14 VAI TRÒ CỦA NI GIỚI PHẬT GIÁO VỚI VIỆC GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG THỜI HIỆN NAY

Thứ sáu - 25/10/2019 21:47
VAI TRÒ CỦA NI GIỚI PHẬT GIÁO VỚI VIỆC GIỮ GÌN
VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG THỜI HIỆN NAY
NI SƯ ĐÀM HÂN Phân ban Đặc trách Ni giới tỉnh Nam Định

VAI TRÒ CỦA NI GIỚI PHẬT GIÁO VỚI VIỆC GIỮ GÌN

VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG THỜI HIỆN NAY
NI SƯ ĐÀM HÂN
Phân ban Đặc trách Ni giới tỉnh Nam Định


Phật giáo khởi nguyên từ Ấn Độ và được truyền vào Việt Nam rất sớm nhờ vào công của các thương nhân Ấn Độ: “Phật giáo là một hiện tượng văn hóanước ngoài, truyền vào Việt Nam từ thời Hùng Vương, khi Việt Nam còn là một nước độc lập có chủ quyền khoảng thế kỷ II-III trước Tây lịch”. Phật giáo không phải là một lý thuyết không  cứng mà là một thực tại sống động, một lý tưởngcao đẹp, mang nhiều đặc tính nhân bản như hòa bình, từ bi, khoan dung, trí tuệ, bình đẳng đối với mọi tầng lớp trong xã hội Việt Nam, không phân biệt nam nữ, giàu nghèo, sang hèn.
Sự xuất hiện và chứng đắc của các Tỳ kheo Ni trong Tăng đoàn Phật giáo Ấn Độ là một tiếng chuông ngân vang, thức tỉnh cho nhân loại biết rằng Phật giáo rất bình đẳng, Đức Phật là một bậc Chính Đẳng Giác. Từ đây mọi người có một cái nhìn khác về vai trò và khả năng của các bậc nữ lưu trong xã hội. Trong những quốc gia Phật giáo mà Ni giới được một vị trí tương xứng, hẳn phải có một sự truyền thừa chính thống để từ đó, hạt giống ưu việt có môi trường sinh sôi nẩy nở. Nhất là các quốc gia Phật giáo Bắc Truyền, Ni giới không là chiếc bóng của chư Tăng, mà họ là con đường song hành chứng tỏ ánh sáng mặt trăng có một giá trị chuyên biệt như ánh sáng mặt trời.
Tiếp nối những thành tựu đạt được từ Tỳ kheo Ni Ấn Độ, Phật giáo Việt Nam cũng có nhiều Tỳ kheo Ni đắc pháp như Ni sư Diệu Nhân, Ni sư Từ Quán... Các bậc danh Ni lỗi lạc cũng đã có những đóng góp vô cùng to lớn trong việc hình thành, phát triển Phật giáo Việt Nam. Đặc biệt là quá trình tiếp biến văn hóa để Phật giáo Việt Nam không chỉ là tôn giáo được du nhập từ bên ngoài vào, mà được bản địa hóa thành Phật giáo Việt Nam mang đậm bản sắc dân tộc Việt.
Bài viết “VAI TRÒ CỦA NI GIỚI PHẬT GIÁO VỚI VIỆC GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG THỜI HIỆN NAY ” sẽ xoay quanh vai trò của Ni giới Việt Nam trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc dân tộc trong thời đại hiện nay. Đây chính là lúc mà chúng ta có dịp nhìn lại những đóng góp của nữ giới Phật giáo nói chung, Ni giới nói riêng đối với Phật giáo và xã hội. Những thành tựu ấy không những chắp cánh cho Ni giới bay xa hơn trong nguồn pháp vô biên của đức Phật mà còn thể hiện niềm tự hào của dân tộc Việt Nam khi chư Ni đã thực thi lời Phật dạy về bình đẳng một cách hiệu quả nhất.
Nhìn lại lịch sử Phật giáo, Kiều Đàm Di Mẫu - một tấm gương của Ni giới trong Phật giáo, thể hiện trọn vẹn Tài, Đức và Hạnh, vượt qua nhiều chướng ngại của cổ tục xã hội giai cấp kỳ thị mà Ấn Độ trải qua hàng ngàn năm, để trở thành một nữ tu đầu tiên chứng tỏ khả năng chuyển hóa tự thân và trí tuệ bình đẳng không bị hạn chế bởi giới tính, làm rạng danh Ni giới song song với các bậc Thánh Tăng đương thời. Từ đó, giành cho Phật giáo một vị thế có một không hai trong xã hội Ấn độ. Dĩ nhiên, sau Kiều Đàm Di Mẫu, vẫn còn những thế hệ kế thừa mà cả kinh tạng Nikaya lẫn Bắc truyền thường nhắc đến.
Phật giáo Việt Nam hiện nay có ba truyền thống Tông phái lớn, bao gồm: Bắc tông, Nam tông và Khất sĩ. Ba truyền thống Tông phái này không những phát triển mạnh mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến quần chúng Phật tử Việt Nam. Trong đó truyền thống Phật giáo Bắc tổng có số lượng Ni giới chiếm ưu thế, thứ đến là Khất sĩ, riêng truyền thống Nam tông thì số lượng chư Ni còn rất hạn chế do một số quy định của nội bộ Tông phái.Tuy nhiên Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập năm 1981 là tổ chức Phật giáo duy nhất thống nhất quản lý cả ba truyền thống Phật giáo ấy từ Trung ương đến các cơ sở tự viện tịnh xá… trong tinh thần đoàn kết hòa hợp, cơ cấu nhân sự lãnh đạo trong tổ chức Giáo hội có cả chư Tăng và chư Ni. Vai trò của Ni giới Việt Nam đã thực sự thể hiện đầy đủ trên nền tảng của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Phật giáo Việt Nam từ thế kỷ đầu du nhập, cũng xuất hiện những bậc nữ lưu kiệt xuất, trong thành phần tham gia cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng (40 - 43) có những người là Phật tử, nhiều tu nữ và nữ tín đồ như: Công chúa Bát Nàn, Thiều Hoa…từng tham gia chống giặc ngoại xâm, giành độc lập dân tộc. Sau khi tham gia vào công cuộc đấu tranh giành độc lập cho nước nhà, họ đã “xem công danh như đôi dép bỏ” và trở về chùa tiếp tục nếp sống tu hành cao quý.
Đặc biệt vào thời Lý Thánh Tông có Ni sư Diệu Nhân là một vị thiền sư, tinh nghiêm giới luật, hành thiền được chính định. Thời Trần, khoảng giữa thế kỷ 14, có Ni sư Tuệ Thông, ngài tu trên núi Thanh Lương, hành khổ hạnh, trì giới chuyên cần, tuệ giải thông suốt. Thời vua Lê chúa Trịnh, thế kỷ 17, có Ni sư Diệu Đăng, Ni sư Diệu Tín xuất thân danh gia quý tộc, các ngài giác ngộ lẽ vô thường nên từ bỏ phú quý, tìm về Yên Tử xuất gia tu tập. Khi viên tịch được xây tháp thờ kính trong vườn tháp của sơn môn Yên Tử.Lịch sử Phật giáo xưa nay luôn đồng hành cùng dân tộc, những trang sử Ni giới cũng không tách rời lịch sử đất nước. Không những thế trải qua các triều đại như: Lý, Trần, Lê, Nguyễn đã xuất hiện rất nhiều những vị trưởng lão Ni nghiên cứu Phật pháp uyên thâm, nghiêm trì giới luật, hành thiền đắc định được môn đồ học chúng rất kính mộ. 
Trong thời kỳ cận hiện đại, Việt Nam từng có Sư bà Diệu Không, Sư bà Như Chí, Sư bà Như Thanh, Ni sư Huỳnh Liên, Ni sư Bạch Liên… một thời vang danh trong Ni giới. Các vị Ni gần đây nhất, thuộc dòng trâm anh thế phiệt, có một trình độ Phật pháp uyên thâm và kiến thức thế học ưu lãm, đóng góp cho kho tàng văn học Việt Nam qua nhiều dịch phẩm, đó là Ni sư Trí Hải. Sau 1990, phong trào du học đã đào tạo rất nhiều vị Ni có bằng Tiến sĩ, Thạc sĩ cả hai hệ phái Bắc tông và Khất sĩ tạo một sắc thái mới cho Ni giới Việt Nam. Ni giới đã chứng tỏ khả năng của mình qua đại lễ Vesak và bây giờ là Hội nghị Ni giới, do chư Ni đứng ra tổ chức, điều hành.
Cái thao lược về trí tuệ như Ni sư Trí Hải, cái dung nạp về trí thức như các Ni trẻ đã và đang bảo vệ tiến sĩ, đều nói lên khả năng của nữ lưu bắt gặp ở một điểm chung với nam giới mà không vì giới tính bị hạn chế. Nếu ngày xưa, qua Trưởng lão Ni kệ cho ta thấy một Mahàpajàpàti Gotami đã dùng nội chứng để chuyển hóa các học nữ xuất gia, các bậc xuất sĩ Ni giới từng tuyên xưng những kệ tán của tâm chứng, thì ngày nay, thay vì hướng nội chuyển hóa nhân cách, các nữ lưu lỗi lạc đệ tử của đức Thế Tôn góp tay đem lại an lành cho xã hội mà một số sư cô, hoặc là bác sĩ, hoặc là điều dưỡng, thậm chí là bảo mẫu trong các viện mồ côi giúp cho người dân an lòng trước bệnh tật đói nghèo.
Vào đầu thế kỷ 21, số lượng chư Ni ở Việt Nam vẫn tiếp tục phát triển lên đến hàng vạn người, chiếm tỉ lệ 54% trên tổng số 50.000 Tăng Ni trong cả nước. Trong số đó, có nhiều vị tốt nghiệp học vị cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ. Nhưng vấn đề không phải là số lượng chư Ni phát triển nhiều hay ít, học vị cao hay thấp, mà vấn đề then chốt ở đây chính là, tùy theo năng lực và nỗ lực cá nhân, Ni giới Việt Nam đóng vai trò như thế nào trong sự nghiệp tu hành và hoằng pháp độ sinh trước những thay đổi và thách thức của thời đại mới?
Nếu “Hội nghị Phật giáo Quốc tế về Vai trò Nữ giới trong Tăng đoàn” tại đại học Hamburg, Đức quốc tháng 7 năm 2007, các đại biểu đã kiến nghị tạo điều kiện cho nữ Phật tử theo truyền thống Phật giáo Theravada và Phật giáo Tây Tạng được thọ Cụ túc giới, thì chư Ni Việt Nam vốn có đầy đủ thẩm quyền xuất gia, thọ giới Sa Di Ni, Thức Xoa Ma Na, Tỳ Kheo Ni và Bồ Tát giới. Những đặc quyền này gắn liền với lịch sử phát triển Ni giới Việt nam cả ngàn năm nay. Không chỉ vậy, Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam hoàn toàn công nhận giáo phẩm của chư Ni tương đương với giáo phẩm của chư Tăng. Chư Ni có năng lực và giới đức cá nhân, được Giáo hội Phật giáo Việt Nam  mời hay công cử vị Ni ấy đảm nhiệm các chức vụ trong các ban ngành khác nhau của Giáo hội, hoặc bổ nhiệm vị Ni ấy làm viện chủ, trụ trì trong các thiền viện, tự viện, tịnh xá vốn là đơn vị cơ sở quan trọng của Giáo hội. Và phần lớn những ngôi chùa, tự viện, thiền viện của chư Ni Việt Nam hiện nay đều do các Ni trưởng, Ni sư phạm hạnh quản lý và hướng dẫn Ni chúng, Phật tử tu học.
Ni giới Việt Nam ngày nay luôn dấn thân trong mọi lĩnh vực của cuộc sống từ việc xây dựng, trùng tu chùa chiền cho đến các hoạt động từ thiện xã hội, hay công tác xóa đói, giảm nghèo do nhà nước chủ trương. Hội Chữ Thập Đỏ Việt Nam hầu như luôn xem các chùa chiền, tịnh xá của chư Ni là hạt nhân quan trọng trong các hoạt động từ thiện xã hội. Kết quả, Ni giới Việt Nam thật sự đã xoa dịu phần nào nỗi khổ đau, và đem lại lợi ích thiết thực cho mọi người.
Một phần lớn số lượng chư Ni du học Ấn Độ, Trung Quốc, Đài Loan, Miến Điện …, sau khi tốt nghiệp, trở về Việt Nam, bằng thực lực, họ đang cố gắng phát huy năng lực của chính mình trong lĩnh vực thông tin báo chí, giáo dục, hoằng pháp, phúc lợi xã hội … để đáp ứng phần nào nhu cầu tâm linh của các thế hệ Phật tử hôm nay và mai sau. Trong công tác giáo dục hiện nay, Ni giới có thể giảng dạy tất cả các môn học cho cả Tăng và Ni, và được khuyến khích đăng đàn thuyết pháp trong các hội chúng Phật tử, hay thuyết trình trong các hội thảo ở trong cũng như ngoài nước.
Từ dẫn chứng cụ thể trên đây, rõ ràng là Ni giới Việt Nam đã chứng tỏ năng lực của họ trong đời sống tu hành và trong mọi lĩnh vực của cuộc sống hiện nay. Cũng thông qua đó mà chúng ta nhận thấy rằng:
- Phật giáo Việt Nam đã khéo vận dụng và ứng dụng giáo lý vô ngã của Đức Phật vào ngay trong sự tổ chức của Giáo hội Phật giáo Việt Nam để quản lý thống nhất hài hòa tất cả các truyền thống Phật giáo, bao gồm cả Tăng và Ni trong tinh thần Lục Hòa. Kết quả, công tác Phật sự có thể được tổ chức một cách nhanh chóng và có hiệu quả, mà bằng chứng là Giáo hội PGVN đã 3 lần tổ chức thành công Đại lễ Phật đản Liên Hợp Quốc vào những năm 2008, năm 2014 và năm 2019 mang lại nhiều hình ảnh đẹp trong mắt bạn bè quốc tế.
- Nhìn lại gương sáng các danh Ni Việt Nam tiêu biểu trong lịch sử quá khứ và gần đây, thì hầu hết chư vị danh Ni ấy đều là những người luôn sống thúc liễm thân tâm, trau dồi giới đức, và nghiêm trì giới luật, nhất là Bát Kính Pháp mà Đức Phật đã phương tiện chế ra để dành trang sức cho Ni giới. Kết quả, Tăng Ni Việt Nam có thể cùng nhau hợp tác một cách hiệu quả trong công tác Phật sự và trong sự nghiệp hoằng pháp phổ độ chúng sinh.
- Thứ nữa, sở dĩ Ni giới Việt Nam có thể tự do tu tập và đạt được nhiều thành tích trong mọi lĩnh vực của cuộc sống bất chấp những thay đổi và thách thức của thời đại mới phải chăng là vì chiều dài lịch sử tôn trọng nữ giới trong suốt lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Dù ảnh hưởng không hề nhỏ tư tưởng Nho giáo từ cả ngàn năm Bắc thuộc nhưng ở Việt Nam nữ giới được tôn trọng một cách tự nhiên nhất, dần dần vai trò của Ni giới đã được xác lập trong lịch sử Phật giáo Việt Nam từ xưa đến nay.
Trải qua sự thăng trầm của đất nước, qua nhiều thế kỷ vẫn có những bậc Ni lưu âm thầm hy sinh thân mình phụng sự Đạo pháp và dân tộc theo tinh thần nhập thế. Lập nhiều thành tích xứng đáng góp phần cùng mọi giới đồng bào trong thành quả chung của Giáo hội. Với những thành quả ấy chúng con xin bày tỏ lòng thành kính tri ân và cúi đầu tưởng niệm đến công đức cao dày của chư Thánh tử đạo cùng các bậc cao Tăng Thạc đức Ni trưởng, Ni sư đã hiến trọn đời mình hy sinh cho Đạo pháp được phát triển và tồn tại để ngày nay chúng con chung hưởng.
Là đệ tử xuất gia, trưởng tử của Như Lai làm thế nào để báo đền ơn Phật, Tổ, là người công dân tốt của đất nước là một thành viên tin cậy của Giáo hội. Giáo hội có phát triển tồn tại hay không phần lớn là do Tăng Ni góp phần căn bản, hạnh nguyện lợi tha, cứu khổ ban vui vô ngã của Đức Phật dạy. Vì phục vụ chúng sinh là thiết thực cúng dàng chư Phật, trang nghiêm tự thân chính là trang nghiêm Giáo hội.
Điểm qua tất cả những việc làm của chư Ni từ xưa tới nay, chúng ta thấy quý Ngài luôn sát cánh cùng chư Tôn Giáo phẩm gây dựng Giáo hội ngày một vững mạnh, song hành cùng đất nước vươn mình xứng tầm quốc tế. Vậy, chư Ni trong thời đại mới, thời đại công nghệ 4.0 cần làm gì để thực hiện tốt vai trò của người kỹ sư tâm hồn, đem tri thức, đạo đức Phật giáo góp phần đẩy lùi những băng hoại đạo đức, những khủng hoảng nhân cách không đáng có đang diễn ra một cách chóng mặt, đáng sợ trong thời gian gần đây? Con xin mạnh dạn có một vài thiển ý như sau:
1. Phật giáo là một tôn giáo của từ bi và trí tuệ, cho nên phẩm hạnh của Tăng Ni phải là yếu tố hàng đầu. Phẩm hạnh chính là: “Trưởng dưỡng đạo tâm, trang nghiêm Giáo hội”, do đó nhân sự cần lựa chọn những Tăng Ni có phẩm hạnh tốt, đủ đức, đủ tài, đủ năng lực để đảm lãnh trách nhiệm đối với công việc chung của Giáo hội. Điều này phần nào cho chư Ni có thể vượt qua tự ti vốn có của một người nữ giới mà đem hết chất xám, trí tuệ phục vụ cho Giáo hội, làm đẹp cho Đạo, cho Đời.
  1. Mong có thể có những điều kiện thuận lợi để các chư Ni tham gia giảng dạy các trường Cao trung cấp Phật học. Trên tất cả “Bát kính pháp” luôn là khuôn vàng thước ngọc để giữ gìn giềng mối Đạo pháp. Tuy nhiên, nếu vì Bát kính mà chư Ni không thể đem sở học của mình ra để suy nghiệm, bàn luận, góp phần khơi dậy, định hướng cho hàng tu sĩ trẻ thì thật là sự chảy máu trí và tuệ không nên có của Đạo Phật.
  2. Cư sĩ Phật tử, là một thành viên rất quan trọng trong Giáo hội. Họ lãnh trách nhiệm hộ trì Phật pháp, một hậu thuẫn lớn lao và kiên cố cho giới tu sĩ truyền bá chính pháp của đạo Phật. Cho nên Ni giới thuận lợi mang trên mình hình ảnh người mẹ, hình ảnh Quan Âm bồ tát rất dễ gần gũi, thông cảm, thấu hiểu tạo cho họ một niềm tin, bồi dưỡng niềm tin trong lòng người Phật tử.
  3. Riêng trong giới Phật tử trẻ, học sinh, sinh viên một thế hệ tương lai của đất nước, của Giáo hội phải là sự quan tâm đặc biệt hơn hết thảy. Tuổi trẻ là tuổi nổi loạn nên cần định hướng; Tuổi trẻ cũng là tuổi sáng tạo nên chúng ta có thể dùng tình thương, thiện cảm với Đạo mà thu hút các em, xây dựng nguồn nhân lực hộ pháp mang trên mình trí tuệ, lập trường chân chính, luôn đi theo chính pháp. Đó cũng là thế hệ tượng lai xây dựng đất nước văn minh, phát triển với đạo đức thuần từ.
  4. Việc hoằng pháp đến các vùng xâu, vùng xa, biên giới, hải đảo cũng rất cần các vị Ni dấn thân chúng lưng đấu cật với Tăng chúng, với Giáo hội. Đó là góp phần mang ánh sáng Đạo Phật đến với những người mộ đạo. Đồng thời cũng thể hiện tinh thần dấn thân phụng sự của Bản bộ Ni giới trong sự nghiệp xây dựng giáo hội.
Điểm qua các sự kiện của chư Ni bậc tiền bối, chúng ta thấy mỗi người mỗi vẻ, hành đạo mỗi người mỗi hạnh, chứng ngộ mỗi người mỗi môn, niên đại mỗi người mỗi khác nhưng các Ngài đều có chung một tâm nguyện, một hoài bão là noi gương theo tư tưởng của Đức Phật, bỏ đi thói nhi nữ thường tình, lòng tự ti mặc cảm, mà nêu cao ý thức “Bỉ ký trượng phu ngã diệc nhĩ”. Đồng thời, chúng ta đang khẳng định lại lời dạy của Đức Phật khi xưa: “Này Ananda, sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng, nữ nhân có thể chứng được Dự Lưu quả, Nhất Lai quả, Bất Lai quả hay A-la-hán quả.”. Cho nên có thể nói rằng Phật giáo trong thời kỳ Lý - Trần đã uống trọn giáo lý về sự bình đẳng giữa nam và nữ, giữa Tỳkheo và Tỳkheo Ni mà chưa có một quốc gia nào trên thế giới phê bình, chỉ trích hay làm được như ở Việt Nam.Khẳng định chân lý của Phật giáo luôn là chiếc cầu nối vĩnh cửu để nhân loại nói riêng, chúng sinh nói chung thoát ra khỏi tam giới, bởi vì vòng sinh tử tuy dài nhưng không phải là không có điểm kết thúc, quả vị Chính Giác tuy cao xa nhưng không phải là không thể thành đối với mọi chúng sinh.
Vậy, vai trò của Ni giới đối với việc giữ gìn, phát huy bản sắc dân tộc trong thời đại hiện nay là vô cùng quan trọng. Nó không chỉ là nhiệm vụ bức thiết hàng đầu của chư Ni, mà còn là trách nhiệm không thể không làm trong việc chung sức với Tăng chúng xây dựng Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày một tốt đẹp. Mỗi vị Ni trẻ hãy xác định mục tiêu, bổn phận và luôn ôm ấp hoài bão lớn lao ấy mà lao ra biển lớn, phát huy năng lực, phẩm hạnh giúp Đời, xây Đạo, hoàn thiện bản thân trên bước đường tầm cầu giác ngộ, giải thoát.
Nam mô Thường Tinh Tiến Bồ tát Ma ha tát!

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Lê Mạnh Thát, Văn Hoá Phật giáo, số 4, năm 2005.
2. Thích Thanh Từ, Thiền sư Việt Nam, Thành Hội Phật giáo TP. Hồ Chí Minh, năm 1992.
3. Bảng PDF, Thiền Uyển Tập Anh, Quyển Hạ.
4. Kinh Tăng Chi Bộ III, phẩm Gotami, HT Thích Minh Châu dịch.
5. Thích Thanh Từ, Thiền sư Việt Nam, Thành Hội Phật giáo TP. Hồ Chí Minh, năm 1992.
6. Kinh Trung Bộ II, Đại kinh Vacchagotta, HT Thích Minh Châu dịch.
7. Thích Hạnh Bình, Những Vấn Đề Cốt Lõi trong Kinh Tăng Chi, Câu chuyện A Nan xin Phật cho nữ giới xuất gia với điều kiện Tỷ-kheo-ni phải tuân hành bát kính pháp.


 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây