15 VỀ BÀI THƠ THỊ TỊCH CỦA NI SƯ DIỆU NHÂN

Thứ sáu - 25/10/2019 21:51
VỀ BÀI THƠ THỊ TỊCH CỦA NI SƯ DIỆU NHÂN

GS.TS. LÊ MẠNH THÁT

VỀ BÀI THƠ THỊ TỊCH CỦA NI SƯ DIỆU NHÂN

GS.TS. LÊ MẠNH THÁT


 
Ni sư Diệu Nhân (1042-1113) thế danh là Lý Ngọc Kiều, con gái của Phụng Càn Vương Lý Nhật Trung, được vua Lý Thánh Tông nhận nuôi trong cung, khi lớn, được vua gả cho Châu mục Chân Đăng họ Lê. Họ Lê mất, bà ở vậy không tái giá. Sau đó, bà xuất gia với Thiền sư Chân Không - Vương Hải Thiềm (1046-1100) khoảng vào các năm 1086-1090.
Căn cứ xác định niên đại này nằm ở hai duyên cớ sau. Duyên cớ thứ nhất là việc bà ở vậy không tái giá sau khi chồng mất một thời gian dài như Đại Việt sử ký toàn thư tờ 16a7-9 đã ghi, và Thiền uyển tập anh[1] cũng đã xác nhận sự kiện này. Như thế, Ni sư Diệu Nhân xuất gia ở độ tuổi trên dưới năm mươi. Duyên cớ thứ hai là Ni sư đã xuất gia với Thiền sư Chân Không. Theo Thiền Uyển tập anh, Thiền sư Chân Không nguyên là trụ trì chùa Chúc Thánh, núi Phổ Lại, Phù Lan. Chùa Chúc Thánh này theo Lịch triều hiến chương loại chí tờ 2a7-b1 ghi là nơi tu hành của Thiền sư Không Lộ. Chùa này hiện còn, nhìn xuống sông Lục Đầu. Song, truyện Chân Không của Thiền uyển tập anh còn ghi thêm là: “Tuổi già, sư về quận mình, dựng lại chùa Bảo Cảm.” Và nó còn ghi nhận: “Chân Không là người Phù Đổng, Tiên Du.” Vậy là từ khoảng bốn mươi tuổi, tức từ 1086 trở đi, Chân Không đã trở về Tiên Du, thậm chí là về ngay làng Phù Đổng của ông để dựng lại chùa Bảo Cảm (Vãn niên quy bản quận, trùng cấu tác Bảo Cảm tự) và sống đến cuối đời. Chính khi Chân Không về tại chùa Bảo Cảm này mà Ni sư Diệu Nhân đã đến xin xuất gia. Truyện của Diệu Nhân trong Thiền uyển tập anh cũng ghi nhận sự việc này: “Một hôm Ni sư than rằng: ‘Ta xem thế gian hết thảy các pháp cũng như mộng huyễn, huồng là bọn phù vinh có thể nương tựa được sao!’ Do đó, bà đem cho sạch các đồ trang sức, xuống tóc xuất gia, đến thọ Bồ Tátgiới với Chân Không tại làng Phù Đổng, học hỏi tâm yếu. Chân Không vì vậy ban hiệu (Diệu Nhân) và cho phép trụ trì tại Ni viện (Hương Hải).”
Thế rõ ràng Ni viện Hương Hải này có khả năng nằm cạnh khuôn viên chùa Bảo Cảm. Ni sư Diệu Nhân ở tại ni viện này cho đến khi mất: “Vào ngày mùng tháng sáu năm Hội Tường Đại Khánh thứ tư (1113) thì mất.” Trước khi mất, Ni sư đã có bài kệ Thị tịch như sau:
Sinh lão bệnh tử
Tự cổ thường nhiên
Dục cầu xuất ly
Giải phược thiêm triền
Mê chi cầu Phật
Hoặc chi cầu thiền
Thiền Phật bất cầu
Đổ khẩu vô ngôn
(Sinh già bệnh chết
Từ xưa thường vậy
Muốn cầu thoát ly
Cởi trói thêm buộc
Mê thì tìm Phật
Lầm thì cầu thiền
Thiền Phật chẳng tìm
Ngậm miệng không nói)
Bài kệ Thị tịch này của Ni sư sau đó trong truyền bản hai quyển của Khóa hư lục in vào năm Tự Đức thứ 36 (1883) tại chùa An Ninh huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương đã cho in lại vào trang cuối của quyển hạ dưới nhan đề Thái Tông hoàng đế khuyến chúng kệ, nguyên văn như sau:
Sinh lão bệnh tử
Lý chi thường nhiên
Dục cầu giải thoát
Giải phược thiêm triền
nhi cầu Phật
Hoặc nhi cầu thiền
Thiền giả bất cầu
Đổ khẩu vong ngôn
So sánh hai bài kệ qua tám câu ta nhận thấy có 8 chữ khác nhau mà chúng tôi in nghiêng, gạch chân trong bài kệ khuyến chúng của vua Trần Thái Tông (1218-1277). Truyền bản hai quyển này của Khóa hư lục tuy hiện tồn tại trong lần in năm 1883 nhưng nó đã dựa vào bản in của thiền sư Tuệ Hiền tại chùa Hoa Yên núi Yên Tử mà bản gỗ được để tại chùa Quất Tụ huyện Yên Thế. Chính nhờ sự tồn tại của bản khắc gỗ này mà khi những người đứng in truyền bản hai quyển năm 1883 trong khi chuẩn bị in đã phát hiện ra vào năm Tự Đức Đinh Mão (1867). Ta biết Khóa hư lục hiện tồn tại dưới hai truyền bản, truyền bản ba quyển và truyền bản hai quyển. Truyền bản ba quyển thiếu mất 36 tờ có trong bản gỗ của chùa Quất Tụ. Bản này hiện còn dưới hai dạng bản. Đó là bản chép tay và một bản in. Bản chép tay do một người vô danh chép lại từ bản in do Tuệ Duyên chùa Sùng Quang, làng Tự Quán, tỉnh Nam Định viết tựa vào năm Đức Long thứ ba (1631) cùng với bản dịch tiếng Việt của Tuệ Tĩnh. Còn bản in là của Thiền sư An Thiền Phúc Điền thực hiện vào năm Minh Mạng Canh Tý (1840) do Ninh Thái Tổng đốc Nguyễn Đăng Giai đề tựa cùng bản dịch tiếng Việt của chính An Thiền Phúc Điền. Cả hai dạng văn bản vừa nêu đều không có bài kệ khuyến chúng của vua Trần Thái Tông. Bài kệ này chỉ xuất hiện trong truyền bản hai quyển do chùa An Ninh huyện Chí Linh, nay là huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương đứng in, sử dụng lại bản gỗ cho thiền sư Tuệ Hiền chùa Hoa Yên núi Yên Tử đứng khắc, tức bản gỗ chùa Quất Tụ được phát hiện vào năm Tự Đức Đinh Mão (1867). Điều này có nghĩa bài kệ khuyến chúng này cũng xuất hiện khá sớm trong truyền bản Khóa hư lục dạng 2 quyển. Tất nhiên do những sai chạy xuất nhập của ngôn từ trong hai bài kệ dẫn trên, chúng ta có thể giả thiết hai bài kệ này, tức bài Thị tịch của Ni sư Diệu Nhân và bài kệ Khuyến chúng của vua Trần Thái Tông đã tồn tại từ lâu. Thậm chí chúng ta có thể đề xuất vua Trần Thái Tông đã lấy bài kệ Thị tịch của Ni sư Diệu Nhân và nhuận sắc lại để cho ra bài kệ khuyến chúng vừa nói.
Đề xuất này cũng không phải không có căn cứ, bởi vì khởi đầu của Khóa hư lục là nói về bốn núi tức núi sinh, núi lão, núi bệnh, núi tử cho nên vua Trần Thái Tông nhuận sắc lại bài sinh lão bệnh tử của Ni sư Diệu Nhân để kết thúc Khóa hư lục của mình. Nếu sự việc là như thế thì cuộc đời, tư tưởng và sự nghiệp của Ni sư Diệu Nhân quả là có tác động to lớn đối với lịch sử dân tộc ta trong quá khứ cũng như hôm nay.
 

NI TRƯỞNG VIÊN MINH: HÀNH TRẠNG, LAI LỊCH

VÀ CÔNG HẠNH “BA KHÔNG” THEO TƯ TƯỞNG BÁT NHÃ

THÍCH NỮ VIÊN HIẾU
NCS Khóa 1 tại HVPG Sóc Sơn -Hà Nội

1. Tiểu sử và Công hạnh của Ni trưởng Viên Minh
1.1. Tiểu sử
Ni trưởng Viên Minh có cái tên khá ấn tượng, thuyết phục: Nguyễn Thị Khiêm Tốn, pháp danh Tâm Huệ, hiệu Viên Minh. Sinh năm Giáp dần -1914, tại làng Động Giã, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Nội).
  Ni trưởng xuất gia trong một gia đình quyền quý, ảnh hưởng Nho học và văn hóa Âu Tây. Là trưởng nữ của Tham tá lục độ Nguyễn Xuân Tuyển, Mẫu thân là cụ bà Phạm Thị Nhạ. Điều chẳng may Cụ bà mất sớm nên ba chị em Ni trưởng được mẹ kế Công Tôn Nữ Thuyền Duyệt, pháp danh Trừng Thành nuôi dưỡng.
Với vị trí đó “nhập lưu” chiếm ưu thế hơn “nghịch lưu”, nhưng Ni trưởng lại khác người, quyết tâm tìm về lối sống “nghịch lưu”, nghĩa là xuất gia hoằng Phật đạo.
Có lẽ xuất phát từ nguyện lực này, năm 1937 đến Huế chữa bệnh nhưng Ni trưởng đã quên đi thân bệnh, nhờ người bạn tìm chùa để “cát ái từ thân”, tu trì khuya sớm may ra tròn ước nguyện. Người xưa thường dạy “Hoàng thiên bất phụ hảo tâm nhơn”, không mấy hôm cố Ni trưởng được bén duyên thiền với Sư cụ Diệu Hương - trụ trì chùa Diệu Đức - Huế (sau này, Ni trưởng xin là đệ tử của đức Tăng Thống thượng Tịnh hạ Khiết chùa Tường Vân - Huế).
Ni trưởng đã sống trọn vẹn cả thế kỷ XX, đầy biến động, trải qua bao năm tháng thăng trầm, gặp nhiều dâu bể nhưng lúc nào Ni trưởng cũng thầm lặng hoàn thành mọi trách nhiệm lợi Đạo ích Đời.
1.2. Công hạnh
  Năm 1940 sau khi Ni trưởng hoàn thành các lớp Phật pháp đã trở về Ni Viện Diệu Đức đảm trách trị sự khi còn là Sa di ni và cùng với Ni trưởng Thể Yển đảm dạy Qui Sơn Cảnh Sách và Di Đà Sớ Sao tại chùa Bồ Đề Gia Lâm - Hà Nội.
Năm 1944 Ni trưởng được Bổn sư cho thọ giới Tỷ Kheo Ni tại giới trường Thuyền Tôn -Huế.
 Năm 1947 được sự chỉ dạy của Hòa thượng Già Lam, Ni trưởng lên lên ở chùa Khải Ân (vùng Châu Ê - Huế) cùng các pháp lữ mở cơ sở dệt vải chăm lo đời sống cho Ni chúng.
Năm 1953, Sư cụ Diệu Hương, Ni trưởng Thế Yển và Ni trưởng Diệu Không vì đảm trách nhiều Phật sự trong Nam ngoài Bắc nên đã mời Ni trưởng Viên Minh đảm nhiệm trú trì chùa Hồng Ân - Huế để dìu dắt Ni chúng tu học.
Năm 1960, Ni trưởng vào Phú Yên an cư và làm Phật sự tại cô nhi viện Tuy Hòa. Năm 1962, Ni Viện Diệu Quang - Nha Trang thành lập do Hòa thượng Già Lam và quý Ni trưởng lập nên để hoằng truyền chánh pháp, đào tạo Ni tài. Năm 1963, Ni trưởng làm giám đốc ký nhi viện Phước Điền  - Nha Trang (1963) và được mời đảm nhiệm Phó giám viện Ni Viện Diệu Quang.
Từ năm 1964 đến năm 2007, Ni trưởng lần lượt được cung thỉnh làm giáo thọ, Yết - ma A - xà - lê, Hòa thượng đàn đầu Ni ở các Đại giới đàn tổ chức tại Nha Trang, Phan Rang.
Năm 1972, làm Đặc ủy Xã hội và dạy Qui Sơn Cảnh Sách tại Ni Viện Diệu Đức - Huế.
Sau năm 1975, Ni trưởng ở lại Nha Trang đảm nhận trọng trách Giám viện Ni viện Diệu Quang, tiếp tục sự nghiệp hoằng truyền chánh pháp, chăm lo đời sống tu hành của Ni chúng tại đây.
Năm 1990, Ni trưởng trùng tu chùa Hồng Ân - Huế. Từ năm 1993 đến năm 2010 Ni trưởng được cung thỉnh làm Hòa thượng đàn đầu Ni của nhiều đại giới đàn, và được cung thỉnh vào hàng chứng minh tối cao của Phân ban Ni giới Trung ương và tỉnh Thừa Thiên Huế.
Đối với chư Tăng, Ni trưởng luôn một lòng cung kính, thường giữ Bát kỉnh pháp nghiêm cẩn. Với Ni chúng, Ni trưởng luôn khuyến khích, động viên, sách tấn chư Ni, thúc liễm thân tâm, trau dồi giới đức, vững bước trên con đường tu tập. Với tín đồ Phật tử Ni trưởng lại Từ ái, bao dung, độ lượng.
Nói đến công hạnh học hỏi và duyệt đọc kinh tạng thì Ni trưởng lại là một người nổi bật. Ni trưởng đọc cẩn thận và rất trân quý sách, đọc rất kỹ, đọc không sót chữ, gặp chữ sai chính tả thì viết lại, những năm cuối đời mặc dù tuổi cao sức yếu Ni trưởng vẫn không hề rời kinh sách. Đức trí sang ngời của Ni trưởng đã để lại ấn phẩm “Cội tùng tỏa bóng”, đây là tác phẩm đã lưu lại bút tích những bài thơ được Ni trưởng cảm tác trong quá trình tu thân hành đạo của Ni trưởng suốt một thế kỷ tròn. Thơ của Ni trưởng tuy đơn giản mộc mạc nhưng chuyển tải ý nghĩa thâm sâu, và thường có những lời nhắn gửi hoặc khuyến tấn hậu học, đặc thù hai câu cuối là sự khơi mở một lối về tâm linh thực tại hay một tâm linh siêu thoát. Đây có lẽ là một kết thúc của sự mở đầu, đúng như cuộc đời và công hạnh của Ni trưởng:
Chúng sinh Phật tánh đồng nguyên thủy,
Tu với không tu cách một rào. (Hồng Ân cảm tác)
Đến năm 2014, công hạnh Bồ tát của Ni trưởng đã viên mãn với tuổi đời 101 tuổi, 70 tuổi đạo.
2. Triết lý “ba không” và tư tưởng vô trụ trong “Cội tùng tỏa bóng” của Ni trưởng Viên Minh
Cội tùng tỏa bóng” là một tác phẩm, một tập kỷ yếu ghi lại những bài thơ, bài văn của Ni trưởng Viên Minh, tác phẩm được in trên giấy khá đẹp, khổ 14,5x20cm, gồm 179 trang, Nxb Thuận Hóa -  Huế, tháng 4 năm 2013, gồm hơn 60 bài thơ và văn.
Với công hạnh của Ni trưởng Viên Minh đã được trình bày, có thể khiến cho người đọc tìm hiểu, nghiền ngẫm về tư tưởng triết lý “ba không” mà Ni trưởng đã chịu ảnh hưởng trong quá trình tu tập.
Ni trưởng Viên Minh thuộc đời thứ 43 của pháp phái Tường Vân - Huế. Đối với Ni trưởng, từ lúc nhập đạo yếu môn cho đến lúc trở về cõi tịnh là cả một quá trình tu học và phục vụ không ngừng nghỉ. Từ những chức vụ đơn giản như Tri sự chùa đến Trụ trì, Giám viện cũng làm cho chúng ta thấy được công hạnh “bất từ bì quyện” của Ni trưởng, không ngoài mong muốn “Tôn phong vĩnh chấn, Tổ ấn trùng quang”. Vì thế, Ni trưởng luôn lưu tâm, sách tấn đến các pháp hữu; Sống không phải chỉ biết mình mà phải biết người. Sống phải biết quên mình vì người khác và cho người khác, như đức Phật đã từng chỉ dạy: “vị tha vô ngã”.
Dìu dắt cùng thoát nẻo mê,
Cùng lên bờ giác cùng về nguồn chơn.
Và Ni trưởng cũng đã từng viết:                 
“Vị tha vô ngã làm đầu
Đối mình khắc trách, đối người bao dung”
(Quy sơn cảnh sách -“Cội tùng tỏa bóng”,trang 95.)
Thường tình tự khen hơn là tự chê và chê người hơn là tự chê mình. Chính vì thế các bậc cổ đức thường dạy: “tĩnh tọa thường tư kỹ quá, Nhàn đàm mạc thuyết tha phi” để xây dựng đạo đức cho mỗi người trong cộng đồng.
Triết lí tư tưởng “sống nơi cửa không”, tư tưởng “sắc không” như khá thấm nhuần vào công hạnh của Ni trưởng, hoạt dụng qua cuộc sống không bị ràng buộc. Vì thế, cách báo hiếu cha mẹ Ni trưởng cũng đã vượt lên trên cả thế gian thường tình: “Nguyện cho tôi được tâm khai,
Thuyết cho cha mẹ vui hoài pháp âm” (Hiếu -sđd, trang 118)
Hoặc: Nguyện cho tôi được tâm thông,
Độ cho cha mẹ thoát vòng tử sinh.
Điều này chúng ta thấy rõ trong kinh Báo Ân cha mẹ: Phải viết chép, trì tụng và thực hành, phải khuyến hoa cha mẹ thực hành chánh pháp, Phải vì cha mẹ thực hành tịnh giới. Đó mới là hiếu tử.
Song thân đâu chỉ một đời,
Vậy nên thương cả muôn loài mới hay. (Hiếu -sđd, trang 117)
Tâm đạo được khơi nguồn và mỗi ngày mỗi cao hơn, sâu hơn, Ni trưởng đã có quan niệm khá mang tính triết lí tánh không:
“Quê tôi vốn chỗ không nhà,
Cha tôi là Phật, Mẹ là Pháp Không”. (Quê tôi -sđd, trang 93).
Tư tưởng này là tư tưởng chủ đạo về triết lý “tánh không” của Bát Nhã, nếu thường tình nghe như nghịch lý, vì đã có quê hương thì có nhà, có cửa; có cha có mẹ thì là “có”. Như trong kinh Bát Nhã thường nêu: Không trước văn tự, tức ngay văn tự đạt được thật tướng; nhưng trước văn tự, nên không có văn tự tướng. Ni trưởng nổ lực đi vào tinh thần “phá chấp”. Tự lợi; cần phải ghi đậm vào tâm can; Lợi tha; cần phải trang trải đời sống cho cuộc đời, và dù gì đi nữa, con đường phải đi, phương pháp để tu trì là phải “tức ý vong duyên” và “đối trần bất ố”.
Tự lợi trong cần tâm khắc niệm
Lợi tha ngoài rộng đức hoằng dương
Tức ý vong duyên, viên tịch chiếu
Đối trần bất ố thoát linh đương.
Triết lý này đã mang lại một ánh sang, một ngọn đèn của tuệ giác đã bừng lên trong con người Ni trưởng. Với công hạnh vô ngã “ba không”:
  1. Làm chùa mà không Trụ trì
  2. Dịch kinh mà không là Dịch giả
  3. Thuyết pháp mà không là Giảng sư
Với công hạnh đó, triết lý đó, thuyền đã đi về đại dương vô ngã, tay lái vẫn vững chải không thay đổi. Tâm an thế pháp như với tay lên lượm lặt trăng sao, soi đường dẫn lối cho thuyền đi đúng hướng. Như đã thâm nhập thể Chân không.
Thuyền cập bến nào?
Cập bến Không
Thuyền sẽ đưa lên bến thứ gì?
Một thuyền, thuyền không.
(Giải thuyền vào bến không -sđd, trang 129)
Theo tư tưởng Đại thừa được thể hiện trong kinh văn hệ Bát Nhã, như Kinh Kim Cang hay Bát Nhã Tâm Kinh, thì về bản thể các pháp vốn là Không. Phạm trù “Không” ở đây không phải là không có gì (tức “vô” đối đãi với “hữu”, trong phạm trù “sắc -không, hữu -vô”) mà là cái không chân thật, tức “chân không”, mà “chân không” cũng chính là “diệu hữu”. Cái “chân không” và “diệu hữu” này nó vượt lên trên “Sắc” và “Không”, “hữu” và “vô”, tức “siêu việt hữu vô”. Đây là tinh thần bất nhị hay nhất thừa pháp.
 Tóm lại, có thể thấy những câu thơ triết lý của Ni trưởng Viên Minh trong tập “Cội tùng tỏa bóng”, có thể khẳng định Ni trưởng là hàng danh Ni của Phật giáo Việt Nam thế kỷ XX. Người đã ngộ được triết lí tánh Không cùng tư tưởng Vô trụ trong kinh văn hệ Bát Nhã. Như vậy, Ni trưởng Viên Minh đã góp phần truyền bá tư tưởng Phật giáo Đại thừa. Tư tưởng ấy đã tạo cho đời sống tinh thần tu tập của một con người được sự an nhiên thoải mái trong cung cách hành xử. Nó không làm cho người ta quay cuồng trong việc bám chấp thông qua những phương pháp tu luyện cực khổ, phí sức mà chẳng mang lại kết quả gì. Do ảnh hưởng của tư tưởng ấy, hàng Ni giới và đệ tử của Ni trưởng rất tỉnh táo, biết tìm lại chính mình trong những công việc hằng ngày bình dị nhất. Sau khi Ni trưởng Viên Minh công hạnh viên mãn, con cháu và đệ tử của Ni trưởng vẫn luôn tiếp tục truyền thống mà Ni trưởng để lại.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
 
  1. Cội tùng tỏa bóng, Nxb. Thuận Hóa -Huế, 2013.
  2. Kỷ yếu Ni trưởng Viên Minh, Nxb. Thuận Hóa -Huế, 2014.

 
[1] Lê Mạnh Thát, Nghiên cứu về Thiền uyển tập anh, Tp. HCM: NXB. Phương Đông, 2005, p.325.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây