinh Coran phán rằng, việc ly dị là được phép tuyên bố 2 lần. Tuy vậy, khi ly dị có rất nhiều điều luật (Sariah) (3 lần chu kỳ kinh nguyệt; người chồng có giữ trọn trách nhiệm nuôi dạy con cái không; nói chung luật Hồi giáo không hoàn toàn ép buộc các cặp không sống hạnh phúc với nhau được phép ly dị, nhưng cái cản trở thì nó bắt nguồn ngay từ trong luật hôn nhân “trong số những việc mà thượng đế cho phép, việc mà ngài ghét nhất là ly dị” (Mohamed).
Quyền thừa kế
Mặc dù theo chế độ đa thê hạn chế, luật Sariah người đàn ông phải gánh trách nhiệm che chở cho mọi người phụ nữ và con trẻ trong gia đình. Một nửa số tài sản của cặp vợ chồng là có thể thuộc quyền thừa kế của người phụ nữ, điều hiếm thấy trong các tôn giáo và xã hội phương đông.Tuy vậy, việc tái kết hôn cũng như cuộc sống sau hôn nhân của họ (chồng chết) vẫn phải chấp nhận tính phức tạp của xã hội này.
Trong cuộc đấu tranh về nữ quyền hiện nay, người phụ nữ Hồi giáo đã vượt qua những luật lớn như quyền ly dị và thừa kế mà đang hướng tới những quyền lớn hơn: bình đẳng về chính trị, điều này thế giới Hồi giáo đã chấp nhận thế giới hiện đại. Phần lớn quốc gia Hồi giáo lớn đã chấp nhận quyền này, thậm chí ở mức cao nhất.Bà Tổng thống Butto là một thí dụ điển hình.Ấy vậy, nhưng quyền bình đẳng về dân sự lại rất khó khăn. Chỉ riêng cách ăn mặc tấm khăn mạng mà chúng tôi đã nói ở trên đã gây ra biết bao nhiêu phức tạp cho các xã hội Hồi giáo và cộng đồng Hồi giáo di dân (như ở Pháp).
Thật thú vị, ngày nay đã có những thông tin tích cực ở nhiều nước Hồi giáo, người phụ nữ đã từng bước được bỏ tấm khăn mạng, được lái xe, được chơi thể thao… thậm chí người ta còn phải đấu tranh để người phụ nữ Hồi giáo được quyền ngồi như thế nào, ngay cả trên xe gắn máy.
Trở lại vấn đề đa thê, người đàn ông Hồi giáo được lấy 4 vợ là một đặc điểm của Luật Sariah.Có rất nhiều điểm có thể nói là tiến bộ trong luật Hồi giáo trong khuôn khổ của các xã hội phương đông. Quyền thừa kế và trách nhiệm của người đàn ông trong gia đình đã nói trên vẫn cần được bổ sung tính “ưu việt” của Luật Sariah còn ở chỗ, nếu như ở phương tây thậm chí ở phương đông trách nhiệm dân sự và tài chính của người đàn ông gần như không có đối với người thứ 2 hoặc thứ 3.
Tuy vậy, trong xã hội hiện đại, dù chưa có đáp án cuối cùng, thì vấn đề đa thê của luật Sariah vẫn còn đó những xung đột với xã hội hiện đại.
2.2. Với Phật giáo
Vấn đề mà chúng ta đang nói đây là Tăng đoàn và Phật giáo.Xin đưa ra đây một tư liệu tiêu biểu để xem xét.
“Các nữ tu Phật giáo, Kinh sách thời đầu kể rằng Đức Phật ban đầu lưỡng lự với việc hình thành Tăng đoàn cho nữ tu, nhưng rồi vẫn chấp nhận sau khi người dì, cũng là mẹ kế Mahapajapati khẩn thiết cầu xin được gia nhập Tăng đoàn. Thọ giới cho phụ nữ là một bước phát triển mang tính cách mạng ở Ấn Độ, nhưng Đức Phật vẫn đặt ra những điều kiện hạn chế nhất định, làm cho vị thế của Tăng đoàn nữ thấp kém hơn so với Tăng đoàn nam. Tăng đoàn nữ hình thành tại Ấn Độ, sau đó truyền sang những vùng khác của Nam Á rồi tan rã trong thời Trung cổ, nhưng ở các nước Á Đông khác như Trung Quốc, Tây Tạng, Nhật Bản và Hàn Quốc, nó vẫn tồn tại được tới ngày nay. Những nỗ lực khôi phục Tăng đoàn nữ ở Nam Á đã gặp một số phản đối, nhưng sau đó một trong ba nhánh (nikaya) của Tăng đoàn Sri Lanka (Amarapuranikaya) đã thừa nhận giới tỳ kheo ni của các nữ tu. Đến nay, việc tái thành lập Tăng đoàn nữ nhận được sự ủng hộ rộng rãi của công chúng. Nhưng ở những quốc gia Phật giáo nguyên thủy khác như Thái Lan hay Myanmar, sự tiến triển không nhiều.”[1]
Rất nhiều nghiên cứu đã nói về điều này. Những học giả Phật giáo có điều kiện hơn khi lý giải và phân tích thông tin nói trên. Chẳng hạn, Thích Nữ Huệ Hướng đã đưa ra những phân tích khá kỹ càng về phụ nữ trong các chế độ xã hội thời Phật tại thế; phụ nữ trong tư tưởng cổ truyền ở phương tây cũng như ở phương đông. Đặc biệt, tác giả đã phân tích phụ nữ trong giáo lý của Phật giáo (với những bộ kinh tiêu biểu nhất theo hệ Pali đã dịch ra tiếng Việt, chủ yếu của hòa thượng Thích Minh Châu, như Trung Bộ kinh; Kinh Trường Bộ, Kinh Tương ứng, Kinh Pháp cú,…). Chị cũng không giấu ý tứ của mình khi phê bình, góp ý các học giả ngoài Phật giáo ở trong nước ít hay nhiều vẫn còn nếp nghĩ cũ về Phật giáo, triết lý của nó đối với vấn đề phụ nữ và xã hội…
Quan trọng hơn, tác giả đã đưa ra ba cách tiếp cận về quyền bình đẳng của phụ nữ hiện đại trong tương quan so sánh với giáo lý Phật giáo: a) Bình đẳng về mặt hiện tượng xã hội; b) Bình đẳng về mặt giáo đoàn (tác giả vẫn khẳng định rằng: “Đức Phật là người đầu tiên trong lịch sử nhân loại đã nâng cao vị trí của hàng phụ nữ đến mức quan trọng nhất”); c) Bình đẳng về mặt chứng đắc (chữ này được hiểu là tôn chỉ giáo lý Phật giáo đưa Phật tử đến mục đích tối hậu là giải thoát).
Những nhận xét kết luận của chị cũng khá tích cực, kể từ việc đức Phật “thành lập ni bộ” với ý nghĩa cách mạng của nó 2500 năm trước… Thời hiện đại, tác giả dành sự ưu ái quan tâm về công tác xã hội trong chiến tranh cũng như trong hòa bình của nữ Phật tử, nữ xuất gia cũng như tại gia đều đóng vai trò không kém phần quan trọng trong giáo hội. Không bỏ qua những vấn đề phức tạp về giáo lý, triết lý Phật giáo từ thuyết nghiệp báo luân hồi đến vô ngã, vị tha… trong vấn đề phụ nữ.
Thậm chí, tác giả còn mạnh dạn viết rằng: “chính nhờ thuyết vô ngã, nam giới mới nhận thức được rằng không có gì là họ, thuộc về họ để phải lấn lướt đè bẹp phụ nữ, và người phụ nữ cũng hiểu ra rằng không có gì phải thua kém, tự ti mặc cảm…”[2].
Chúng tôi bỗng nhớ đến nhà nghiên cứu nữ trẻ của Đại học Mahidol Thái Lan, Varaporn Chamsanit với Luận án tiến sĩ về vấn đề này. Trong bài viết gửi cho chúng tôi năm 2006, khi chị tham gia cuộc Hội thảo của Viện Nghiên cứu Tôn giáo thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) có tên là “Trên đất nước này không có phụ nữ được phong chức. Nhập đề của luận văn nghiên cứu về sự phủ nhận có tính chất thể chế đối với sự thụ phong của nữ Phật tử ở Thái Lan”.
Luận án của chị được bắt đầu từ 2001, “một phụ nữ thế tục tuổi trung niên đã từ Thái Lan đến Sri Lanka, đất nước được biết như là trung tâm của Theravada. Tại một tịnh xá ở Colombo, bà được đại diện của tịnh xá, các tu sĩ Sri Lanka cả nam lẫn nữ, phong chức và trở thành một Ni sư tập sự-samaneri. Bà trở về Thái Lan trong chiếc áo choàng màu vàng với cái đầu cạo trọc và trở thành người phụ nữ Thái đầu tiên được thụ phong theo Phật giáo Theravada, tôn giáo truyền thống chủ đạo ở Thái Lan…
Nói thêm rằng, việc phong chức cho phụ nữ Phật giáo Nguyên thủy ở Sri Lanka sau rất nhiều thăng trầm đã được phục hồi sau 1990, khi có sự ủng hộ của phong trào phụ nữ Phật giáo quốc tế. Đến cuối năm 2003, đã có gần 400 phụ nữ Srilanka được phong là Ni sư tập sự và chính thức của hệ phái Phật giáo này.
Varaporn Chamsanit, trong những kết luận của luận án có đưa ra một số nhận định rất hay: một lần nữa tác giả bàn đến vấn đề giới tính của Tăng già; đời sống tu hành của người phụ nữ và những kiềm chế của thể chế, đặc biệt ở những nước Phật giáo Theravada. Tác giả cũng gửi gắm ý tưởng người phụ nữ Phật giáo thuần thành có khả năng thay đổi được tôn giáo mình hay không, và nếu muốn thay đổi thì nó phụ thuộc vào yếu tố gì (làm sao để có “những hình thức Phật giáo ít sai lầm hơn”?).
Bàn đến ni giới, luận án cũng không e ngại đề cập đến những quyền lực siêu quốc gia trong vấn đề phụ nữ, ni giới của cộng đồng Theravada trên thế giới: “khó có thể nói quyền lực của truyền thống Tăng già và sự ủng hộ của nhà nước đối với chế độ Tăng già chấm dứt ở đâu và tính hợp pháp siêu quốc gia của việc phụ nữ xuất gia vốn được các tác nhân khác nhau, không thuộc nhà nước ủng hộ lại bắt đầu ở đâu”.[3]
2.3. Trở lại với ni giới Việt Nam
Chúng ta dễ dàng nhất trí với nhau (giới nghiên cứu, giới Phật giáo, xã hội và cả nhà nước) trên những đánh giá căn bản, lịch sử và hiện tại của người phụ nữ Phật tử, ni giới ở Việt Nam có những lợi thế sau đây:
  • Lợi thế trong lĩnh vực vận dụng và thực thi triết lý, Phật pháp: từ Khóa hư lục của Trần Thái Tông đến sự xuất hiện khá sớm của hệ thống Tỳ kheo cho cả nam và nữ.
Người mà chúng ta kỷ niệm hôm nay, Ni sư tiêu biểu và sớm nhất trong lịch sử Phật giáo Việt Nam là Ni sư Diệu Nhân (1041-1113) thuộc dòng Tì ni đa lưu chi thời vua Lý Thánh Tông. Vị Ni sư này được nuôi trong cung, thọ giới Bồ tát, Diệu Nhân là pháp danh. Bà còn là nhà thơ nữ đầu tiên của văn học Việt Nam như nhận xét của Nguyễn Đăng Thục: “Tác giả là một nữ hiền triết uyên thâm về thiền học đời Lý”.[4]
  • Một lợi thế khác, cũng trong xã hội Nho giáo cổ truyền, chế độ làng xã và phong kiến, nhưng theo chúng tôi, phụ nữ Việt Nam có những thuận lợi sau đây:
+ Ít hay nhiều thì “địa vị dân sự” của phụ nữ Việt Nam cũng được khẳng định trong các bộ luật của đất nước như Luật Hồng Đức.
+ Truyền thống gia đình, làng xã cũng có những mặt tích cực nhất định cho phụ nữ, dù vẫn trong chế độ gia trưởng và đa thê.
+ Vai trò của phụ nữ trong chính trị và xã hội khá nổi, từ đầu công nguyên.
+ Trong đời sống tôn giáo, tín ngưỡng tâm linh, ít nhất ở một số khu vực (tín ngưỡng thờ Mẫu, thành hoàng làng, thờ cúng tổ tiên…) vai trò của phụ nữ được khẳng định và kéo dài trong lịch sử.
+ Riêng trong Phật giáo, vai trò này cũng được thể hiện.
  • Tất nhiên, không ai lại có cái nhìn đơn giản, một chiều. Trong đời sống tôn giáo, tuy có những mặt lợi thế mà chúng ta sẽ đề cập ở dưới đây, nhưng những khó khăn chung có tính nhân loại và tính tôn giáo thì người nữ Phật tử Việt Nam cũng không thể không đối diện.
3. Mấy nhận định về vai trò vị trí và những vấn đề đặt ra với nữ Phật tử và ni giới
3.1. Khẳng định lại thuận lợi của nữ Phật tử Việt Nam, có những thuận lợi về xã hội, về những quy định của các tổ chức Tăng đoàn trong tu tập
* Về lý thuyết, Phật giáo là một tôn giáo có thái độ tích cực đối với phụ nữ, luôn coi trọng sự bình đẳng về giai cấp và bình đẳng về giới trên con đường đến cõi “Niết Bàn”. Đức Phật khi còn tại thế đã từng giáo huấn và khẳng định: “phụ nữ xứng đáng có một chỗ đứng danh dự ngang hàng với nam giới về phương diện khả năng và đạt mục tiêu Niết Bàn, và trên nấc thang thành tựu của nhân loại, người phụ nữ cũng có khả năng trèo đến mức tột đỉnh mà người nam có thể tiến đến”[5]                                    
- Lợi thế địa vị xã hội, xã hội Việt Nam từ cổ truyền cho đến thời kỳ hiện đại luôn có tư tưởng “trọng nữ”. Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, người Việt Nam luôn bình đẳng trước những vấn đề lớn của dân tộc. Tư tưởng “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” thể hiện ý chí, năng lực của nữ giới Việt Nam trong những nhiệm vụ thiêng liêng của dân tộc. Chính vì điều đó, không lúc nào, không thời đại nào không xuất hiện những nữ anh hùng. Họ đã ghi tên mình vào lịch sử, đi vào đời sống tâm linh của người Việt như: Bà Trưng, Bà Triệu, Ỷ Lan, Bùi Thị Xuân,..
- Lợi thế về Tăng đoàn. Đối với Phật giáo Việt Nam, đặc biệt là trường hợp Bắc tông, chư Ni cũng luôn được coi trọng và được tham gia vào các cấp quản lý nhất định. Đã có 46 Phân ban Ni giới thuộc các tỉnh thành được thành lập. Các hoạt động Phật sự của Phân ban Ni giới khá nhịp nhàng với hoạt động của Giáo hội các cấp[6]. Phân Ban Ni giới đã thành lập 12 tiểu ban chuyên môn với 124 thành viên để thực hiện các hoạt động chuyên ngành.
* Về thực tiễn, địa vị cũng như vai trò của phụ nữ trong Tăng đoàn, trong địa vị xã hội và trong con đường đi đến giải thoát cũng còn nhiều khó khăn. Điều này đã được chứng minh về vị trí của Ni giới trong các lần Đại hội, qua các đợt kiết tập lớn từ khi Đức Phật mất đến nay. Những khó khăn trên 3 phương diện chúng tôi sẽ đề cập đến ở phần sau của bài tham luận.
3.2. Có 3 phương diện về quyền bình đẳng của phụ nữ trong Phật giáo mà chúng tôi đã đề cập ở trên,
* Những khía cạnh về quyền bình đẳng xã hội xã hội của phụ nữ, nữ Phật tử. Lưu ý đầu tiên là những Phật tử tu tại gia…. Chứng minh về phương diện này, cả về tôn giáo và xã hội phụ nữ đều bình đẳng và có thể đạt được những giá trị cao quý nhất, sánh ngang với nam giới: “Này Vaccha không phải chỉ một trăm, hai trăm, ba trăm, bốn trăm, năm trăm mà còn nhiều hơn thế nữa là những Nữ cư sĩ, là đệ tử sống tại gia, mặc áo trắng, hưởng thụ vật dục, nhưng xây dựng Thánh giáo, chấp nhận giáo huấn, đã độ nghi hoặc, chứng đắc vô sở úy, không dựa vào người khác, sống trong Thánh giáo của bậc Đạo sư”[7]
- Với nữ Phật tử xuất gia (Ni giới), vấn đề ở chỗ, cần được đào tạo tốt hơn để có tiếng nói, có trình độ để có điều kiện bình đẳng trong tôn giáo và trong xã hội.
* Trên phương diện địa vị trong Tăng đoàn (Giáo đoàn)
Ni giới Việt Nam làm sao khai thác được lợi thế của mình? Đánh giá vị trí đích thực hiện nay của Ni giới trong Giáo đoàn (thực chất hiện nay, Ni giới chưa có mặt ở chỗ huyết mạch nhất của đời sống Phật giáo: tính quyết định của họ trong truyền giáo - hoằng pháp; thậm chí trong Ban trị sự; trong hoạt động đối ngoại). Thậm chí, các hoạt động Phật giáo liên quan đến Ni giới có tính chất quốc tế
Vai trò của của nữ trí thức Phật tử chưa được phát huy? Thiếu những thống kê cho thấy lực lượng của nữ trí thức Phật tử. (Trường hợp Ni trưởng Thích Đàm Nguyên  là tiêu biểu)
* Bình đẳng về phương diện giải thoát (trong bài viết của Huệ Hương “chứng đắc”) đây là vấn đề tư tưởng, triết lý Phật giáo: có cảm giác hiện nay, nữ Phật tử, đặc biệt là Ni giới chưa ý thức hoặc chưa thể hiện, chưa được đặt ra (chưa thể hiện được mục đích cao nhất của sự giải thoát).
3.3. Ni giới và sự ảnh hưởng xã hội
Đây là mặt dễ thấy và khá nổi trội của nữ Phật tử và Ni giới. Dưới đây là một số nhận định của chúng tôi về các hoạt động của Ni giới trong những năm gần đây, phân tích hoạt động của Ni giới qua Hoạt động Phật tử chuyên ngành.
- Cấu trúc của Ban Ni giới cũng đầy đủ, hiện nay Ni giới có 5.692 cơ sở tự viện và 14.211 chư Ni, trong đó có 12.718 chư Ni hệ Bắc tông và 1.493 chư Ni hệ phái Khất sĩ, 5.433 tự viện chư Ni Bắc tông và 259 tịnh xã Ni[8]. Các tiểu ban hoạt động đều rất hiệu quả như: ban Giám luật và nghi lễ, tiểu ban văn hóa, tiểu ban từ thiện xã hội, tiểu ban giáo dục, tiểu ban hoằng pháp, tiểu ban Phật giáo quốc tế.
- Các công tác nổi bật nhất, đặc biệt là giáo dục Ni và công tác hoằng pháp. Hàng năm, việc khuyến khích Ni sinh trẻ có nền tảng, kiến thức Phật học căn bản tại các tỉnh thành đều được chú trọng tại các trường trung cấp Phật học ở các tỉnh cũng như 3 Học viện lớn. Ban Ni giới cũng đã tích cực tham gia các lớp hoằng pháp, thuyết giảng tại các đạo tràng, các lớp giáo lý giáo lý được tổ chức hàng tháng và trong những ngày lễ trọng đại của Phật giáo.
  • Các hoạt động Phật sự của Ban Ni giới TW là 1 điểm nhấn. Tham gia các phong trào của Nhà nước…chuyên về hoạt động của giới đàn, trong đó, các quy định được thực hiện một cách nghiêm túc, trong giai đoạn từ 2011 - 2017, phân ban Ni giới tại các tỉnh đã kết hợp cùng Ban Tăng sự các tỉnh thành phố tổ chức các giới đàn cho 10.139 giới tử Ni được thọ giới pháp tu tập.[9]
  • Giáo dục, đặc biệt là cư sĩ nữ, chư Ni trẻ có điều kiện và được tạo điều kiện để nâng cao trình độ học Phật cũng như các ngành học liên quan đến vai trò của Phật giáo đối với xã hội.
  • Hoạt động gần đây, để nâng cao kiến thức của Ni giới không chỉ về giáo lý, giáo luật của Đức Phật mà còn nâng cao kiến thức, kỹ năng giải quyết các vấn đề xã hội, các Tăng Ni sinh nói chung đã tham gia vào đào tạo Tôn giáo học của Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. Từ năm 2016 đến nay, số lượng học viên của mỗi tỉnh đều trên 100 người, riêng tại Hà Nội, ngành tôn giáo học đã trở thành một ngành học thu hú nhiều học viên, đặc biệt là chư Ni ở cả cấp Đại học và sau Đại học[10].
3.4. Mấy kết luận như những gợi ý
  • Phật giáo Việt Nam có 3 hệ phái chính. Nhưng hiện nay, hình ảnh của Ni giới mới sáng rõ ở Bắc Tông. Ngoài ra, khoảng 2 thập kỷ trở lại đây, việc xuất hiện những hệ phái có liên quan đến Mật tông và Phật giáo Tây Tạng ở miền Bắc cũng còn là một dấu hỏi
  • Ngay cả với Phật giáo Bắc tông, Ni giới họ là ai? Còn rất thiếu những điều tra XHH về lực lượng của họ một cách toàn diện? trong hoạt động tôn giáo đương đại, bất cứ ở nước nào cũng như ở bất cứ ở tôn giáo nào, giới nào, lực lượng “tinh hoa” elite thường rất quyết định. Ni giới Việt Nam đứng ở vị trí nào?
  • Vị trí nổi bật và quan trọng nhất của Ni giới Việt Nam hiện nay là gì? Nói đúng hơn là trong Phật giáo Bắc tông có nhiều mặt được khẳng định qua các Đại hội: nữ Phật tử là đông đảo, đóng góp lớn cho Giáo hội và Tăng đoàn; vị trí xã hội được khẳng định trên nhiều phương diện. Ni giới trẻ đang có những nét khởi sắc,…
  • Điều cần thiết nhất hiện nay cần có đánh giá xác thực về vị trí, vai trò của Ni sư và Ni trưởng trong tôn giáo
  • Những vấn đề đặt ra hôm nay đối với hoạt động của Ni giới là gì? (trên 3 phương diện: Nâng cao trình độ, đặc biệt trình độ học Phật, học Pháp; phải chủ động, tích cực để tìm ra các hình thức mới trong các hoạt động xã hội và cả trong Phật sự với Ni giới; Nâng cao vị thế của  Ni giới trong giáo đoàn).

 
*Đại học Quốc gia Hà Nội
 
[1] Damien Keown, Dẫn luận về Phật giáo, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2016, tr.141.
[2]Thích Nữ Huệ Hướng, “Địa vị người phụ nữ trong giáo lý Đức Phật”, Nguyễn Thị  Ngọc Nhung dịch (bài viết trong khuôn khổ trao đổi về văn hóa Phật giáo của trung tâm Pháp Vân của Phật giáo Việt Nam ở Canada).
[3] Varaporn Chamsanit, “Trên đất nước này không có phụ nữ được phong chức...”
[4] Nguyễn Ngọc Quỳnh, Nguyễn Đức Dũng, “Phụ nữ Việt Nam với Phật giáo”, năm 2012?
[5][5] Thích Nữ Tuệ Hương, Địa vị của người phụ nữ trong giáo lý Đức Phật, (Nguyễn Thị Ngọc Nhung dịch),
[6] Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ VIII nhiệm kỳ 2017 -2022, tr.22
[7] Trích theo Thích Nữ Huệ Hương, Địa vị cua người phụ nữ trong giáo lý Đức Phật, dd.
[8] Văn kiện Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ VIII nhiệm kỳ 2017 -2022, tr.226
[9]Văn kiện Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ VIII nhiệm kỳ 2017 -2022, tr.227           
[10] Nguyễn Thúy Thơm (Thích Minh Thịnh), Báo cáo tổng kết công tác hoạt động, tr.22 - 23

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây