19 NI ĐOÀN TRONG GIÁO HỘI TRÚC LÂM

Thứ sáu - 25/10/2019 22:03
NI ĐOÀN TRONG GIÁO HỘI TRÚC LÂM

TT. TS. THÍCH PHƯỚC ĐẠT
 Ủy viên Hội Đồng Trị sự GHPGVN
Phó Ban kiêm Chánh Thư ký Ban GDPGTW
Phó Viện trưởng HVPGVN tại TP. HCM
TT. TS. THÍCH PHƯỚC ĐẠT
 Ủy viên Hội Đồng Trị sự GHPGVN
Phó Ban kiêm Chánh Thư ký Ban GDPGTW
Phó Viện trưởng HVPGVN tại TP. HCM
1. Vài nét về tổ chức Giáo hội Trúc Lâm:
Kể từ khi Lý Công Uẩn lên ngôi Hoàng đế, khai sáng ra vương triều nhà Lý, đất nước Đại Việt đã bước sang thời đại mới với chủ trương đường hướng: “Xây dựng Quốc gia Đại Việt độc lập, tự chủ, không chỉ trên biên cương lãnh thổ màđộc lập tự chủ trên mọi phương diện từ kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục kể cả tín ngưỡng tâm linh. Sau khi vương triều nhà Lý hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình, nhà Trần trên nền tảng thành tựu của nhà Lý đã nỗ lực xây dựng quốc gia Đại Việt hùng mạnh và thống nhất trên mọi phương diện, lĩnh vực, trong đó ưu tiên hàng đầu thống nhất ý chí về hệ tư tưởng, về mặt tổ chức, về hoạt động, tiến đến hình thành tổ chức Phật giáo Nhất tông. Cụ thể, giới lãnh đạo quốc gia và Phật giáo đã chung tay thiết lập tổ chức Giáo hội Trúc Lâm là tổ chức duy nhất đại diện cho Phật giáo Đại Việt độc lập, tự chủ trên phương diện tín ngưỡng tâm linh của dân tộc, là tổ chức quy tụ và gắn kết khối đại đoàn kết toàn dân. Theo Nguyễn Duy Hinh, mô hình tổ chức Phật giáo Nhất tông ra đời dựa trên hai tiền đề xã hội và tôn giáo hình thành trong hoàn cảnh lịch sử của nước nhà.
Về mặt xã hội, nhà Trần trong buổi đầu mới thành lập, công việc cấp bách thiết thực nhất đặt ra trước mắt các nhà lãnh đạo tối cao là xây dựng một ý thức hệ độc lập thống nhất gồm 4 mục đích chính: 1. Thoát khỏi sự lệ thuộc chặt chẽ về ý thức hệ với nước ngoài để thanh toán hoàn toàn mọi cơ sở của nước xâm lược. 2. Làm cơ sở tư tưởng để thống nhất ý thức dân tộc về mặt chính trị để củng cố sự thống nhất dân tộc một bước nữa. 3. Làm công cụ thống nhất quyền lực vào chính quyền Trung ương, tức quy tụ vào họ Lý, họ Trần. 4. Làm phương diện giải quyết các mâu thuẫn nội bộ dân tộc chủ yếu là giai cấp lãnh đạo và đông đảo nhân dân quần chúng nhằm duy trì một trật tự xã hội và cũng tức là duy trì ngai vàng của dòng họ.
Về mặt tôn giáo, nhà Trần phải lựa chọn Thiền tông làm ý thức hệ tiêu biểu, nhưng cần phải thay đổi nội dung của các Thiền phái để đáp ứng các yêu cầu căn bản như đã nói trên. Vì thế, nhà Trần chủ trương lập ra một Thiền phái có nội dung tư tưởng độc lập, thể hiện đúng tinh thần bản sắc dân tộc hơn, hướng đến các mục tiêu sau: 1. Tự mình phân biệt với Thiền tông ở Trung Quốc biểu lộ tính độc lập. 2. Thay đổi một phần nội dung tiêu cực và thân ngoại quốc của các phái Thiền tông trong nước. 3. Vượt lên trên sự khác biệt của tất cả các tông phái Phật giáo cũng như các tín ngưỡng phi Phật giáo để nhằm thống nhất ý thức hệ. Không chịu trách nhiệm về sự khác biệt và đụng độ đã xảy ra trong lịch sử giữa các phái Thiền tông với nhau cũng như Thiền tông với các tín ngưỡng khác, do đó thu hút các tín ngưỡng khác. 4. Tự khoác cho mình chiếc áo một tôn giáo mới - tuy rằng thực tế chỉ là một phái, với đầy đủ các yếu tố để thu phục quần chúng. [1]
Thực tế, tư tưởng lập Thiền phái mới được manh nha từ khi Phật giáo chủ trương mới, nhập thế, tuỳ tục, tuỳ duyên nhưng bất biến để đáp ứng các yêu cầu lịch sử dân tộc đặt ra của một đất nước vừa độc lập và đang thực hiện thống nhất trên mọi phương diện. Dưới ảnh hưởng và uy tín của nhà vua vào thế kỷ thứ XIII, ba Thiền phái trên dần dần sát nhập thành Thiền phái Trúc Lâm duy nhất đời Trần. Và như thế mô hình Phật giáo Nhất Tông còn gọi là Giáo hội Trúc Lâm được thiết kế từ khi Trần Thái Tông lên ngôi, và phải đến thời Trần Nhân Tông thì mới đi vào hoạt động thực tiễn một cách mạnh mẽ.
Mô hình tổ chức Giáo hội này hoạt động như một tôn giáo mới ra đời mà ở đó Trần Nhân Tông được tôn vinh là Giáo chủ Phật hoàng Trần Nhân Tông, có tôn chỉ, đường lối hoạt động trong một tổ chức thống từ tưởng cho đến hình thức hoạt động của Giáo hội từ Trung ương cho đến các địa phương. Đây là một nét mới, đặc sắc của Phật giáo nhà Trần. Thực tế, khi đất nước thống nhất thì mọi tổ chức cũng phải thống nhất. Thế nhưng, vào đời Lý, mặc dầu Phật giáo được xem là quốc giáo với những ông vua Phật tử thuần thành ủng hộ, vậy mà Giáo hội cũng chưa thành lập được. Các chức vụ như Quốc sư, Tăng thống, Tăng lục…là những chức vụ do vua, triều đình ban, chứ không phải của Giáo hội. Với sự thành lập Giáo hội Trúc Lâm, rõ ràng Tam Tổ Trúc Lâm muốn thống nhất các Thiền phái đang có mặt, quy tụ toàn bộ Tăng Ni vào trong một tổ chức Giáo hội, hoạt động với một tinh thần và mang bản sắc dân tộc, nhập thế tích cực và thể nghiệm tu chứng ngay giữa cõi đời này.
        Cho nên, việc thành lập Giáo hội Trúc Lâm, chùa Vĩnh Nghiêm vinh dự được các nhà lãnh đạo Phật giáo bấy giờ chọn làm trụ sở Trung ương Giáo hội là điều tất yếu. Văn phòng Trung ương Giáo hội ra đời tại ngôi chùa phát tích chốn Tổ này, một mặt nó đáp ứng được nhu cầu lịch sử đặt ra như đã nói, một mặt tạo nên sức mạnh nội tại của chính mình để phát triển Giáo hội trên một tầm vóc mới, phục vụ cho công cuộc chấn hưng Phật giáo, cũng là góp sức phát triển đất nước.
        2. Ni đoàn trong tổ chức Giáo hội Trúc Lâm:
          Với một tổ chức Giáo hội Trúc Lâm ra đời như đã phân tích trên, rõ ràng Phật giáo Đại Việt đã phát triển mạnh mẽ và hưng thịnh trên nền tảng Phật giáo Nhất tông đã được thiết lập. Theo thiển ý chúng tôi, những người con gái đệ tử Phật có tâm xuất gia tu học và thực hành giáo pháp cũng được sự quản lý và điều hành Phật sự trong tổ chức Giáo hội Trúc Lâm từ Trung ương cho đến các địa phương. Về mặt lý luận, tổ chức quản lý Ni giới tu học và thành tựu lý tưởng giải thoát là sự tất yếu trong Giáo hội Trúc Lâm. Về mặt thực tiễn, nữ giới hướng tâm xuất gia, chứng ngộ và phát triển đồ chúng đã có trước đời Trần.
Chính vì vậy, tổ chức Ni đoàn của Giáo hội Trúc Lâm đời Trần ra đời và hoạt động mạnh mẽ là quy luật tất nhiên của lịch sử. Từ buổi đầu Phật giáo du nhập vào Việt Nam, sau cuộc khởi nghĩa Hai bà Trưng thất bại (43) thì hình ảnh Tỳ kheo ni là nữ tướng, nữ vương Bát Nàn đã xuất gia, hành đạo và viên tịch tại ở chùa Tiên La đã xuất hiện, rồi quá trình tiếp biến đó đến thế kỷ II là hình ảnh Phật mẫu Man Nương hóa hiện giữa đời thường để độ chúng sinh.Thông qua các sử liệu, chúng ta còn biết được vào thời Bà Hai bà Trưng khởi nghĩa còn có nữ tướng Thiều Hoa sau chiến thắng quân Nam Hán đã xuất gia chùa Phúc Khánh (làng Hiền Quang, huyện Tam Thanh, tỉnh Phú Thọ); công chúa Phương Dung xuất gia tu chùa Thanh Vân, trang Yên Phú, huyện Thanh Đàn, nay là thôn Yên Phú, huyện Thanh Trì, Hà Nội sau khi Hai Bà Trưng tuẫn tiết; bà Công chúa Chiêu Dung (Lý Thị Ngọc Ba) đã học đạo thiền sư Đạo Uẩn ở chùa Hương Lan, huyên Chương Mỹ, Hà Tây…
Khi nước nhà độc lập tự chủ, Phật giáo trở thành quốc giáo, các dòng thiền được du nhập và phát triển, chùa chiền, thiền môn được xây dựng khắp nơi, nhưng Tăng đoàn chủ yếu sinh hoạt, tu học theo thanh quy thiền môn của từng tông môn pháp phái, tổ đình, chốn tổ. Chính vì lẽ vậy, sử sách không ghi có một tổ chức Giáo hội nào cả, nhất là hình thức sinh hoạt của tổ chức Ni đoàn thời Lý thì càng không có. Tuy nhiên, chỉ cần xem qua Thiền Uyển tập anh (Tinh tú vườn thiền)[2], cũng nhận rõ vai trò và vị trí Ni sư trong giáo đoàn đệ tử Phật giáo Việt Nam thời bấy giờ và tầm ảnh hưởng đến Ni giới ngày nay. Cũng từ cuộc đời và hành trạng Ni sư mà chúng ta nhận diện đời sống tu học, hoằng pháp và sự truyền thừa của Ni đoàn từ đời Lý sang đời Trần trong tổ chức Giáo hội Trúc Lâm bấy giờ.
Sách chép: “Viện Hương Hải, làng Phù Đổng, Tiên Du. Có tên là Ngọc Kiều, con gái Phụng Yết Vương, bẩm tính hiền thục, ngôn hạnh có pháp. Vua Lý Thánh Tông nuôi ở trong cung. Đến tuổi cặp kê, vua gả cho thâu mục Chân đăng họ Lê. Họ Lê mất, tự thể ở vậy giữ nghĩa không tái giá.
Một hôm than rằng: “Ta xem thế gian, hết thảy các pháp cũng như mộng huyễn, huống gì bọn phù vinh có thể nương tựa sao?”. Do đó đem cho sạch các đồ trang sức, xuống tóc xuất gia đến thọ Bồ tát giới với Chân Không tại làng Phù Đổng, học hỏi tâm yếu. Chân Không vì vậy ban hiệu và cho phép trú trì tại Ni viện. Cô giữ giới hành thiền đạt được tam ma địa, thật là bậc tôn túc trong hành Ni chúng. Có ai đến cầu học, cô tất đem Đại thừa ra giảng dạy và nói: “Chỉ trở về nguồn tự tính, thì đốn tiệm có thể tùy đó mà thể nhập, hãy thường tịch tịch, tránh xa thanh sắc, ngôn ngữ”. Có học trò hỏi: “Tất cả chúng sinh bệnh, cho nên ta bệnh, sao gọi là khi nào cũng tránh xa thanh sắc?”. Cô đem giáo nghĩa đáp: “nếu lấy sắc tháy ta, lấy âm thanh cầu ta, là người làm tà đạo, không thể thấy Như lai”. Lại hỏi: “Sao gọi là ngồi yên?”. Cô đáp: “Xưa nay không đi”. Lại hỏi: “Saogọi là không lời”. Cô đáp: “Đạo vốn không lời”. Ngày mồng 1 tháng 6 năm Hội tường Đại Khánh thứ 4 (1113), cô cáo bệnh nói kệ: “Sinh già bệnh chết, Từ xưa thường vậy. Muốn cầu thoát ly, Cởi trói thêm buộc. Mê mới tìm Phật, Lầm mới câu thiền. Thiền Phật chẳng tìm, Nhậm miệng không nói”. Sư gội tóc, rửa mình, ngồi kiết già mà tịch, thọ 72 tuổi”.
Rõ ràng, thông qua sách Thiền uyển tập anh, bổ sử tập thành Phật giáo Việt Nam đã điểm mặt 87 gương mặt thiền sư đắc pháp của 3 dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường, duy nhất là thiền sư Diệu Nhân là đại diện Ni giới chứng quả đắc pháp đại thừa, được xếp ngang hàng các Tổ sư, thiền sư. Điều đó, chứng tỏ Ni sư cũng được xem Tổ sư Ni giới trong dòng chảy của dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu và có sự truyền thừa mạng mạch Ni đoàn sau này khi dòng thiền này sáp nhập vào thiền phái Trúc Lâm đời Trần vào thế kỷ XIII, trực thuộc Giáo hội Trúc Lâm. Thứ hai Ni sư là người đắc pháp dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi thuộc thế hệ thứ 17, chứng ngộ giáo lý Kim cương Bát Nhã, thấu rõ triết lý tánh không với tinh thần vô trụ. Thứ ba Ni sư được bổ nhiệm làm Trú trì - Ni trưởng Ni viện Hương Hải và có đồ chúng khá đông để giáo hóa và truyền thừa mạng mạch Phật pháp.
Sang đời Trần, để đáp ứng nhu cầu lịch sử, tổ chức Giáo hội Trúc Lâm ra, tất cả Tăng ni tu học được quản lý chặt chẽ từ trung ương đến địa phương. Giáo hội đã đặt văn phòng Giáo hội Trung ương tại Vĩnh Nghiêm chùa Bắc Giang điều hành Phật sự và kiểm định, phân loại danh lam tự viện, bổ nhiệm quyết định các chức vụ của Tăng ni trong hệ thống giáo hội và quản lý Tăng tịch của Tăng ni cả nước. Theo Tam tổ thực lục ghi thì sau khi lên ngôi lãnh đạo Tăng Già, tháng 9, năm Quý Sửu (1913), “Thiền sư Pháp Loa phụng chiếu đến cư trú tại chùa Vĩnh Nghiêm ở Lương Giang, đặt văn phòng Trung ương Giáo hội tại đó, qui định mọi chức vụ Tăng sĩ trong Giáo hội, kiểm tra tự viện và làm sổ Tăng tịch. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Phật giáo Việt Nam Tăng sĩ có hồ sơ tại Giáo hội Trung ương”[3].
Từ thời điểm này, ngôi chùa Vĩnh Nghiêm - Bắc Giang lại có thêm một vai trò nữa, đó là nơi quy tụ những cao Tăng thạch đức trong chốn thiền môn, điều hành bộ máy hoạt động của Giáo hội đối với Tăng già, quần chúng Phật tử liên hệ đến các công tác Phật sự trong nước cũng như ngoài nước. Theo Nguyễn Lang trong Việt Nam Phật giáo sử luận thì do số lượng Tăng Ni đông quá, cứ mỗi lần tổ chức thọ giới thì phải thải ra hàng nghìn người; tuy vậy, “tính đến năm 1329, số Tăng sĩ đã được xuất gia trong những giới đàn do Giáo hội Nhất Tông (Trúc Lâm) tổ chức dưới quyền lãnh đạo của Pháp Loa là trên 15.000 vị.”. Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang đều là những vị thầy có đệ tử với con số hàng nghìn người được quy y, thụ Bồ tát giới tại gia hay xuất gia. Pháp Loa là người chủ trương phát triển Giáo hội Phật giáo Trúc Lâm có tổ chức hệ thống quy củ đầu tiên trong lịch sử Phật giáo Việt Nam. Số lượng xuất gia này là đã có sự hạn chế, ba năm mới tổ chức một lần, mỗi giới đàn chỉ giới hạn 3000 Tăng Ni.
Chúng tôi dẫn việc các cứ liệu như thế để chứng minh rằng, sự hình thành và phát triển Ni đoàn của Giáo hội Trúc Lâm là có cơ sở, có thể trực thuộc Ban quản lý Tăng sự Trung ương được truyền thừa từ đời Lý qua các dòng thiền đã sinh hoạt và sáp nhập vào Giáo hội Trúc Lâm vào đời Trần. Số lượng Ni giới xuất gia tu học từ các Ni viện có từ đời Lý và mới xây dựng đều được thọ giới và bổ nhiệm Trú trì, tấn phong giáo chỉ đều do Giáo hội Trúc Lâm tổ chức qua các đại Giới đàn tại các trung tâm hoằng pháp lớn ở Vĩnh Nghiêm, Quỳnh Lâm, Sùng Nghiêm như Tam Tổ thực lục ghi nhận. Chúng ta có thể điểm qua những gương mặt tiêu biểu đã lãnh đạo Ni đoàn và đóng góp lớn cho Giáo hội trường tồn và Quốc gia hung thịnh được sử sách ghi nhận:
2. 1. Ni sư Hương Tràng (Công chúa Huyền Trân):
Ni sư Hương Tràng xuất thân là Huyền Trân công chúa (1287-1340) sinh ra lớn lên trong thời đại hào khí Đông A nhà Trần. Là Công chúa duy nhất của vua Trần Nhân Tông và Thái hậu Khâm Từ Bảo Thánh. Huyền Trân là em cùng mẹ với vua Trần Anh Tông và Quốc phụ Thượng tể Trần Quốc Chẩn. Huyền Trân gọi Trần Hưng Đạo bằng ông ngoại (mẹ của Huyền Trân là Công chúa Quyên Thanh, trưởng nữ của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn.
Năm lên sáu tuổi Công chúa đã mồ côi mẹ, lúc vừa trưởng thành đã sớm gánh nặng sự nghiệp non sông, rời miền văn hóa cổ Thăng Long dấn thân đi mở nước, lấy sứ mệnh nhu viễn để giữ yên bờ cõi, đem về cho Tổ quốc Đại Việt đất đai “Hai châu Ô, Lý vuông ngàn dặm”. Đại Việt sử ký toàn thư ghi rõ về sự kiện công chúa Huyền Trân[4]. Sau khi được trở về thành Thăng Long, Huyền Trân được đưa vào ở tại biệt cung đóng cạnh chùa Tư Phúc - Quốc tự dành riêng cho hoàng gia ở kinh thành. Sau đó, công chúa được phép lên núi Yên Tử vấn an vua cha Nhân Tông - Trúc Lâm Đại Sĩ, Ở Yên Tử, cạnh vua cha, công chúa được gặp lại sư huynh Bảo Sát, người đệ tử xuất sắc đầu tay của Trúc Lâm mà trước khi sang Chiêm làm dâu, công chúa đã hơn một lần diện kiến tại núi này. Nhưng bởi nhân duyên siêu ngộ, khiến cho Trúc Lâm vừa hoan hỉ, vừa lo lắng nên Ngài muốn Công Chúa sớm xuất gia thọ Bồ Tát giới. Việc xuất gia của Huyền Trân, Trúc Lâm giao cho sư Bảo Sát lo liệu để công chúa sớm có nơi tu hành.
Theo di mệnh của Trúc Lâm, sau khi Ngài viên tịch, Huyền Trân xuất gia đầu Phật tại núi Trâu Sơn, tức núi Vũ Ninh, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh, dưới sự ấn chứng và chỉ dạy của Quốc sư Bảo Phác. Cùng học Phật với Huyền Trân, còn có một tiểu ni vốn là em gái nhà sư Trần Công Tịnh, tu tại chùa Thụy Ứng thuộc huyện Tiên Lữ mà Công chúa rất yêu mến, nên đã kết nhận làm sư muội. Tại núi Vũ Ninh, Quốc sư Bảo Phác ban cho Huyền Trân pháp danh Hương Tràng, sư muội là Hương Nghiêm.
Ni sư Hương Tràng xuất thân với danh phận là công chúa, được vua Nhân Tông cho thọ giáo cả Nho lẫn Phật rất sớm, lại nhờ vào bản tính thông tuệ, nhẫn nại, cho nên việc học Phật tại núi Vũ Ninh rất nhanh. Mới hơn hai năm, Hương Tràng đã căn bản nắm vững cả kinh, luật, luận. Cuối năm Tân hợi, 1311, thừa mệnh Bổn sư, Hương Tràng lúc ấy vừa tròn 24 tuổi, được Quốc sư Bảo Phác phái về tu tại chùa Nộn Sơn thuộc làng Hổ Sơn, tỉnh Nam Định. Do chùa lập tại làng Hổ Sơn nên cũng gọi là chùa Hổ Sơn, tên chữ là Quảng Nghiêm Tự. Cùng về nhập chúng ở chùa Hổ Sơn với Hương Tràng còn có sư muội Hương Nghiêm và vài tỷ muội khác đồng tu nữa.
Từ đây, Ni sư hoằng dương Phật pháp và có nhiều mối liên hệ với các chùa trực thuộc Hoàng gia trong hệ thống tổ chức Giáo hội Trúc Lâm. Đó là ngôi chùa cổ Phúc Lâm, do công chúa Thụy Bảo lập nên chỉ cách chùa Hổ Sơn một đoạn. Thụy Bảo là vợ sau của danh tướng Trần Bình Trọng. Công chúa Thụy Bảo là chị ruột của công chúa An Tư. Hai người phụ nữ đặc biệt này, về huyết thống Huyền Trân đều phải gọi bằng Bà. Hiện ở chùa Phúc Lâm còn mấy bản sắc phong công chúa Thụy Bảo làm thần, bản sớm nhất phong vào đầu triều Lê Chính Hòa. Và mặc dù đã xuất gia, nhưng để có nơi cho Hương Tràng nương tựa buổi đầu, nên Quốc sư Bảo Phác mới phái Huyền Trân về đây (cho được gần với nhà sư Thụy Bảo) lập chùa, mở cảnh Hổ Sơn. Chính vì vậy mà tại chùa Hổ Sơn, sau này cả hai bà cháu Thụy Bảo và Huyền Trân trong nhiều sắc phong riêng, lại có hai bản được triều Nguyễn sắc phong chung cùng làm thần và được phối thờ tại đây, nhân dân trong vùng thường gọi là “Sắc phong Nhị vị công chúa”. Sách Đại Nam nhất thống chí triều Tự Đức, mục chùa quán có chép rằng: “Chùa Nộn Sơn ở xã Hổ Sơn huyện Thiên Bản. Triều Trần gả Huyền Trân công chúa cho vua nước Chiêm Thành, sau công chúa lại trở về nước, trụ trì ở đây, nhân đấy, dân sở tại phụng thờ”.
Trong thời gian được Giáo hội Trúc Lâm bổ nhiệm làm Trú trì Hổ Sơn, Ni sư Hương Tràng đã giáo hóa đồ chúng tại gia và xuất gia khá đông. Là người được thọ giáo và ấn chứng từ Quốc sư Bảo Phác. Bảo Phác là cao Tăng được Phật hoàng Trần Nhân Tông giảng dạy kinh điển Đại thừa như Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, luật Tứ Phần cho các đạo tràng an cư kiết hạ cấp quốc gia ở Vĩnh Nghiêm, Tư Phúc và Quỳnh Lâm. Những khóa dạy giáo lý kinh luật luận hẳn nhiên được Ni sư Hương Tràm thuyết giảng cho đồ chúng xuất gia tu học tại tu ở chùa Hổ Sơn.
Điểm đáng nói nữa, chủ trương của Giáo hội Trúc Lâm là xây dựng Phật giáo Đại Việt là Phật giáo nhập thế. Do đó, Ni sư đã đứng ra tổ chức mở lớp học đồng ấu dạy chữ cho bọn trẻ con nhà nghèo, dạy dân trồng lúa theo giống mới của người Chiêm, dạy y thuật, chữa bệnh cứu dân trong vùng. Thể hiện tinh thần báo đáp tứ ân, Ni sư đã nhiều lần tìm về làng Thái Đường, nơi có lăng mộ ba vua đầu triều Trần và đền thờ thân mẫu của Bà, để lập am phụng tự chăm nom hương khói, để mọi người sớm khuya có cơ duyên hầu kinh bái Phật thần, tổ tiên có công với đất nước.
Với tâm nguyện thực hành lý tưởng Bồ tát đạo, Ni sư đã giảng dạy giáo lý, đem đạo vào đời. Ni sư cùng với thị nữ Phương Dung - có nhiều năm theo Bà ở Chiêm, vân du nhiều nơi nghèo khổ trong vùng, Ni sư đã phát tâm bố thí, gom tư trang vàng bạc khi còn danh phận công chúa mua đất cúng cho 36 làng xã; riêng làng Dành được hơn 28 mẫu. Ngày nay, người dân làng Dành, xã An Ninh, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình gọi những mẫu ruộng ấy là thiết thực hơn là dạy dân biết cách trồng dâu, dệt vải theo lối người Chiêm để sinh sống. “ruộng vàng”. Nhớ ơn Ni sư, sau này dân làng Thái Đường đã tôn làm Mẫu Huyền Trân và dựng ngôi chùa Cả ở gần bờ sông Thái Sư để thờ - nay dấu tích vẫn còn. Dân làng Dành lập ngôi đền thờ Huyền Trân và thị nữ Phương Dung, phong Huyền Trân làm Thành hoàng. Thị nữ Phương Dung là người theo hầu Bà nhiều năm, đã đem nghề đan dành dạy lại cho dân làng, nên làng mới có tên Nôm là làng Dành. Sau hơn 30 mùa an cư, giáo hóa dân chúng, Huyền Trân công chúa - Ni sư Hương Tràng đã viên tịch vào đêm mồng Chín tháng Giêng, năm 1340, khi Bà vừa bước qua tuổi 53.
Truyền rằng, mỗi khi đất nước gặp nạn binh đao hay thiên tai dịch bệnh, Ni sư thường hiển linh phò trợ giúp dân. Đánh giá cao công lao cũng như hành trạng của Huyền Trân công chúa - Ni sư Hương Tràng, các triều đại phong kiến từ Lê Chính Hòa, Cảnh Hưng, đến nhà Tây Sơn, Cảnh Thịnh, sang các triều vua Thiệu Trị, Tự Đức, Thành Thái, Duy Tân, Khải Định nhà Nguyễn đều có sắc phong Ni sư làm thần.[5]
2.2. Ni sư Từ Quán Huệ Thông:
Theo An Nam chí nguyênNam Ông mộng lục, sau này Thiền sư Việt Nam chép lại thì Từ Quán Huệ Thông Ni có họ Phạm, là con gái của một gia đình đời đời làm quan. Ni sư xuất gia tu ở am trên núi Thanh Lương. Ni sư tu khổ hạnh, trì giới chuyên cần, tuệ giải thông suốt, thường ngồi thiền định, diện mạo giống hệt La hán. Kẻ đạo người tục xa gần đều kính mộ, danh tiếng Ni sư lừng lẫy, là bậc tông sư của Ni chúng cả nước, tên tuổi ngang hàng với các bậc cao Tăng. Vua Trần Nghệ Tông (1370-1372) ban hiệu “Huệ Thông Đại sư”
Về già, Ni sư dời về Đông Sơn. Một hôm Sư bảo đệ tử rằng: “Ta muốn đem thân hư ảo này bố thí cho hổ lang một bữa no. Sư đi vào giữa núi sâu ngồi kiết già không ăn uống hai mươi mốt ngày, hổ lang ngày ngày tới ngồi chung quanh nhưng không dám đến gần. Đồ đệ nài nỉ mời Ni sư trở về am. Về am, sư đóng cửa nhập định qua một mùa hè, rồi tập hợp đệ tử lại giảng đạo, bỗng nhiên ngồi tịch, tuổi ngoài 80. Lúc hỏa táng có rất nhiều xá lợi. Quan sở tại xây tháp cho Ni sư ngay trên núi ấy.
Trước khi thị tịch sư dạy đệ tử: “Sau khi ta đi, nên chia bớt xương ta lại đây để mài mà rửa tật bệnh cho người đời”. Đến khi nhặt xương, thấy không đànhbèn cho hết vào trong hộp phong lại. Qua đêm, bỗng có một chiếc xương cùi tay trên bàn, bên ngoài hộp, mọi người đều kinh ngạc về sự linh hiển của Ni sư. Về sau, phàm có người mắc bệnh đến khấn cầu, đồ đệ của Ni sư đem chiếc xương này mài với nước cho bệnh nhân rửa, không ai là không khỏi bệnh. Sự thệ nguyện sâu rộng như thế.
2.3. Ni sư Tĩnh Huệ:
Xuất thân từ con nhà võ, Tỳ kheo ni Tĩnh Huệ vốn là con gái tướng Phạm Ngũ Lão, là thứ phi của vua Trần Anh Tông, không sinh hạ được hoàng tử hay công chúa nào cả. Theo Đại Việt sử kỳ toàn thư thì bà đã xin phép vua được sống cuộc đời tu sĩ vào năm 1309, thực hành giáo pháp nhà Phật. Vua Trần Anh Tông đã chấp thuận: “Thứ phi của vua là Phạm thị, là con gái Phạm Ngũ Lão, không có con, xin xuất gia, vua cho”[6]. Sử cũng chép sau khi vua Trần Anh Tông qua đời, nhân ngày trở về thăm quê hương, Sư đã thăm chùa Bảo Sơn ở làng Phù Đổng đứng ra trùng tu và mở rộng diện tích ngôi chùa: “Bà thứ phi của Anh Tông tên hiệu là Tĩnh Huệ, là con gái Điện súy Phạm Ngũ Lão, trước đã xuất gia. Sau khi vua Anh Tông băng hà, bà trở về quê hương. Một hôm, lên chùa Bảo Sơn xã Phù Ứng và than rằng: “Chùa này do tiên quân ta dựng lên. Ta tuổi đã cao, làm nhà ở đây vừa có thể thờ vua vừa có thể cúng tổ tiên thần thánh, trung hiếu vẹn cả đôi đường. Đó là sở nguyện của ta”
Thế rồi sửa lại chùa đó, lại làm điện ở phía bên đông chùa và làm nhà ở phái đằng sau chùa để cúng lễ tổ tiên thần thánh. Rồi làm xong, Thượng hoành ngự đến thăm, ban cho biển ngạch để biểu dương long hiếu kính của bà”[7].
2.4. Ni sư Tịnh Quang:
Đại Việt sử kỳ toàn thư ghi:“Năm Mậu ngọ (1318), bấy giờ Thượng hoàng có ý xuất gia,chặt ngón tay đem dâng. Thượng hoàng Trần Anh Tông ngợi khen, ban cho 40 mẫu ruộng làm lương ăn tu hàng ngày sau. Rồi Thị Diên đi tu cho đến lúc mất, Phật hiệu là Tịnh Quang Ni”[8].
Rõ ràng, sử liệu chỉ ghi ít dòng thôi, nhưng cung cấp cho chúng ta những giá trị về sự phát tâm bồ đề dõng mãnh của của cung phi ở trong cung điện nguy nga tráng lệ. Sử cũng chép rằng vào năm 1341, vua Trần Anh Tông lên ngôi vị Thái Thượng hoàng và muốn sống theo hạnh người xuất gia. Vua cũng khuyến thị các cung phi mỹ nữ thực hành hạnh ăn chay niệm Phật ngồi thiền.
Bấy giờ mọi cung phi đều lưỡng lự, chưa thể hiện sự quyết tâm gì thì cung phi Nguyễn Thị Diên đã chặt ngón tay dâng vua để thể hiện chí nguyện hướng tâm giải thoát, cúng dường Tam bảo. Chính công hạnh này khiến vua ban cho 40 mẫu ruộng để xâydựng Tam bảo và có giáo sản để thực hiện chí nguyện hoằng pháp độ sinh với Phật hiệu là Tịnh Quang.
2.5. Ni sư Chánh phi họ Lê:
Theo Thích Thanh Từ trong Thiền sư Việt Nam viết thì Ni sư vốn xuất thân là con gái nhà chú Hồ Quý Ly, Hồ Nguyên Tường gọi bằng Cô. Lớn lên, làm Chánh phi của Vua Trần Duệ Tông, sinh ra Linh Đức Vương (tức Phế Đế). Bà được phong Minh Từ Hoàng Thái Phi Lê Thị. Năm 1377, vua Trần Duệ Tông đánh Chiêm chết, bà bèn xuất gia. Khi đi, Vua Trần Duệ Tông chọn Linh Đức lên làm vua. Bà cố từ chối thay cho Linh Đức, bà khóc, nói: “Con tôi phúc mỏng, khó đương nổi ngôi to, chỉ có mắc tai vạ thôi. Cố chúa lìa đời, kẻ chưa mất này chỉ muốn chết cho chóng, không muốn thấy việc đời,huống là nhìn con tôi sắp nguy khốn ư?”nhưng không được. Rồi, bà dốc chí tu hành, trong vòng 5,6 năm mà bà đốt tay, đốt trán, cúng dường đủ hết. Sớm chiều tụng, niệm, một bề chuyên tâm Thiền định.
Về sau, bà thị tịch trong lúc đang nhập định. Đến lúc, Linh Đức bị phế xuống Phủ Thái Dương và bị bắt thắt cổ chết, để lập Chiêu Định Vương. Mọi người, ai cũng phục bà là người sáng suốt, thấy trước sự việc. Vả lại, cảm sự trung thành và tiết tháo của bà, vừa vào cửa Phật, liền chóng liễu ngộ. Các phi Tần nhà Trần cũng lắm người hiền đức. Nhưng bà là người tiết tháo hơn hẳn.
Đại Việt sử ký toàn thư thì ghi: “Trước đây bà Lê thị, hoàng hậu Duệ Tông là mẹ Linh Đức Vương, em họ Quý Ly, Duệ Tông đi đánh phương Nam không trở về, bà cắt tóc đi tu làm Ni sư. Khi Duệ Tông lập Linh Đức lên ngôi, hậu từ chối không được, bèn khóc lóc nói với những người thân thích rằng: “Con ta phúc bạc, khó long gánh vác nổi trách nhiệm lớn, nó đến phải tai họa vì việc đó thôi. Tiên hoàng xa lìa cõi thế, kẻ chưa chết này chỉ muốn chết theo, không muốn trống thấy việc đời nữa, huống chi phải nhìn thấy con mình sắp bị nguy hiểm nữa”. Ni sư viên tịch 2 năm thì con bà bị hại”[9].
3. Đặc trưng Ni đoàn trong Giáo hội Trúc Lâm:
3.1. Giáo hội Trúc Lâm là tổ chức duy nhất đại diện cho Phật giáo Đại Việt thời Trần, thống nhất từ trong tôn chỉ, cương lĩnh, mô hình tổ chức và hoạt động hoằng pháp độ sinh từ Trung ương cho đến địa phương. Toàn bộ ni giới do các Ni sư Hương Tràm Tuệ Quán, Tĩnh Huệ, Tịnh Quang…xuất gia tu hành, hoằng pháp độ sinh đều chịu sự quản lý trực tiếp của Giáo hội Trúc Lâm. Việc thành lập Ni đoàn để quản lý số lượng ni giới là có cơ sở, thông qua việc các công tác kiểm Tăng, cấp chứng điệp, Tăng tịch, thi cử sát hạch Tăng Ni vào thời Trần dưới sự lãnh đạo của Giáo hội Trúc Lâm là Phật sự quan trọng hiển nhiên. Suy cho cùng, đó là Phật sự củng cố và phát triển Giáo hội Tăng già trong tinh thần trang nghiêm Giáo hội và đạo pháp trường tồn, đất nước hưng thịnh.
Theo Việt Nam Phật giáo sử luận ghi nhận thì Tam Tổ và giới lãnh đạo Giáo hội hẳn nhiên thành lập ban Tăng sự để thống kê số lượng Tăng Ni tu học hằng năm, có kế hoạch triển khai về công tác tổ chức Giới đàn, phổ biến về quy định thời gian ba năm mới có một lần độ Tăng. Hồ sơ thọ giới được xét duyệt rất kỹ, có hàng nghìn hồ sơ bị loạị. Đến năm 1329, số Tăng sĩ xuất gia vào thời đó là 15.000 vị so với dân số thời đó không phải là nhỏ[10]. Truyện kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ cũng có nói “Các chùa như Hoàng Giang, Đông Cổ, An Sinh, Yên Tử, Phổ Minh, Ngọc Thanh…dựng lên nhan nhản khắp nơi; những người cắt tóc làm Tăng Ni nhiều bằng nửa số dân thường”. Chính vì số lượng đông như thế, nên có sự hạn chế về việc số lượng giới tử, thời gian quy định tổ chức, có sự chọn lựa giới tử chặt chẽ trong việc Tuyển Phật trường. Thiết nghĩ, do hoàn cảnh khách quan lịch sử chiến tranh, nhà Minh sang xâm lược nước ta đã chủ trương hủy diệt văn hóa Đại Việt, trong đó có sự hủy diệt Phật giáo Đại Việt.Vì vậy, ngày nay chúng ta không có danh sách Tăng Ni nhà Trần đã được cấp thẻ Tăng tịch. Rất may thông qua các thư tịch cổ còn lại, chúng ta chỉ biết được một số Ni giới tiêu biểu xuất chúng, chứng đạo có vai trò lãnh đạo Ni đoàn tu học và hoằng pháp độ sinh như đã trình bày ở trên cũng đủ để nhận diện về diện mạo và đặc trưng Ni đoàn của Giáo hội Trúc Lâm bấy giờ.
3.2. Ni giới xuất gia tu hành và chứng đạo có vai trò Ni đoàn trong Giáo hội Trúc Lâm đều xuất thân từ tầng lớp quý tộc, vương triều, hoàng thân thích thuộc. Trước khi xuất gia tu hành, các sư cô, Ni sư, Ni trưởng đều được đào tạo tri thức và nhân cách đầy đủ của Hoàng gia, khi hội đủ duyên lành, được tiếp cận đạo Phật thì phát tâm dõng mãnh xuất gia tu hành, tự thân tu tập, tự thân hành trì giáo pháp dưới sự hướng dẫn các bậc thầy là Quốc sư, cao cao Tăng để chứng ngộ và giáo hóa hóa đồ chúng. Vai trò và vị trí của các Ni sư lãnh đạo Ni đoàn nói trên: Hương Ni sư Hương Tràm Tuệ Quán, Tĩnh Huệ, Tịnh Quang, Ni sư Chánh phi Họ Lê cũng được Giáo hội và Vương triều tôn vinh là bậc Hiền Thánh, được phong thần, ban tước hiệu Đại sư trong hàng chúng Trung tôn.
3.3. Về phương diện tu học Ni đoàn thuộc Giáo hội Trúc Lâm, Phật giáo Đại Việt chủ trương thiền giáo song hành để kiến tính thành Phật. Các đạo tràng, tự viên, trung tâm hoằng pháp đều giảng dạy kinh điển đại thừa như Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, Bát nhã và thực thi hành thiền, bao gồm sám hối, niệm Phật, tọa thiền và công án thiền.
Do đó, các Ni sư lãnh đạo Ni đoàn như Hương Tràm Từ Quán, Tĩnh Huệ, Tịnh Quang, Chánh Phi Họ Lê là những hướng dẫn toàn bộ Ni giới thực thi theo chương trình học của Giáo hội Trúc Lâm. Ta chẳng ngạc nhiên gì, Tam Tổ thực lục, ghi rằng các thiền viện, tu viện như Vĩnh Nghiêm, Sùng Nghiêm, Quỳnh Lâm thời này, thường áp dụng nghi thức Lục thời sám hối khoa nghi của nhà vua - thiền gia Trần Thái Tông - người đặt nền móng tư tưởng cho thiền phái Trúc Lâm ra đời, biên soạn. Đây là phương thức hành thiền phù hợp với tâm thức người Việt, bằng cách sám hối, tẩy rửa 6 căn đối với 6 trần, ứng với 6 thời bái sám trong ngày, không cho bụi bặm khách trần đeo bám, từ đó bước vào thế giới hành trì thiền định. Sự bái sám này không chỉ thực hiện trong ba tháng an cư mà còn hành trì quanh năm suốt tháng. Mục đích là đưa hành giả trở về chân tâm thanh tịnh.
Cũng theo sách này, Pháp Loa và Huyền Quang vẫn chủ trương cho các hành giả hành Mật giáo, Tịnh độ theo phong thái Thiền; nghĩa là trì tụng thần chú để gia trì định lực; niệm Phật là để đi đến nhất tâm bất loạn. Các Ni viện do các Ni sư chứng ngộ trú trì, lãnh đạo Ni giới thời Trần đều tổ chức giảng dạy kinh Pháp Hoa, Bát nhã và thực hành thiền định qua việc tụng kinh, bái sám, niệm Phật, hành thiền.
Mặt khác Giáo hội Trúc Lâm cũng lo nghĩ nếu Tăng Ni đông quá nếu không học tập và thủ trì giới luật thì sẽ dẫn đến những tiềm ẩn sai phạm trong Giáo đoàn. Cho nên, Giáo hội đã tổ chức các lớp học Giới luật cho Tăng, Ni chúng qua các mùa an cư, cũng như các khóa học Phật pháp thường xuyên với việc cho ấn bản 5000 bộ luật Tứ phần vào năm 1332 và thỉnh các vị cao Tăng như Tông Cảnh, Bảo Phác chủ trì việc giảng dạy và giám sát luật nghi cho Tăng Ni. Tất nhiên Ni giới thuộc Ni đoàn càng được Giáo hội quan tâm hơn trong các Ni viện, bởi số lượng Ni giới đông và bản thân Ni giới mỗi người tự thân lãnh thọ 248 giới để bảo vệ tự thân.
3.4. Về phương diện Hoằng pháp độ sinh, Phật giáo Đại Việt và Quốc gia Đại Việt là một thực thể thống nhất, các nhà lãnh đạo Phật giáo cũng là các nhà lãnh đạo Quốc gia. Các Ni sư lãnh đạo Ni đoàn đều xuất thân con cháu hoàng gia, cho nên họ cũng được sự quan tâm nâng đỡ và tạo nhiều điều kiện để hoằng pháp. Các Ni sư như Hương Tràm, Từ Quán, Tĩnh Huệ, Ni sư Chánh Phi Họ Lê đều được cấp ruộng đất để mở rộng chùa, trùng tu, cày cấy có lương thực tự cung, tự cấp.
Theo Tam Tổ thực lục ghi nhận Pháp Loa, trong vai lãnh đạo Giáo hội đã tiến hành xây dựng cơ sở tự viện Tăng ni, các công trình văn hóa Phật giáo để đáp ứng nhu cầu tu học cho mọi giới. Về tự viện năm 1313, có 100 ngôi chùa đã được xây dựng; tại chùa Báo Ân. Vào năm 1314, Giáo hội đã xây đến 33 cơ sở trong đó có Phật điện, Tàng kinh và Tăng đường. Tính đến năm 1329, Giáo hội đã dựng được 5 bảo tháp và hai trung tâm hoằng pháp, hành đạo lớn là Quỳnh Lâm và Báo Ân. Về việc đúc tượng, Giáo hội đã đúc tới 1300 tượng Phật lớn nhỏ bằng đồng, nhưng nổi bật nhất là có 3 công trình đáng chú ý, với sự hỷ cúng của triều đình được xem như là những công trình văn hóa trọng điểm của Phật giáo Đại Việt: đó là vào tháng 1 năm 1314, đúc 3 tượng Phật Di Đà, Thích Ca và Di Lặc cao 17 m; Tháng 6 năm 1324, tạo dựng hai bộ tượng A Di Đà bằng sơn mài; Ngày 7 tháng 3 năm 1327 đúc xong pho tượng Phật Di Lặc cao 1 trượng 6 và tượng các Thánh Tăng sau 3 tiến hành tạo dựng để phân bổ cho các Tự Viên, Ni viện … như sách Việt Nam Phật giáo sử luận ghi.[11] . Đây chính là điều kiện cần và đủ để cho quý Ni sư lãnh đạo Ni giới tổ chức thuyết giảng kinh, mở lớp dạy chữ, dạy nghề, dạy y khoa để dân chúng hiểu đạo, hiểu việc đời để giải thoát khổ đau.
Ngoài việc tổ chức Đại giới đàn truyền thọ Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni cho cac giới tử, Giáo hội còn khuyến cáo tổ chức truyền thọ Bồ tát giới, Tam quy ngũ giới cho các vị Hoàng tộc, Phật tử tại gia được tổ chức thường xuyên tại Tự viện, Ni viện. Các buổi khoá niệm cầu an, cầu siêu chẩn tế cũng được tổ chức, gọi là “Diệm khẩu thí pháp hội”, có nghĩa là đại hội Phật pháp để bố thí cho loài quỷ đói. Pháp này bày ra để thực hiện giáo nghĩa từ bi, lợi lạc quần sinh. Về phương diện này Ni đoàn của Giáo hội Trúc Lâm họ là những thực hành hạnh bố thí ba la mật, một trong ưu điểm mạnh của Ni giới. Cụ thể, Năm 1320, Pháp Loa đã ra thông tư các chùa tổ chức trai đàn chẩn tế để cầu cho Thượng hoàng Anh Tông sống trường thọ. Các Ni viện thời đó, nhân đại lễ này đã quy y và thuyết giảng, bố thí, phát chẩn cho đồng bào hiểu rõ nếp sống đạo thiền mà sử sách đã ghi.
4. Thay lời kết:
Đặc tính của Phật giáo Đại Việt là Phật giáo chủ trương nhập tế tích cực cho đời và làm cho đời sáng tươi. Chính tinh thần này mà tổ chức Giáo hội Trúc Lâm, trong đó có Ni đoàn đã được các vương triều nhà Trần ủng hộ, quần chúng tin theo. Điều đó cũng có nghĩa các Tăng sĩ, Ni giới đời Trần là những nhà tu hành có giới đức thanh tịnh, định lực kiên cố, và trí tuệ thăng chứng đã góp phần làm cho đạo pháp trường tồn, dân tộc hưng thịnh, nhân dân an lạc.
Các vị Lãnh đạo Ni đoàn là những vị xuất thân từ hoàng gia được đào tạo nhân cách và tri thức đầy đủ trước khi xuất gia học đạo. Khi trở thành bậc chúng trung tôn trong Tăng đoàn của đức Thế Tôn, quý Ni sư lại càng được tôn quý hơn, vì vậy các Ni sư càng có khả năng quy tụ các giới và quần chúng Phật tử để giáo hóa. Huống chi, Ni đoàn còn được sự ủng hộ quan tâm hết đặc biệt trong lãnh đạo Giáo hội Trúc Lâm và lãnh đạo Quốc gia, chính Ni giới thời Trần đã cùng Giáo hội thực sự đã làm sống dậy tinh thần Phật giáo Đại Việt, góp phần làm nên lịch sử dân tộc.
Nhìn chung với sự hình thành và phát triển Ni đoàn trực thuộc sự quản lý Ban Tăng sự Trung ương Giáo hội Trúc Lâm đời Trần, đã thực sự làm tiền đề cho hệ thống Ni đoàn về sau này hình thành và phát triển mạnh mẽ, nhất là sau phong trào Chấn hưng Phật giáo. Ngày nay, Ni giới Việt Nam xuất gia tu học và hoằng pháp được Giáo hội Phật giáo Việt Nam quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi phát triển. Với sự ra đời Phân ban Ni Giới trung ương, trực thuộc ban Tăng sự Trung trong hệ thống tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã minh chứng cho vị trí, vai trò và sự đóng góp của Ni giới Việt Nam trong thời đại mới - hội nhập và phát triển trên nhiều phương diện và lãnh vực đối Đạo pháp và Dân tộc Việt Nam.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đại Việt sử ký toàn thư, (Dịch và chú thích Hoàng Văn Lâu), tập 2, Nxb. Khoa học Xã hội, 1988.
2. Đại Nam nhất thống chí, Nxb Thuận Hóa, 1996.
3. Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, Tái bản, Nxb. Văn học, 2000, tr. 319
4. Nhiều tác giả, Tìm hiểu Xã hội Việt Nam thời Lý Trần, Nxb, HN, 1981.
5. Lê Mạnh Thát, Nghiên cứu Thiến uyển tập anh, Nxb. Thành phồ Hồ Chí Minh, 1999.
6. Hồ Đức Thọ, Vương phi công chúa triều Trần, Nxb VHTT, 2005.
7. Tam tổ thựclục, (ThíchPhước Sơn dịch và chú), Viện Nghiên cứu Phật học, 1995.
 
 
[1] Nhiều tác giả, Tìm hiểu Xã hội Việt Nam thời Lý Trần, Nxb, HN, 1981, tr. 648 -650.
[2]Lê Mạnh Thát, Nghiên cứu Thiến uyển tập anh, Nxb. Thành phồ Hồ Chí Minh, 1999, tr.296 -297.
[3] Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 1, Lá Bối, Sài Gòn, 1974, tr. 406
[4]Đại Việt sử ký toàn thư, (Dịch và chú thích Hoàng Văn Lâu), tập 2, Nxb. Khoa học Xã hội, 1988, tr.
[5]Dẫn theo Dương Phước Thu,Huyền Trân Công chúa Gia thế, Sự nghiệp và Di sản, tr. Web ht tps:// trung tamhuyentran.thuathienhue.gov.vn
[6]Đại Việt sử ký toàn thư, (Dịch và chú thích Hoàng Văn Lâu), tập 2, Nxb. Khoa học Xã hội, 1988, tr. 94.
[7]Đại Việt sử ký toàn thư, (Dịch và chú thích Hoàng Văn Lâu), tập 2, Nxb. Khoa học Xã hội, 1988, tr. 135 -136.
[8]Đại Việt sử ký toàn thư, (Dịch và chú thích Hoàng Văn Lâu), tập 2, Nxb. Khoa học Xã hội, 1988, tr. 103.
[9]Đại Việt sử ký toàn thư, (Dịch và chú thích Hoàng Văn Lâu), tập 2, Nxb. Khoa học Xã hội, 1988, tr. 176.
[10] Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, Tái bản, Nxb. Văn học, 2000, tr. 319.
[11] Nguyễn Lang, Sđd, tr. 341- 342.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây