20 VAI TRÒ CỦA CHƯ NI VÀ NỮ PHẬT TỬ XỨ HUẾ ĐỐI VỚI ĐẠO PHÁP VÀ DÂN TỘC

Thứ sáu - 25/10/2019 22:09
VAI TRÒ CỦA CHƯ NI VÀ NỮ PHẬT TỬ XỨ HUẾ
ĐỐI VỚI ĐẠO PHÁP VÀ DÂN TỘC
THÍCH NỮ TUỆ CHÂU

VAI TRÒ CỦA CHƯ NI VÀ NỮ PHẬT TỬ XỨ HUẾ

ĐỐI VỚI ĐẠO PHÁP VÀ DÂN TỘC
THÍCH NỮ TUỆ CHÂU
 
Giới thiệu
Nữ Phật tử là một trong những thành tố chính trong thất chúng đệ tử của Đức Phật. Trong giáo pháp của Thế Tôn, nữ giới đã được xuất gia học đạo và thành lập Ni đoàn vào năm thứ năm sau khi Giáo đoàn Tỳ kheo được thành lập. Lịch sử Phật giáo cho chúng ta thấy rằng, cả nữ Phật tử xuất gia và tại gia đều có những ưu việt riêng và đạt được các quả vị cao quý trong lộ trình tu tâp. Nếu chư Tăng có Trưởng Lão Tăng Kệ để ghi chép lại những lời dạy của chư vị Thánh Tăng, thì giáo đoàn Ni cũng đã góp phần Trưởng Lão Ni Kệ, ghi chép lại những kinh nghiệm và những lời cảm thán của chư vị Thánh Ni. Theo Trưởng Lão Ni Kệ có 73 trường hợp chứng đắc quả vị A La Hán của chư Tỳ Kheo Ni, tuy nhiên số lượng chư Ni chứng đắc còn nhiều hơn thế. Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam nói chung và Phật giáo Huế nói riêng, Nữ Phật tử luôn đóng vai trò quan trọng trong việc hướng đạo, giáo dục con cháu và thế hệ kế thừa, cũng như vai trò hộ trì Tam bảo và thực hành tâm linh. Trong lịch sử Phật giáo xứ Huế, Nữ Phật tử có vai trò quan trọng trong sự hình thành vùng đất Thuận Hoá và đã có những đóng góp nổi bật trong thời kỳ Chấn hưng Phật giáo và phong trào giải phóng dân tộc. Bài viết này xin trình bày vai trò của Nữ Phật tử xứ Huế qua 3 thời kỳ chính:
Nữ Phật tử đối với sự thành lập và phát triển văn hoá vùng Thuận Hoá
Nữ Phật tử Xứ Huế trong phong trào Chấn hưng Phật giáo
Chư Ni xứ Huế trong thời hiện đại
1. Nữ Phật tử đối với sự thành lập và phát triển văn hoá vùng Thuận Hoá
Thời kỳ hình thành xứ Thuận Hoá
Lịch sử hình thành vùng đất Thuận Hoá gắn liền với ba tên tuổi lớn là hai vị vua nhà Trần, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông và công chúa Huyền Trân, trong đó Công chúa là người đã hi sinh những ước muốn cá nhân để đóng góp cho nền hoà bình và sự thịnh vượng của sơn hà, xã tắc. Sử ghi lại rằng, Tháng Ba năm 1301, Trúc Lâm đi Chiêm Thành để quan sát Phật giáo tại đây, được Vua Chiêm Thành là Chế Mân tiếp đón chu đáo, và đã có những cuộc đàm đạo và tiếp xúc thân mật với Vua Chiêm. Trong mục đích xây dựng tình hoà hữu giữa hai nước làm nền tảng cho một nền hoà bình Chiêm - Việt lâu dài, Trúc Lâm đã hứa sẽ gả công chúa Huyền Trân cho Vua Chàm. Bốn năm sau đó, tức vào tháng hai năm 1305, Chế Mân sai người mang lễ vật sang cầu hôn. Tháng 6 năm sau 1306, Công chúa Huyền Trân được rước về nhà chồng, Vua Chiêm Thành dâng hai châu Ô và Lý làm sính lễ. Đến năm 1307, hai châu này được đổi thành hai châu Thuận và Hoá.[1] Như vậy, Công chúa Huyền Trân, một Nữ Phật tử thời Trần là người trực tiếp có công đức đối với vùng đất Thuận Hoá của nước Đại Việt. Để tưởng nhớ công ơn của một người có công mở mang bờ cõi, đền thờ Công Chúa Huyền Trân được thành lập tại 151 Thiên Thai, phường An Tây, Thành phố Huế với tên gọi Trung tâm Văn hoá Huyền Trân vào năm 2006, nhân kỷ niệm 700 năm vùng đất Thuận Hoá - Phú Xuân.
- Thời kỳ nhà Nguyễn
Từ khi các Chúa Nguyễn vào trấn đất Thuận Hoá và xây dựng cơ đồ nơi đây, các Chúa đã lấy Phật giáo để vỗ về dân chúng và đồng thời để cạnh tranh với Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài. Ngoài các Chúa hộ đạo và là Phật tử nhiệt thành như Minh Vương Nguyễn Phúc Chu, người đã đóng góp tích cực cho sự phát triển của Phật giáo ở Đàng Trong, còn có rất nhiều hoàng hậu và công chúa của nhà Nguyễn đã trở thành những vị ngoại hộ tích cực cho Phật giáo thời bấy giờ. Cụ thể như bà Long Thành công chúa Nguyễn Phúc Ngọc Tú (1759 - 1823) đối với Tổ đình Quốc Ân (Huế), chùa Từ Ân (Gia Định); bà Hiếu Khương Hoàng Thái Hậu đối với Tổ đình Báo Quốc (Huế) và chùa Từ Ân, chùa Thiên Trường ở Gia Định; và các Công chúa khác đối với Tổ đình Thuyền Tôn[2]. Long Thành Công chúa - Nguyễn Phúc Ngọc Tú là một trong những ngoại hộ có công đức lớn đối với sự phục hưng của Thiền phái Nguyên Thiều ở đất Thuận Hoá, tên tuổi của Bà được khắc đầu trong tự phổ ghi công đức các bậc tiền bối hữu công của chùa Quốc Ân. Cụ thể là vào năm Gia Long thứ 4 (1805), Công chúa đã cúng dường 300 quan tiền để xây dựng lại chùa Quốc Ân và sau đó bà còn mời các Tăng sĩ ở những nơi khác về đây để tái lập lại Tăng chúng, khơi mạch tào khê, để từ đây hương thiền lan toả khắp trời Nam. Bà mất năm 1825 tại phủ riêng ở làng Dương Xuân nhưng chưa thoả nguyện ước được sống đời xuất gia. Vì vậy, vua Minh Mạng đã cho xây lăng của bà theo kiểu tháp mộ Phật giáo gồm có bốn tầng và hai vòng thành chung quanh tháp. Bà cũng có công đức lớn đối với chùa Từ Ân ở Gia Định, nên cả hai chùa này đều có thiết linh vị Long Thành Công chúa để thờ. Bên trong linh vị ghi: Thích Môn Hộ Giáo Hoàng Cô, thọ Bồ tát giới, Pháp danh Tế Minh, tự Thiên Nhật chi vị.[3]
Ngôi già lam nổi tiếng Báo Quốc ở Huế cũng khắc công một vị Hoàng thái hậu triều Nguyễn - Hiếu Khương Hoàng hậu (1738 - 1811), Mẫu hậu của vua Gia Long. Trong thời Tây Sơn, chùa Báo Quốc bị lấy làm kho chứa diêm tiêu nên dần bị tàn phá trong suốt gần ba mươi năm. Vì vậy sau khi vua Gia Long thống nhất đất nước, Hiếu Khương hoàng hậu đã cúng dường tiền và ra lệnh trùng kiến Tổ đình Báo Quốc vào năm Gia Long thứ 7 (1808). Trong lần này, tất cả các công trình của chùa đều được xây mới, đặc biệt Hoàng hậu đã cho xây dựng cổng tam quan rất độc đáo vẫn còn đến ngày nay. Bà cũng đã cho chú tạo nhiều tượng Phật, pháp khí và một đại hồng chung nặng 836 cân ta. Hoàng hậu đã cung thỉnh Thiền sư Đạo Minh Phổ Tịnh về chùa và sắc phong Ngài làm trú trì chùa này. Vào năm 1811, Hiếu Khương Hoàng hậu còn can thiệp để nhà vua ban cho chùa 300 mẫu ruộng nước và 10 mẫu ruộng khô; lấy lại 20 mẫu đất của chùa đã bị dân chiếm dụng dưới thời Tây Sơn để nhà chùa làm tự điền.[4]Với sự ngoại hộ của Hoàng hậu, Hàm Long Thiên Thọ tự đã được khởi sắc và sau này trở thành một trong những trung tâm giáo dục và đào tạo Tăng tài của miền Trung. Vào năm Gia Long thứ 14 (1815), Thiền sư Phổ Tịnh đã mở một Đại giới đàn tại đây để trao truyền mạng mạch Phật pháp, để chánh pháp được trụ thế dài lâu. Đến năm 1930 trường Sơ đẳng Phật học được mở tại đây và năm 1935 trường Trung đẳng Phật học được thành lập tại nơi này đã đào tạo được rất nhiều danh Tăng, những vị lãnh đạo phong trào chấn hưng Phật giáo thế kỷ 20. Trường Trung tiểu học tư thục Bồ Đề Hàm Long nổi tiếng một thời là nơi đã giáo dưỡng bao thế hệ Tăng Ni và Phật tử xứ Huế. Sơ lược qua về những việc làm của Bà cũng cho thấy rằng, Hiếu Khương Hoàng hậu là người đã có những đóng góp lớn đối với việc phục hưng Phật Giáo sau thời Tây Sơn. Bà không chỉ đóng góp trong việc trùng hưng các tự viện và cơ sở vật chất của Phật giáo mà còn hộ trì nhằm giúp Tăng già hưng thịnh, đạo mạch được hưng long.
Tổ đình Thuyền Tôn của Tổ sư Liễu Quán cũng được hai vị Công chúa cùng những Hoàng thân khác phát tâm xây dựng ngôi phương trượng vào tháng 8 năm Đinh Mão, Gia Long thứ 6 (1807). Rồi đến hai năm sau (1809), hai vị Công chúa này cùng với bổn đạo của chùa xây dựng lại chánh điện và tiền đường làm cho ngôi phạm vũ trở nên trang nghiêm, dòng thiền Liễu Quán được hưng thịnh và thịnh hành khắp miền Trung. Bà Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu cũng là một trong những gương mặt nữ Phật tử tiêu biểu cho sự ngoại hộ đối với Phật giáo dưới thời vua Gia Long. Theo ghi chép của Đại Nam Nhất Thống Chí, bà Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu đã cúng dường tiền để xây dựng lại chùa Thiền Lâm ở ấp Bình An. Chùa này bị Thái sư Bùi Đắc Tuyên của triều Tây Sơn chiếm làm nhà ở, sau đó lại bị dùng làm kho than, nên chùa bị tàn phá. Sau khi xây dựng xong, Hoàng Hậu đã đem quả đại hồng chung được đúc từ thời Lê Vĩnh Thịnh (1716) về tôn trí tại chùa này[5]. Cũng trong thời Gia Long, Công chúa Nguyễn Phúc Ngọc Duệ đã trùng tu chùa Thiên Thai Ngoại và dâng cúng các loại pháp khí, quả đại hồng chung của chùa được chú tạo năm 1813 có khắc tên Pháp danh của công chúa và vị sư trú trì chứng minh. Mẫu hậu của vua Minh Mạng - Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu (1769 - 1846) cũng là một Phật tử ngoại hộ rất mạnh, bà có công trùng tu nhiều ngôi chùa như chùa Khánh Vân ở xã Lựu Bảo, huyện Hương Trà; chùa Kim Long, chùa Bảo Sơn ở xã An Ninh; chùa Phú Ốc ở xã Phú Ốc, tất cả đều được bà cúng tiền để xây dựng lại cho khang trang. Nhiều vị công chúa con các Vua nhà Nguyễn đã dùng tiền bạc, của cải để cúng dường Tam Bảo và họ đã trùng tu rất nhiều ngôi chùa chung quanh Kinh thành làm cho tự viện ở Thuận Hoá được kiên cố và trang nghiêm.
Các vị vua đầu của nhà Nguyễn đều đã ủng hộ cho sự phát triển và khởi sắc của Phật giáo trong giai đoạn này. Bên cạnh đó các bậc nữ lưu trong triều đình cũng đã ngoại hộ rất mạnh cho sự phục hưng và phát triển Phật giáo tại Thuận Hoá. Tự viện của Phật giáo được phát triển và trở nên khang trang vào thời nhà Nguyễn có sự đóng góp lớn từ các vị hoàng hậu, công chúa và các vị phu nhân trong hoàng tộc. Hơn nữa, nhiều vị công chúa đã phát tâm xuất gia, sống đời giải thoát, đặt nền móng cho việc hình thành Ni giới tại Thuận Hoá. Công chúa Định Hoà là con gái thứ 13 của Vua Gia Long đã trùng tu chùa Đông Thuyền để làm nơi tu tập, bà xuất gia vào khoảng năm 1838, thọ giới Sa di với Hoà thượng Tánh Không và có pháp danh là Hải Châu. Ni trưởng Khiết Bạch (1839 - ?), chùa Tường Vân, trước khi xuất gia bà là cung nữ dưới triều Tự Đức, năm 25 tuổi bà thế phát xuất gia với Hoà thượng Tánh Hoạt Huệ Cảnh, chùa Tường Vân và được ban cho pháp danh Hải Bình, tự Khiết Bạch. Đến năm 1895, Ni trưởng được thọ giới Tỳ Kheo Ni với Hoà thượng Diệu Giác tại giới đàn Bảo Quốc[6]. Một vị Ni trưởng khác cũng xuất thân từ chốn cung cấm là Ni trưởng Hải Đăng. Bà nguyên là thứ phi của Vua Tự Đức, sau này bà xin rời cung xuất gia với Hoà thượng Tánh Hoạt Huệ Cảnh chùa Tường Vân. Năm Tự Đức thứ 8, sau khi thọ Tỳ Kheo Ni, Ni trưởng được cử về trùng tu chùa Sư Lỗ Thượng ở Phú Hồ, Phú Vang.Một vị Ni trưởng khác cũng xuất thân từ dòng dõi quý tộc và có tầm ảnh hưởng đến vua, quan, các mệnh phụ phu nhân và dân chúng thời ấy, đó là Ni trưởng Viên Thông (1813 - 1889) ở chùa Đông Thuyền[7]. Bà là con gái của Kiến An Vương Nguyễn Phúc Đài (hoàng tử của Vua Gia Long), được nuôi dạy kỷ lưỡng theo truyền thống hoàng gia. Bà được Hoà thượng Tánh Hoạt Huệ Cảnh chùa Tường Vân thế phát xuất gia, sau đó về tu với Hoàng Cô là Công chúa Định Thành tại chùa Đông Thuyền.
Trong thời các Chúa Nguyễn, Nữ Phật tử có vai trò ngoại hộ cho sự hình thành và phát triển Phật giáo ở xứ Đàng Trong. Những gương mặt điển hình cho giai đoạn này như là Long Thành Công chúa (Chị cả cùng mẹ với vua Gia Long), Bà Hiếu Khương Hoàng Hậu và nhiều Công chúa, phu nhân trong Hoàng tộc. Long Thành Công Chúa là người có những đóng góp đối với sự trung hưng của Phật Giáo nước nhà. Thời gian Bà ở miền Nam (1779 - 1802), đã thường lui tới để học đạo với nhiều vị cao Tăng tại Nam Bộ thời đó như các ngài Phật Ý Linh Nhạc, Tổ Tông Viên Quang, Tổ Ấn Mật Hoằng, Tiên Giác Hải Tinh…và đặc biệt là Thiền sư Thiệt Thành Liễu Đạt, người đã nhắc nhở bà nên lưu tâm ủng hộ chùa Quốc Ân của Tổ sư Nguyên Thiều. Do đó, khi trở lại Phú Xuân, bà đã trùng tu và ủng hộ các Tổ đình thuộc môn phái của Tổ Nguyên Thiều và làm cho đạo mạch được hưng thịnh và trường lưu.
2. Nữ Phật tử xứ Huế trong phong trào chấn hưng Phật giáo
- Trong tổ chức Giáo hội
Sơn môn xứ Huế được hình thành và phát triển cùng với sự nghiệp các Chúa Nguyễn ở đất phương Nam. Từ đời chúa Nguyễn Phúc Tần (1648 - 1687), nhiều Thiền sư Trung Hoa đã đến nước ta hoằng hoá như Thiền sư Viên Khoan, Viên Cảnh và được các Chúa lưu tâm hộ trì. Nhiều đời Chúa đã phát nguyện thọ trì Bồ Tát Giới và nhiệt tình hộ đạo như Chúa Nguyễn Phúc Chu hiệu Thiên Túng Đạo Nhân, Nguyễn Phúc Thụ, Nguyễn Phúc Khoát, nhờ vậy mà Tăng già xứ Thuận Hoá được hưng thịnh từ rất sớm. Nhưng mãi cho đến những thập niên cuối thế kỷ XIX, chư Ni Thuận Hoá mới hình thành và trở nên lớn mạnh vào đầu thế kỷ XX. Dù lịch sử của Ni giới xứ Huế được ghi lại tương đối trể, nhưng không vì thế mà chư Ni trở nên mờ nhạt trong tổ chức Tăng già. Những vị Ni trưởng đặt nền móng cho Ni giới Thuận Hoá xuất thân từ hoàng tộc, được giáo dục kỷ lưỡng theo tiêu chuẩn của hoàng gia, đó cũng là thế mạnh khi họ gia nhập Tăng đoàn. Nhiều vị đã trở thành danh Ni của thế kỷ XX với các vai trò nổi bật trong đoàn thể Tăng cũng như ngoài xã hội. Những vị danh Ni tiêu biểu có vai trò trực tiếp hoặc gián tiếp trong buổi đầu của phong trào Chấn hưng Phật giáo có thể kể như: Ni trưởng Diên Trường, người đã sáng lập chùa Trúc Lâm và trung tu chùa Phổ Quang, đã đóng góp cho Sơn môn Thuận Hoá hai cơ sở hành đạo trong giai đoạn còn nhiều khó khăn. Đặc biệt là chùa Trúc Lâm, nơi Hoà thượng Giác Tiên đã mở Phật học đường để đào tạo Tăng tài vào năm 1929 và cũng là trụ sở đầu tiên của hội An Nam Phật Học. Từ nơi đây, nhiều vị Tăng tài năng xuất hiện làm “thiệu long thánh chủng” như các Ngài: Mật Khế, Mật Nguyện, Mật Hiển, Mật Thể. Bác Sĩ Lê Đình Thám cũng đã theo học với Ngài Giác Tiên tại đây và trở thành đệ tử hổ trợ đắc lực cho Hoà Thượng trong việc khởi xướng phong trào Chấn hưng Phật giáo Phật giáo nước nhà. Đối với Ni chúng, Ni trưởng đã làm thầy y chỉ cho những vị Ni lúc bấy giờ được xuất gia, thọ giới như: Ni cô Chơn Hướng, Diệu Hương, Giác Huệ…[8]. Ni trưởng cũng đã lập một ni xá riêng tại chùa Trúc Lâm để quy tu chư ni về đây tu học. Những vị Ni xuất thân từ đây là những bậc đống lương cho Ni giới Thuận Hoá trong những thập niên về sau, khi phong trào Chấn hưng đang rầm rộ khắp cả nước.
Nữ cư sĩ Hoàng Thị Cúc - Đoan Huy Hoàng Thái Hậu (1890 - 1980) pháp danh Trừng Loan, mẹ Vua Bảo Đại, là một Phật tử hộ pháp đắc lực, Bà đã có nhiều đóng góp cho Phật giáo. Năm 1932, Bà đã tác động Vua Bảo Đại giúp cho Phật Giáo thành lập hội An Nam Phật Học, và chính Vua Bảo Đại nhận làm Hội trưởng danh dự của Hội. Nhờ thế lực của Vua Bảo Đại, Hội An Nam Phật Học đã loại trừ được những thế lực tay sai của Pháp. Năm 1951, Bà cho xây dựng chùa Khải Đoan ở Buôn Mê Thuột, là ngôi chùa Sắc tứ đầu tiên ở vùng Tây Nguyên và là ngôi chùa Sắc tứ cuối cùng của Triều Nguyễn[9]. Nữ cư sĩ không từ nan trong các Phật sự, như trùng tu chùa chiền bị hư hại, bảo trợ cho các lớp học Tăng ở Tây Thiên và Báo Quốc trong những năm 1940 - 1950. Chùa nào hay chư vị Tôn Đức nào bị giặc Pháp bắt nạt, đe doạ đến tính mạng, Bà liền sai người can thiệp ngay, không để cho các Tăng Ni bị họ chèn ép. Ví dụ như trường hợp Hoà thượng Đôn Hậu bị giặc Pháp bắt và ra lệnh ngài tự đào hầm để chúng xử bắn, nhận được tin này, Hoàng Thái Hậu liền can thiệp với chính quyền Pháp bảo họ ngưng bắn và chôn sống, kết quả là họ phải cởi trói cho Hoà thượng và đem Ngài về bệnh viện để chăm sóc. Bà đã có công ngoại hộ cho sự hưng thịnh của Phật giáo Thuận Hoá và đã có nhiều đóng góp đối với Phật giáo và dân tộc.
Ni trưởng Diệu Hương là người đi tiên phong trong công tác giáo dục Ni chúng, vào năm 1932, Ni trưởng đã mượn chùa Từ Đàm để mở lớp học cho chư Ni. Đến hai năm sau, khi Ni trưởng Diệu Không mua được cơ sở mới và lập nên chùa Diệu Đức, đã thỉnh Ni trưởng về làm Toạ chủ và lớp học cho quý ni cũng được chuyển về đây, được Hoà thượng Phước Huệ đặt tên là “Diệu Đức Ni Trường”[10]. Ni trường này là nơi đã đào tạo được nhiều vị ni tài ba, đóng góp cho đạo pháp và dân tộc trong nhiều lĩnh vực, như quý Ni trưởng: Thể Yến, Diệu Trí, Đàm Minh, Thể Quán, Thể Thanh, Cát Tường, Tịnh Nguyện... Ni trưởng đã cống hiến gần 40 năm để chăm lo đời sống và giáo dục Ni chúng, nhờ đó mà Ni trường đã quy tụ rất đông Ni sinh từ các miền về đây tu học. Phần lớn chư Ni theo học tại Ni trường trong thời kỳ Chấn hưng Phật giáo, sau này đều trở thành những vị lãnh đạo mẫu mực cho Ni chúng tại các tỉnh thành khác trong nước.
Một vị danh Ni tài hoa nữa của xứ Huế và là người đã có những đóng góp quan trọng đối với Phật giáo nước nhà trong gần trọn một thế kỷ đó là Ni trưởng Diệu Không. Người là một trong những danh Ni tiêu biểu, đã có những đóng góp quan trọng trong giai đoạn Chấn hưng Phật giáo, đấu tranh chống kỳ thị Phật giáo để bảo vệ Đạo Pháp và bảo vệ nền văn hoá dân tộc. Trong những thập niên 30, 40 nhờ vào thế mạnh ngoại ngữ, khả năng ngoại giao, các mối quan hệ xã hội của gia đình quý tộc, Ni trưởng đã thuyết phục được chính quyền Bảo hộ và triều đình Huế cấp phép cho thành lập Hội An Nam Phật Học. Là một thành viên trong Ban sáng lập của Hội, Ni trưởng đã có nhiều hoạt động nhằm thúc đẩy sự phát triển của Hội, cụ thể như: thành lập các Ni viện để thúc đẩy tinh thần tu học và đạo tạo các thế hệ kế thừa, tham gia thành lập các trường Phật học, cộng tác các báo, thành lập nhà in, thành lập các trường tư thục, Cô Nhi viện, và các hoạt động xã hội khác. Những hoạt động của Ni trưởng trong các lĩnh vực khác nhau đã góp phần vào những thành tựu của Hội An Nam Phật Học. Hội đã có tầm ảnh hưởng lớn đến đời sống tinh thần của người dân xứ Huế từ thành thị đến nông thôn, qua hệ thống Khuông hội, Chi hội; từ thanh thiếu nên cho đến các bô lão thông qua hệ thống gia đình Phật hoá phổ và sau này trở thành tổ chức gia Đình Phật tử.
Trong lĩnh vực văn hoá - giáo dục, sự thành lập Ni trường Diệu Đức gắn liền với công hạnh của Ni trưởng Diệu Không. Thao thức với sự nghiệp giáo dục và đào tạo chư Ni, Ni trưởng đã bán tư trang, vay mượn tiền để mua đất xây dựng Ni trường Diệu Đức cho chư Ni yên tâm tu học. Một Ni trường nổi tiếng khác cũng được thành lập bởi Ni trưởng là Ni Viện Diệu Quang - Nha Trang. Ở miền Nam, Sư đã góp công thành lập Ni trường đầu tiên ở Sa Đéc, Ni viện Từ Nghiêm, Viện Đại học Vạn Hạnh và Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế. Trong thời kỳ chấn hưng và đấu tranh để đòi tự do tôn giáo và chống lại sự đàn áp Phật giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm, Ni trưởng đã kêu gọi viện trợ để xây dựng nhiều trường Trung Tiểu Học Bồ Đề, các ký nhi viện và cô nhi viện do các Sư cô phụ trách, Đại học Vạn Hạnh. Có thể nói đây là giai đoạn mà các trường tư thục của Phật giáo được mở rộng và hoạt động mang lại hiệu quả cao trong công tác giáo dục về cả nội điển lẫn ngoại điển. Tất cả hệ thống trường mầm non Lâm Tỳ Ni của cả nước đều do quý Sư cô tham gia giảng dạy và điều hành, đã góp phần đào tạo được những thế hệ nền tảng của tương lai đầy tình thương và hiểu biết. Trong phong trào nữ quyền, từ khi còn là một Quận chúa, Ni trưởng đã dấn thân tích cực vào các hoạt động yêu nước và từ thiện xã hội khác nhau như: ủng hộ cụ Phan Bội Châu khi Cụ bị Pháp giam lỏng ở Huế; tham gia thành lập Hội Nữ công để tạo việc làm nhằm cải thiện đời sống của phụ nữ; khởi xướng thành lập Hội Lạc Thiện nhằm giúp đỡ dân nghèo và gia đình các nạn nhân trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh. Nhờ sự tài hoa và khéo lo liệu của Ni trưởng mà ngân quỹ của Hội Lạc Thiện ngày càng dồi dào để lo việc cứu tế cho đồng bào còn đang khó khăn, Hội đã quy tụ được các Bà Chúa, các bà phu nhân của các vị Thượng Thơ, các bà quan lớn và các bà Đầm vợ của những ông Tây quyền cao chức trọng, đặc biệt Ni trưởng đã chiếm được cảm tình của Bà Toàn Quyền để Bà ấy chấp nhận danh hiệu là hội viên danh dự của hội Lạc Thiện. Nữ sử gia Đạm Phương là người hoạt động tích cực trong các hoạt động của hội, để khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần độc lập nơi phụ nữ, thoát khỏi khái niệm ăn bám chồng con. Ngày thành lập hội Ni trưởng đã có bài thơ tặng chị em như sau:
Bài thơ Tặng Hội Nữ Công
Nữ công sáng lập tại thừa thiên
Kinh tế nâng cao bước nữ quyền
Gánh vác giang sơn thân gái Việt
Duy trì nòi giống đất Rồng Tiên
Công dung tinh tấn không lười biếng
Ngôn hạnh đoan trang ấy chính chuyên
Tất cả chị em nên gắng bước
Noi gương Trưng Triệu mãi lưu truyền.[11]
Nhờ vào tài lãnh đạo của bà Đạm Phương và Ni trưởng, mà sản phẩm được làm ra của Hội viên được người dân tin dùng và còn xuất khẩu sang nước ngoài, nhờ đó quỹ của Hội ngày một Tăng, lấy ngân quỹ ấy để tái đầu tư sinh lợi. Tịnh tài của Hội đã được dùng vào nhiều mục đích khác nhau như: giúp anh chị em hoạt động cách mạng, giúp phong trào Cường Để ở Nhật, giúp các anh chị em du học thông qua quỹ An Nam Du Học Hội.[12] Trong thời kỳ Chấn hưng Phật giáo, Ni Trưởng Diệu Không đã có nhiều hoạt động để khích lệ và sách tấn tinh thần học Phật của chị em phụ nữ thông qua các bài viết trên Liên Hoa Văn Tập được xuất bản bởi Liên Hoa Tùng Thư do Ni Trưởng làm chủ biên. Cụ thể như, số đầu tiên của Liên Hoa VănTập xuất bản tháng Giêng năm Ất Mùi (1955) có các bài như: Phụ Nữ Với Đức Dục (trang 8 - trang 11); Tư Cách Bà Nội Tướng (trang 12 - trang 14); hay Phật Giáo với Phụ Nữ (số 3, xuất bản tháng ba năm Ất Mùi (1955); Chương Trình Học Tập của Nữ Phật Tử Đối Với Gia Đình (Số 8, tr. 5- 7, tháng Tám năm Ất Mùi - 1955). Đặc biệt, Liên Hoa Văn Tập đã dành một chuyên mục cho lứa tuổi Nhi Đồng, là chuyên mục để các bà, các mẹ và các chị học hạnh lắng nghe của ngài Quán Thế Âm, để các em có cơ hội giải bày những thắc mắc, và ý kiến của mình, để nhịp cầu cảm thông không bị chia cắt giữa các thế hệ.
Ni trưởng Thể Quán (1911 - 1982) là một trong những danh Ni xứ Huế, người đã có những đóng góp lớn trong công tác giáo dưỡng, đào tạo những thế hệ Ni chúng tiếp nối mạng mạch Phật Pháp. Từ những năm 1964, Ni trưởng đã là giáo thọ của các Ni trường như Diệu Đức (Thừa Thiên), Diệu Ấn (Phan Rang), Diệu Quang (Nha Trang), và Người đã đảm nhiệm công việc này trong mấy chục năm liên tiếp.[13] Bên cạnh đó, Ni trưởng còn là tác giả của nhiều đầu sách và các tập thơ được độc giả đón nhận nồng nhiệt, và có nhiều dịch phẩm đóng góp vào công việc giảng dạy như Kinh Diệu Pháp Liên Hoa (1968), Tỳ Kheo Ni Giới (1975), Bồ Tát Giới (1979)…Liên tục trong hơn mười năm (1954 - 1966), Ni trưởng là cộng tác viên Nguyệt san Liên Hoa. Và từ năm 1966, Ni trưởng là Chủ biên của tập san giáo dục thiếu nhi Sen Hồng.
Trong thời kỳ chiến tranh, Ni trưởng Thích Nữ Trí Hải là một nhân vật tiểu biểu cho nữ Phật tử xứ Huế, người đã có những đóng góp không nhỏ đối với nền giáo dục Phật giáo trong hậu bán thế kỷ 20 cũng như các chương trình an sinh xã hội trong chiến tranh và trong thời kỳ độc lập. Từ năm 1968, Ni trưởng được bổ nhiệm là Thư Viện trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh và Giám đốc Trung Tâm A Sinh Xã Hội của Viện.  Cũng trong thời gian này, Ni trưởng đã bắt đầu tham gia giảng dạy, dịch thuật, thuyết pháp cho sinh viên, Tăng Ni Phật tử tại Viện. Sau chiến tranh, khi Viện Phật Học Vạn Hạnh được thành lập, Ni trưởng tiếp tục làm Giảng sư tại Thiền Viện Vạn Hạnh rồi giảng dạy tại các trường Cao cấp Phật học và Học viện Phật giáo Việt Nam, phụ trách các lớp Kinh Trung Bộ bằng Anh ngữ cho Tăng ni sinh các khoá III, IV, và V. Năm 1996 và 1999 trường Trung Cấp Phật Học tỉnh Long An và Ni viện Thiên Phước thỉnh Ni trưởng dạy Luật Tứ Phần Tỳ Kheo Ni và Bồ Tát Giới[14]. Ngoài những hoạt động giáo dục, hoằng pháp, Ni trưởng còn dành nhiều thời gian để phiên dịch, biên soạn và in ấn kinh điển nhằm giúp Tăng ni, Phật tử có them tài liệu nghiên cứu học tập. Theo bảng mục lục “Trí Hải Toàn Tập”, Ni trưởng có 29 đầu sách chuyển ngữ, 9 đầu sách hiệu đính, 14 tác phẩm được Ni trưởng biện soạn, sách ngoài Phật học có 12 tác phẩm. Với số lượng gần 70 tác phẩm, Ni trưởng đã đóng góp tích cực vào công tác giáo dục và hoằng pháp của Phật giáo nói riêng và kho tàng văn hoá dân tộc nói chung. Còn nhiều vị danh Ni khác cũng có vai trò quan trọng trong công tác giáo dục vào thời kỳ hấn hưng Phật Giáo như: Ni trưởng Thích Nữ Viên Minh (1914 - 2014) chùa Hồng Ân, trọn một thế kỷ, Ni trưởng đã đảm nhận nhiều công việc được Giáo hội giao phó: năm 1940, Ni trưởng cùng Ni trưởng Thể Yến ra Bắc để giảng dạy Quy Sơn Cảnh Sách và Di Đà Sớ Sao tại chùa Bồ Đề, Gia Lâm, Hà Nội; năm 1960, Ni trưởng vào Phú Yên làm Phật sự tại Cô nhi viện Tuy Hoà; năm 1963, Ni trưởng được mời làm Phó Giám viện Ni viện Diệu Quang, Nha Trang để dẫn dắt ni chúng đồng thời làm Giám đốc Ký nhi viện Phước Điền - Nha Trang; năm 1972, trở về Huế là Đặc uỷ Xã hội và dạy Quy Sơn Cảnh Sách tại Ni viện Diệu Đức, Huế.
Ni trưởng Thể Quán đã cộng tác và có nhiều bài viết trong tập văn này như: Hoàng Hậu Vi Đề với Pháp Môn Tịnh Độ (số 5, tr. 10 - 13, Tháng Năm năm Ất Mùi - 1955); Một Người Nghèo Lạ (số 6, tr.12 - 17, Tháng Sáu Năm Ất Mùi - 1955), và nhiều bài thơ của Ni trưởng được đăng trên tập văn này. Ni trưởng Viên Minh đã có những bài viết như: Vàng Ngọc Phải Chăng là Hạnh Phúc (số 6, tháng Sáu Năm Ất Mùi - 1955, tr. 3- 4). Ni trưởng Cát Tường đã cộng tác với các bài viết: Đời Đáng Yêu hay Đáng Ghét (Số 6, tr.31 - 33, tháng Sáu năm Ất Mùi - 1955). Ni trưởng Minh Bổn chùa Hương Sơn là một trong những danh Ni của xứ Huế, sinh thời Ni trưởng đã đảm nhiệm và hoàn thành nhiều Phật sự do Giáo Hội giao phó, đồng thời đã khuyến hoá được rất đông tín nữ đến sinh hoạt và tu học tại chùa Hương Sơn. Với Phật tử, chùa ngôi chùa Hương Sơn là điểm sinh hoạt cho nhiều đoàn Phật tử như: Tu Xà Đề, Lộc Uyển, Ni Liên Thuyền, Từ Bi Sứ Giả. Hình ảnh của Ni trưởng đối với họ là một người Thầy, Người Mẹ, Người Chị thật gần gũi và khả kính[15]. Ni trưởng đã tiếp nối hạnh nguyện của Ni trưởng Diệu Không tham gia vào Ban chấp hành Hội Phụ nữ Việt Nam và Hội Phụ nữ tỉnh Thừa Thiên Huế.
Từ quá khứ và cả ngày nay, chư Ni xứ Huế luôn là nơi nương tựa vững vàng cho hàng đệ tử tại gia, đặc biệt là chư tín nữ. Xứ Huế còn được mệnh danh là chốn “Thiền kinh” không chỉ vì nơi đây đã nuôi dưỡng và sản sinh ra nhiều bậc “đống lương của Phật Giáo” mà còn vì con người nơi đây thấm nhuần tư tưởng và lối sống nhà Phật, và để Phật hoá gia đình, công đức của các bà, các mẹ, các chị là vô cùng quan trọng. Ý thức sâu sắc về sứ mệnh của mình, chư Ni xứ Huế đã thể hiện được sức mạnh của mình qua tổ chức Ni Bộ Thừa Thiên Huế, để thông qua đó, chư Ni có cơ hội được học hỏi, trau dồi học hạnh, chia sẽ những kinh nghiệm hoằng pháp và tu học, tiếp độ Ni chúng, hướng dẫn hậu lai… Ni giới xứ Huế luôn thể hiện sự vững chãi và giúp cho những thiện tín phát tâm dõng mãnh trên đường đạo, sống đẹp giữa cõi đời.
- Trong các hoạt động an sinh xã hội
Với đặc tính giàu lòng bi mẫn, dễ dàng đồng cảm trước nỗi khổ của tha nhân, Ni giới luôn đồng hành để “cho người niềm vui và giúp người bớt khổ”, nữ Phật tử và chư Ni xứ Huế đã có những đóng góp nổi bật trong các hoạt động cứu tế chiến tranh với nhiều hoạt động khác nhau như: trở thành ý tá trong các nhà thương, mở các bệnh xá tại chùa, thành lập cô nhi viện để cưu mang những trẻ em mồ côi cha mẹ trong chiến tranh, mở các lớp học xoá mù chữ, thành lập trường mầm non và các trường sơ học để dạy các em về văn hoá và Phật pháp, thành lập nhà dưỡng lão để chăm lo những mãnh đời cô quạnh, tiếp tế lương thực, cứu trợ đồng bào bị thiên tai. Đi đầu trong công tác này có thể kể đến như Ni trưởng Diệu Không, Ni trưởng Hướng Đạo (1905 - 1974) chùa Diệu Viên, Ni Trưởng Thể Quán (1911 - 1982) chùa Hoàng Mai, Ni Trưởng Chơn Thông (1934 -1990) chùa Diệu Viên, Ni trưởng Cát Tường chùa Hoàng Mai, Ni trưởng Trí Hải, và rất nhiều chư tôn đức Ni khác đã tham gia vào các công tác thiện nguyện một cách cần mẫn trong kháng chiến và sau khi đất nước đã độc lập.Trong đó, ngoài những tên tuổi lớn như Ni trưởng Diệu Không, Ni trưởng Trí Hải nổi tiếng không chỉ trong nước mà còn ở hải ngoại, có nhiều Tôn Đức Ni khác cũng đã gắn bó cả đời mình để thực hành lục độ theo hạnh nguyện của chư vị Bồ tát. Có thể nêu ra một số vị tiêu biểu như: Ni trưởng Thể Yến, Ni trưởng Thể Quán, Ni trưởng Cát Tường, Ni trưởng Thể Chánh, Ni trưởng Chơn Thông, Ni trưởng Diệu Tấn.
Năm 1968, Ban Đại diện GHPGVN tỉnh Thừa Thiên giao cho Ni trưởng Thể Quán chức vụ “Đặc uỷ xã hội” cùng Ni trưởng Cát Tường làm Trưởng Ban cứu trợ để cứu trợ đồng bào nạn nhân chiến tranh, thiên tai bảo lụt, cùng các hoạt động cứu tế khác. Với tinh thần “phụng sự chúng sanh là cúng dường chư Phật”, Ni trưởng và Ni Trưởng Cát Tường đã thật sự vận động được mọi tầng lớp Phật tử cùng chung tay để cùng nhau an ủi, chia sẻ những khó khăn của các nạn nhân chiến tranh, những khổ đau của đồng bào bị thiên tai, lũ lụt. Nhờ sự khéo léo và nhiệt tâm của Ni trưởng mà công tác cứu trợ của Ban Đại diện Phật Giáo tỉnh nhà đã đạt được những kết quả tốt đẹp trong suốt nhiều năm liền (1968 - 1972)[16]. Ni trưởng Thể Yến là một vị dành tâm huyết cho các hoạt động giáo dục, bên cạnh đó Ni trưởng đã mở Ký nhi viện Diệu Đức vào năm 1961 để nuôi dạy con em của các gia đình nghèo khó tại địa phương.
Ni Trưởng Chơn Thông (1934 -1990) chùa Diệu Viên là Người có nhiều hoạt hoạt động Phật sự góp phần vào Phong trào chấn hưng Phật Giáo như: thành lập bệnh xá tại chùa Diệu Viên và đã đào tạo được một số sư cô làm việc tại bệnh viện Huế; mở trường Sơ học Diệu Viên;  lập nhà Dưỡng lão Diệu Viên; Giám đốc Cô nhi viện Tây Lộc trong thời gian 4 năm, nuôi dưỡng hơn 200 em mồ côi; năm 1980, Ban Trị sự Giáo hội Thừa Thiên Huế đề cử Ni trưởng vào thành viên của Ban Trị sự.[17] Ngoài ra còn nhiều vị Ni trưởng khác đã có những hoạt động tích cực trong hoạt động từ thiện xã hội đã được trong tác phẩm Chư Tôn Thiền Đức và Cư Sĩ Hữu Công Phật Giáo Thuận Hoá của tác giả Thích Trung Hậu và Thích Hải Ấn.
1. Chư Ni xứ Huế trong thời hiện đại
Tiếp bước tiền nhân, Chư Ni xứ Huế ngày nay đã kế thừa và phát huy những truyền thống tốt đẹp mà chư vị tiền bối đã dày công xây dựng. Dấn thân vừa là phương tiện vừa là hạnh nguyện để phụng sự và độ sanh, cũng là để tự độ; độ chúng sanh bên ngoài mà không quên độ chúng sanh bên trong, đó là chìa khoá để mở ra phương trời cao rộng, thênh thang. Ngày nay, Chư Ni có nhiều cơ hội để phát huy những thế mạnh tự thân, nên vai trò cũng được thể hiện rõ trong nhiều lãnh vực, từ công việc hành chánh, giáo dục, hoằng pháp, các hoạt động văn hoá, từ thiện xã hội… Chư Ni xứ Huế ngày nay đang có mặt ở nhiều nơi trên thế giới, nên những đóng góp không chỉ giới hạn ở tầm quốc gia mà rộng hơn thế nữa, trong bài viết này chỉ xin nêu tổng quát về những đóng góp của Chư Ni tại tỉnh nhà.
Trong công tác giáo dục, nhiều vị ni là giảng viên tại Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại Huế, thành phố Hồ Chí Minh. Đặc biệt, tại cơ sở 2 của Trường Trung cấp Phật học tỉnh được đặt tại Ni viện Diệu Đức, phần lớn là giáo thọ Ni phụ trách giảng dạy. Số lượng ni sinh được quý Ni sư ươm mầm tuệ chủng tại đây lên đến số ngàn, và số lượng ni sinh sau khi tốt nghiệp tại đây có tỷ lệ đậu cao cho đầu vào tại Học viện Phật giáo. Theo danh mục chùa Ni tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2013, có 87 chùa Ni tại tỉnh nhà,[18] với số lượng chư ni khoảng 1,000 vị, con số này cho biết tiềm năng hoằng pháp lớn của Ni giới. Đối với những ngôi chùa Khuôn Hội chỉ có một vị Ni trú trì, sứ mạng hoằng pháp của quý vị đó là rất lớn, vừa là trú trì, vừa nhà hoằng pháp, vừa thực hiện nghi lễ… Một vị trú trì phải đảm nhiệm nhiều chức năng ở các vùng xa đô thị, do đó, họ là những nhà hoằng pháp tích cực.
Trong công tác từ thiện xã hội, Chư Ni trong Ban Từ thiện Tỉnh và các huyện ngoài công việc cứu trợ thiên tai, giúp đỡ đồng có hoàn cảnh khó khăn cả ngắn hạn và dài hạn, đẩy mạnh sự trợ giúp đến các vùng sâu, vùng xa…; Chư Ni còn nỗ lực để phát triển các chương trình dài hạn trong giáo dục, nuôi dạy trẻ mồ côi, khuyết tật, các chương trình y tế, chăm sóc người già neo đơn, chương trình dạy nghề cho người nghèo, hổ trợ lương cho giáo viên ở những vùng khó khăn. Hiện nay có nhiều cơ sở Mầm non tư thục trực thuộc Giáo Hội do quý Ni quản lý và điều hành đang hoạt động hiệu quả như cơ sở Mầm Non tại các chùa Diệu Đế, Chùa Quảng Tế, Chùa Hồng Đức, chùa Diệu Viên, chùa Hoa Nghiêm, chùa Phò Quang, chùa Diệu Nghiêm, chùa Đức Sơn … Ngoài chư Ni là các y sĩ, y tá đang phục vụ tại Tuệ Tĩnh Đường Hải Đức trong Đông y và Tây y, nhiều chùa Ni ở Huế có phòng khám bệnh và chữa trị theo phương pháp y học cổ truyền.
Trong chương trình nuôi dạy trẻ mồ côi, Ni trưởng Minh Tú là một tấm gương tiêu biểu với Trung tâm Nuôi dạy Trẻ em Mồ coi chùa Đức Sơn. Hơn 30 năm qua Ni trưởng cùng quý Ni đã chăm sóc hàng trăm các em cô nhi và giáo dục các em thành tài, có nghề nghiệp ổn định. Hiện nay Cô nhi viện Đức Sơn đang nuôi dưỡng 200 em đủ các độ tuổi. Ngoài công việc chăm lo cho đời sống của 200 cháu cô nhi, Ni trưởng còn kêu gọi Phật tử, đồng bào chung tay đùm bọc người nghèo, giúp đỡ trẻ em bất hạnh. Ni trưởng là người bảo trợ cho 85 cơ sở mầm non ở các vùng quê nghèo của 2 huyện Hương Trà, Hương Thuỷ, Thừa Thiên Huế[19]. Ni trưởng còn tham gia nhiều công tác xã hội và Phật sự khác như: Hội Bảo trợ trẻ em tỉnh Thừa Thiên Huế; Uỷ viên Ban chấp hành Hội Khuyến học tỉnh Thừa Thiên Huế; Ban bảo trợ bệnh nhân Phong tỉnh Thừa Thiên Huế; Trưởng ban lớp học tình thương tỉnh Thừa Thiên Huế; Trưởng Ban Kinh tế - tài chánh Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam tỉnh Thừa Thiên Huế; Thành viên Ban thường trực Ni Giới Thừa Thiên Huế. Với những việc làm đầy ý nghĩa ấy mà Ni trưởng được bình chọn là “Những Phụ Nữ làm rung động trái tim Việt Nam” do Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Đài truyền hình Việt Nam và Thời báo Kinh tế Việt Nam tổ chức năm 2006. Ni trưởng và chư Ni chùa Đức Sơn đã vinh dự đón nhận nhiều Huân chương và Bằng khen từ cấp Huyện, Tỉnh và Trung ương như: Huân chương Vì Sự Nghiệp Khuyến Học; Huân chương Vì Sự Nghiệp Giáo Dục (04 Huân chương) do Bộ giáo dục và Đào tạo cùng Chủ tich Hội Khuyến học Việt Nam trao tặng, Huân chương Người Tốt Việc Tốt… Năm 2004 Ni trưởng được Chủ tịch nước Trần Đức Lương gửi thư khen thưởng.[20]
Ni trưởng Thích Nữ Như Minh chùa Pháp Hỷ (Tây Linh) thành Phố Huế là một danh ni trong thời hiện đại, trong cuộc đời mình Ni Trưởng luôn đồng hành, chia sẻ với những mãnh đời bất hạnh với những chuyến xe cứu trợ, với công việc từ thiện từ hơn 50 năm qua. Tháng 1/2001, Ni trưởng đã mở lớp dạy nghề thêu, may, đan len với hơn 150 học viên theo học trong khoá đầu tiên tại chùa Pháp Hỷ. Đến năm 2013, chùa đã đào tạo và cho ra nghề hơn 1,500 em với các nghề may, đan len, thêu, và tin học. Có một số sau khi ra nghề xin ở lại chùa làm việc, Ni trưởng đã tạo công ăn việc làm bằng cách tìm đầu ra cho sản phẩm và trả lương cho các em theo sản phẩm. Trong chùa còn tạo điều kiện cho các em khuyết tật ở lại ăn ở miễn phí, có việc làm thường xuyên. Ngoài cơ sở dạy nghề tại chùa Pháp Hỷ, Ni trưởng còn mở lớp dạy nghề Phùng Xuân ở thị xã Quảng Trị (tỉnh Quảng Trị) với số lượng mỗi khoá có trên 200 học viên được đào tạo học nghề miễn phí. Hơn năm mươi năm qua, cứ vào dịp lễ, Tết, Ni trưởng đã cùng quý Ni sư trong Ban Từ thiện Giáo hội Phật Giáo tỉnh Thừa Thiên Huế tìm đến các vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số ở tại các tỉnh để trao những phần quà đến bà con, đồng thời chia sẻ những câu chuyện để an ủi tinh thần, giúp bà con thêm nghị lực để thoát khó vượt nghèo. Ni trưởng còn có chương trình xây nhà tình thương cho người nghèo tại Thừa Thiên Huế và Quảng Trị; trợ cấp hàng tháng cho người già neo đơn, trẻ em khuyết tật; cứu trợ đồng bào bị thiên tai, lũ lụt tại nhiều tỉnh thành trong nước. Thường thăm viếng và tặng quà cho các bệnh nhân phong ở các trung tâm da liễu như Văn Môn Thái Bình, Quỳnh Lưu Nghệ An, Quy Hòa Quy Nhơn và Đà Nẵng. Chính những hoạt động mang lại lợi ích cho cộng đồng, cải thiện đời sống những người còn khó khan của Ni trưởng, nên báo Công an nhân dân phiên bản điện tử số ra ngày 13/11/2013, lúc 15:22, đã giới thiệu tấm gương của Ni trưởng tại chuyên mục Nhịp cầu nhân ái, với bài viết “Có một Ni trưởng chuyên tâm làm việc thiện” của tác giả Bảo Ngọc[21]. Ngoài chức vụ Trưởng Ban từ thiện tỉnh qua các nhiệm kỳ, Ni trưởng còn là Phó trưởng Phân Ban Ni giới Trung ương và Phó trưởng Phân ban Ni giới Thường trực Thừa Thiên Huế, thành viên Ban Hoằng pháp Phật giáo tỉnh Thừa Thiên Huế, thực hiện vai trò hoằng pháp qua các buổi thuyết giảng cho Ni chúng tại các trường hạ và thuyết giảng cho thiện tín tại nhiều nơi. Ni trưởng còn được cung thỉnh vào hàng Giáo Thọ Sư và Tôn chứng Sư trong nhiều Đại giới đàn ở Huế và Quảng Trị. Ni Trưởng thường đến các nơi vùng sâu vùng xa giúp đỡ chương trình mổ mắt, đục thủy tinh thể cho bệnh nhân nghèo, được nhà nước tặng huy chương “vì hạnh phúc người mù”. Được Trung ương Mặt trận Tổ quốc tặng kỷ niệm chương, được Giáo hội và Ban Từ thiện Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam tặng nhiều bằng khen.
Trong lĩnh vực chăm sóc và nuôi dưỡng các cụ già neo đơn, có Cố Ni trưởng Thích Nữ Diệu Thành, chùa Tịnh Đức, người đã thành lập Nhà Dưỡng lão Tịnh Đức, Huế; Ni sư Thích Nữ Diệu Đàm, Trưởng Ban Điều Hành Viện Dưỡng lão Diệu Viên, Trường Mẫu giáo tình thương Diệu Viên; Trung tập học tập GFO Diệu Viên. Sư cô Thích Nữ Phước Thiện với Cô Nhi viện Ưu Đàm thuộc thôn Vinh Vệ xã Phú Mỹ, huyện Phú Vang, Thừa Thiên Huế. Cố Ni trưởng Thích Nữ Minh Tánh chùa Long Thọ là người đã sáng lập Trung tâm Bảo trợ trẻ em khuyết tật chùa Long Thọ (393 Bùi Thị Xuân, phường Thuỷ Biều, Tp Huế) vào năm 2015. Hiện nay, Trung tâm đang quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng cho 70 trẻ khuyết tật trên địa bàn tỉnh dưới sự điều hành của Sư cô Thích Nữ Thoại Khánh. Và còn nhiều chư Ni đang đảm nhiệm việc chữa bệnh theo phương pháp y học cổ truyền tại các chùa, quý Ni đang đảm nhiệm công tác tại các trường mầm non…tất cả đã và đang cùng nhau thực hiện sứ mệnh “thượng cầu Phật đạo, hạ hoá chúng sanh” theo phương châm: “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”.
Kết Luận
Theo dòng lịch sử chúng ta thấy rằng, ngay từ thời Phật giáo du nhập vào Việt Nam, vai trò của nữ Phật tử đã được nhấn mạnh qua hình tượng vợ chồng Công chúa Tiên Dung cùng ra biển học Phật, hay hình tượng Phật mẫu Man Nương với hệ thống Tứ Pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện) được người Việt cổ tôn thờ, điều này khẳng định vai trò của người phụ nữ trong Phật Giáo và dân tộc. Đặc biệt hơn nữa, khi lịch sử vùng đất Thuận Hoá được hình thành gắn liền với cuộc hôn nhân bang giao giữa Công chúa Huyền Trân và vua Chế Mân nước Chiêm Thành. Công chúa đã gác lại những tư niệm cá nhân để hi sinh cho sự nghiệp mở mang bờ cõi của nước nhà, để khai sinh vùng đất Thuận Hoá mà sau này đã trở thành kinh đô của nhà Nguyễn. Đến đời các Chúa Nguyễn, ở Đàng trong Phật Giáo đã được các Chúa hộ trì và công đức của các Bà Chúa luôn được lưu truyền cả trong dân gian và trong lịch sử Phật Giáo. Tuy nhiên vào thời các Chúa Nguyễn, vai trò của Nữ Phật tử chủ yếu vẫn là sự ngoại hộ, đến đời nhà Nguyễn đã có nhiều vị Công chúa và phụ nữ trong hoàng tộc xuất gia, chính họ là những vị đã đặt những viên đá đầu tiên cho sự hình thành Ni Giới xứ Thuận Hoá sau này. Nhiều Hoàng Hậu, Quý Phi, Công chúa nhà Nguyễn đã trở thành những Phật tử thuần thành và hộ đạo hết lòng. Họ là những Nữ Phật tử có tầm ảnh hưởng đối với chính sách của các vua Nhà Nguyễn với Phật Giáo. Đến đầu thế kỷ XX, có nhiều danh Ni trong Phật Giáo xuất thân từ hoàng cung, hoàng tộc và các gia đình quyền quý như Ni trưởng Diên Trường, Ni trưởng Diệu Hương, Ni Trưởng Giác Huệ (chùa Hoa Nghiêm), Ni trưởng Thể Quán, Ni trưởng Thể Thanh, Ni trưởng Diệu Không…Chư vị là những bậc tiền bối hữu công được lịch sử Phật Giáo vinh danh, công hạnh của quý Ngài làm rạng danh Thích Nữ. Trong thời kỳ chấn hưng Phật Giáo, Chư Tôn Đức Ni đã có vai trò quan trong nhiều lĩnh vực như: giáo dục, hoằng pháp, kiến tạo tự viện, tiếp độ ni chúng, khuyến khích phong trào học Phật và ứng dụng lời Phật dạy đối với phụ nữ, tham gia sáng lập các tổ chức Phật Giáo, thực hiện các chương trình an sinh xã hội, cứu tế chiến tranh.. Trong thời kỳ này, Chư Ni và nữ Phật tử đã thể hiện được năng lực tiềm ẩn tự thân để góp phần vào công cuộc chấn hưng Phật Giáo, gây được tiếng vang lớn với cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp nghiệp giải phóng dân tộc thoát khỏi các thế lực ngoại bang. Từ khi đất nước độc lập cho đến nay, Nữ Phật Tử xứ Huế đã kế thừa và phát huy các truyền thống tốt đẹp của Chư vị tiền bối, tham gia và đảm nhận nhiều công tác Phật sự cũng như các phong trào phụ nữ. Chư ni ngày nay đã có nhiều cơ hội để phát triển các năng lực bản thân, phụng sự đạo pháp, dân tộc; Chư ni và nữ Phật tử xứ Huế đã thể hiện vai trò trong nhiều lĩnh vực và nhiều gương sáng được Giáo hội và Nhà nước vinh danh.

 
[1] Nguyễn Lang, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, tập 1, Tp. Hồ Chí Minh: Nxb. Phương Đông, 2012, tr.226.
[2] Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm, Lịch Sử Phật Giáo Xứ Huế, TP. Hồ Chí Minh: Nxb. Văn Hoá Sài Gòn, 2006, tr. 264.
[3] Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm, Sđd, tr. 266, 267.
[4] Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm, Sđd, tr. 268, 269.
[5] Quốc Sử Quán, Đại Nam Nhất Thống Chí, q.III, Phủ Thừa Thiên, Mục chùa quán, tr.181/ Phạm Trọng Điềm và Đào Duy Anh, Hà Nội: Nxb. Khoa Học Xã Hội, 1969.
[6] Thích Trung Hậu - Thích Hải Ấn, Chư Tôn Thiền Đức Phật Giáo Thuận Hoá, Tp. Hồ Chí Minh: Nxb. Văn Hoá Sài Gòn, 2010, tr. 668.
[8] Thích Trung Hâu -Thích Hải Ấn, sđd, tr. 671.
[9] Thích Trung Hậu -Thích Hải Ấn, Chư Tôn Thiền Đức & Cư Sĩ Hữu Công Phật Giáo Thuận Hoá, tập 2,  tr. 693, 694, 695/ xem:http://www.vnbet.vn/chu-ton-thien-duc-cu-si-huu-cong-phat-giao-thuan-hoa-tap-2/nu-cu-si-hong-thi-cuc-1890-%E2%80%93-1980-phap-danh--trung-loan-3863.html
[10] Thích Trung Hậu -Thích Hải Ấn, Sđd, tr. 679.
[11] Thích Nữ Diệu Không, Hồi ký của Sư Bà Thích Nữ Diệu Không (từ 1911 -1985), phiên bản điện tử của Hồ Đắc Duy; http://chimvie3.free.fr/61/hdds_HoiKySuBaDieuKhong_061.htm.
[12] Thích Nữ Diệu Không, Hồi Ký của Sư Bà Diệu Không (từ 1911 -1985), phiên bản điện tử của Hồ Đắc Duy; http://chimvie3.free.fr/61/hdds_HoiKySuBaDieuKhong_061.htm.
[13] Thích Trung Hậu -Thích Hải Ấn, Sđd, tr. 684.
[14] Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam cùng Môn Đồ Pháp Quyến, Tưởng Niệm Ni Trưởng Thích Nữ Trí Hải (1938 -2003), TP. Hồ Chí Minh: NXb. Tổng Hợp Thành Phố Hồ Chí Minh, 2004, tr. 14 -15.
[15] Thích Trung Hậu -Thích Hải Ấn, Sđd, tr. 731.
[16] Thích Trung Hậu -Thích Hải Ấn, Sđd, tr. 684.
[17] Thích Trung Hậu -Thích hải Ấn, Sđd, tr. 692, 693, 694.
[18] Ban Trị sự Giáo hội Phật Giáo Việt Nam tỉnh Thừa Thiên Huế, Danh mục chùa Ni tỉnh Thừa Thiên Huế 2013/ http://www.phatgiaohue.vn.
[19] Phan Lê, Cô nhi Viện chùa Đức Sơn: Ấm lại những mãnh đời, Báo Sài Gòn Giải Phóng Online (15:00, thứ 7, 7/7/2007)/ http://www.sggp.org.vn/co-nhi-vien-chua-duc-son-am-lai-nhung-manh-doi-208463.html.
[20] Tư liệu cung cấp bởi Trung tâm Nuôi dạy Trẻ em Mồ côi chùa Đức Sơn.
[21] Bảo Ngọc, Có một Ni trưởng chuyên tâm làm việc thiện, Báo Công an nhân dân/ http://cand.com.vn/nhip-cau-nhan-ai/Co-mot-ni-truong-chuyen-tam-lam-viec-thien-243596/

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây