13 NI SƯ DIỆU NHÂN - VAI TRÒ TRONG LỊCH SỬ VÀ ĐƯƠNG ĐẠI

Thứ sáu - 25/10/2019 21:45
NI SƯ DIỆU NHÂN - VAI TRÒ TRONG LỊCH SỬ VÀ ĐƯƠNG ĐẠI

NI SƯ. TS. THÍCH ĐÀM LUYỆN Chánh Văn phòng PBNGTW KVPB

NI SƯ DIỆU NHÂN - VAI TRÒ TRONG LỊCH SỬ VÀ ĐƯƠNG ĐẠI

NI SƯ. TS. THÍCH ĐÀM LUYỆN
Chánh Văn phòng PBNGTW KVPB

Hiện nay, chúng ta biết đến Ni sư Diệu Nhân (1041 - 1113) qua một số tài liệu lịch sử để lại, như Thiền uyển tập anh, Đại Việt sử ký toàn thư, Văn bia Phụng Thánh phu nhân và qua nhiều công trình khoa học của những người con Phật và của các học giả thuộc các ngành văn hoá học, tôn giáo học, sử học… Tất cả đã tạo nên một bức tranh thật hoàn thiện về con người và sự nghiệp của Ni sư Diệu Nhân, tưởng chừng như khó có thể bổ sung thêm. Tuy nhiên cũng có quan điểm cho rằng, giới nghiên cứu hiện nay chỉ cầnđiểm lại một cách hệ thống các tư liệu trước đó, hoặc cao hơn, chỉ ra được mối quan hệ của vấn đề Ni sư Diệu Nhân với vấn đề thời hiện đại, thì đó cũng là sự đóng góp mới cho xã hội. Người viết được khuyến khích bởi ý tưởng ấy.
1. Ni sư Diệu Nhân:
Đại Việt sử ký toàn thư viết về Ni sư Diệu Nhân như sau: “Quý Tị, năm thứ 4 (1113) (Tống Chính Hoà năm thứ 3). Mùa hạ, tháng 6, phu nhân của châu mục Chân Đăng là công chúa Lý thị mất. Phu nhân tên thật là Ngọc Kiều, con gái lớn của Phụng Càn Vương, Thánh Tôn nuôi ở trong cung, đến khi lớn phong làm công chúa, gả cho Châu mục Châu Chân Đăng là họ Lê, họ Lê chết, phu nhân tự thể ở goá, đi tu làm sư nữ, đến đây mất, thọ 72 tuổi (Thần Tôn tôn làm Ni sư)[1]”.
Sử ghi chép tuy ngắn gọn về Bà, nhưng hậu thế đều có suy nghĩ là, Bà phải có công trạng, danh tiếng tốt đẹp lắmnên mới được “lưu danh sử sách”.
Việc bà Lý Ngọc Kiều (hay công chúa Thuỵ Thánh, hay Xuân Lan) đi tu sau sự kiện người chồng qua đời, có tài liệu viết: “Một hôm bà than: Ta xem tất cả pháp trong thế gian như giấc mộng, huyễn ảo, huống là các thứ phù vinh mà đáng trông cậy sao? Thế rồi bà đem tất cả tư trang ra bố thí, cạo tóc xuất gia, đến Thiền sư Chân Không ở làng Phù Đổng, xin thọ giới Bồ-tát, học hỏi tâm yếu”[2].
Vậy là, trước lúc đi tu, bà Ngọc Kiều đã có kiến thức Phật học ở độ sâu sắc, khi thấm sâu kinh sách Phật giáo, tường tận vấn đề thế giới quan và nhân sinh quan Phật giáo, như thấy trong câu bà nói ở trên. Điều này có thể hiểu được, rằng bà xuất thân thuộc giới quyền quý, “cành vàng lá ngọc” nên có học, lại sống dưới triều đại nhà Lý - triều đại mà Phật giáo được coi là tôn giáo độc tôn.
Bà Ngọc Kiều xin xuất gia thọ giới Bồ tát với Thiền sư Chân Không (1046 - 1100). Thiền sư Chân Không, chúng ta biết, là đời thứ 16 của dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Năm 15 tuổi, Sư đã bác thông sách sử. Đến 20 tuổi, Sư xuất gia, rồi dạo khắp tùng lâm tìm nơi khế hợp, danh tiếng vang dậy xa gần. VuaLý Nhân Tông từng mời ông vào Đại Nội giảng Kinh Pháp Hoa, ai nghe cũng kính phục[3].
Công chúa Thuỵ Thánh đã tìm, phải chăng là chọn được người thầy là vịthiền sư đứng đầu dòng Thiền Tì Ni Đa Lưu Chi, một thiền sư kiệt xuất về Phật học thời đóvà đấy cũng là nhân duyên giúp bà tinh tiến nhanh trong tu hành.
Hằng ngày Ni sư Diệu Nhân gìn giữ giới luật và hành thiền, chỉ thích ngồi lặng lẽ, có bệnh kỵ thanh sắc và ngôn ngữ. Ni sư từng bộc bạch với học trò rằng Kinh Kim cương là bộ kinh chủ yếu dắt dẫn bà tu tập. Bà được Tăng chúng thời bấy giờ xem trọng. Có người đến cầu học, bà thường dạy họ tu tập Đại thừa, dạy rằng: Chỉ tính mình trở về nguồn, đốn tiệm liền tùy đó mà vào.
Có người hỏi Bà câu trong Kinh Duy Ma Cật: “Tất cả chúng sinh bệnh, cho nên ta bệnh, sao gọi là khi nào cũng tránh xa thanh sắc?” Bà nương theo kinh mà đáp rằng:
Phiên Âm Hán Việt Dịch là:
Nhược dĩ sắc kiến ngã Nếu dùng sắc thấy ta,
Dĩ âm thanh cầu ngã Dùng âm thanh cầu ta,
Thị nhân hành tà đạo Người ấy hành đạo tà,
Bất năng kiến Như Lai. Không thể thấy Như Lai.






Có người hỏi: Tại sao ngồi yên? Bà trả lời: Xưa nay không đi. Hỏi tiếp: thế nào chẳng nói? rằng: Đạo vốn không lời.
Đến khi sắp viên tịch, bà nói kệ chúng rằng (Thị tịch Kệ):
Chữ Hán Phiên Âm Hán Việt Dịch là:
生老病死, Sinh lão bệnh tử Sinh già bệnh chết
自古常然。 Tự cổ thường nhiên Xưa nay lẽ thường
欲求出離, Dục cầu xuất ly Muốn cầu thoát ra
解縛添纏。 Giải phược thiêm triền Mở trói thêm ràng.
迷之求佛, Mê chi cầu Phật Mê đó tìm Phật,
惑之求禪。 Hoặc chi cầu thiền Lầm đó cầu thiền
禪佛不求, Thiền, Phật bất cầu Phật, thiền chẳng cầu,
枉口無言。 Uổng khẩu vô ngôn Uổng miệng không lời[4].
Như vậy, động cơ tu hành củaNi sư Diệu Nhân là đúng đắn, sự tu tập của bà rất thành công. Bà đã đóng góp nhiều cho Phật giáo nước nhà không chỉ dừng lại ở thời nhà Lý, mà còn cho đến hiện nay, với tư cách là một tấm gương đạo - đời, trí tuệ - đạo hạnh. Đó là cơ sở để người viết khái quát trên một số vai trò cụ thể của Ni sư Diệu Nhân.
2. Vai trò của Ni sư Diệu Nhân trong lịch sử:
Thứ nhất, tư tưởng của Ni sư Diệu Nhân là một sự bổ sung tích cực cho triết lý “vô thường”, “vô ngã” từ phương diện ứng dụng:
Chúng ta đều đã biết, vô thường, vô ngã là những triết lý rất cơ bảncủa đạo Phật, trước hết từ góc độ thế giới quan, rồi đến nhân sinh quan. Thuyết vô thường, hay quy luật vô thường, thể hiện tư tưởng biện chứng về sự vận động, biến đổicủa mọi sự vật, hiện tượng, kể cả con người, trong vũ trụ không có cái gì là thường hằng, thường trụ. Mọi sự vật trong vũ trụ cũng không thể tồn tại riêng lẻ, biệt lập mà giữa chúng có mối tương quan, tương duyên với nhau. Vạn vật vô thường nên danh tướng chỉ là hư ảo và đó là vô ngã.
Quy luật vận động, biến đổi của sự vật là Thành - trụ - hoại - không, Sinh - trụ - dị - diệt (với vật vô tình), hoặc: Sinh - lão - bệnh - tử (với con người).Sinh và diệt là hai mặt thống nhất trong một quá trình vận động, biến đổi của sự vật, trong sinh đã có diệt và trong diệt đã có sinh, cái này diệt là điều kiện để cái mới xuất hiện, sinh thành.Tự giác được quy luật ấy, người ta không thể làm trái quy luật, mà khôn ngoan là vận dụng quy luật.
Đối với Ni sư Diệu Nhân, trong việc Bà học người và cả việc bà dạy người, Ni sư đã sử dụng triết lý vô thường, vô ngã, để nói về cách xử thế, để bàn về cái chết, đều theo đúng quy luật chung nhất. Nắm vững triết lý Phật giáo, từ xưa đến nay vẫn luôn là việc không dễ dàng đối với người tu hành, cũng như với các học giả thế tục, xong với Ni sư, nó được trình bày rất gọn mà chính xác, với tính thuyết phục cao.
Không dừng lại ở góc độ nội dung giáo lý, Ni sư Diệu Nhân đã coi trọng nhiều hơn đến góc độ thực hành của chính mình và của người đời, thể hiện rõ nhất là ở bài “Thị tịch kệ” (Sinh già bệnh chết, Xưa nay lẽ thường, Muốn cầu thoát ra, Mở trói thêm ràng, Mê đó tìm Phật, Lầm đó cầu thiền, Phật, thiền chẳng cầu, Uổng miệng không lời). Thấu hiểu tư tưởng Ni sư, người ta đã không còn sợ cái chết nữa, mà nó “nhẹ tựa lông hồng”. Đấy là thái độ vận dụng thực tiễn đúng đắn nhất về quy luật vô thường, vô ngã, bởi vì nếu có sợ, có cầu gì gì đi nữa thì có ai được bất tử đâu. Cái chết khi đã là nhẹ, người ta sẽ yên tâm hơn trong việc dành tâm lực cống hiến cho đời. Vai trò của nhận thức lớn đến như vậy.
Không sai, nếu nói Ni sư Diệu Nhân có vai trò của một bậc trí thâm hậu về thế giới quan và nhân sinh quan Phật giáo. Nhưng ở đây, vai trò cao hơn của Ni sư là ở phương diện thực hành, khi Bà đã làm cho những giáo lý Phật giáo trở nên sống động, có hiệu quả, đúng như tinh thần dấn thân của Phật giáo, rằng: giáo lý không được thực hành là giáo lý chết.
Thứ hai, Ni sư Diệu Nhân là một tấm gương cống hiến hết mình ở cả vị thế đời và đạo
Thiền uyển tập anh viết về Ni sư Diệu Nhân: Thuở nhỏ bà thiên tư thuần hậu, ngôn hạnh đoan trang, được vua Lý Thánh Tông nuôi trong cung. Lớn lên vua gả cho người họ Lê, làm quan Châu mục ở Chân Đăng. Chồng mất, bà tự thệ thủ tiết không chịu tái giá.
Với đời thường, Ni sư Diệu Nhân đã làm trònđến xuất sắcvị thế của một người phụ nữ, lúc bé sống cùng cha mẹ đẻ, lớn lên, làm công chúa con nuôi vuabác, trưởng thành được gả làm vợ quan Châu mục Chân Đăng (thuộc dòng dõi vua Lê Đại Hành) và làm mẹ của mấy người con trai, gái (các con gái là Minh Bảo, Cảm Thánh, Phụng Thánh và con trai là Lê Xương, tức Phụ Thiên đại vương sau này)[5]. Khi chồng mất và các con khôn lớn, Ngọc Kiều công chúa nếu dừng tại đó để sống cuộc đời an nhàn đến trọn đời thì đã là một sự cống hiến không ít cho triều đình và xã hội.
Xong phải chăng do có sự dẫn dắt của tư tưởng Đức Phật, đồng thời với những tri thức vốn được truyền dạy kỹ càng của bà về Phật giáotừ trước đó, bà Ngọc Kiều đã quyết định đi tu để cống hiến phần đời còn lại của mình cho Phật giáo. Đến nay vẫnchưa xác minh được việc bà đi tu năm nào, ở độ tuổi bao nhiêu, xong chắc chắn rằng, sự nghiệp tu hành mà bà đã chọn là chủ động và tự giác, trên cơ sở lý tưởng dấn thân của Phật giáo, nhằm cống hiến cho đạo Phật, mà đây là Phật giáo Đại thừa, để cứu chúng sinh Đại Việt.
Từ phương diện văn học nghệ thuật, Ni sư Diệu Nhân còn là một nữ sĩ tài ba. Về việc này, tác giả Trần Thị Băng Thanh đã viết: “Diệu Nhân là một nữ sĩ của buổi đầu lịch sử văn hoá Việt Nam. Đối với những câu hỏi lớn mà các tín đồ đạo Phật thời nào cũng bàn đến như sắc không, sinh tử, mê giác, thịnh suy… Ni sư Diệu Nhân đã góp thêm một cách nhìn sáng suốt, một thái độ điềm nhiên cứng cỏi, góp phần làm nên tinh thần lạc quan, trí tuệ của văn học thiền thời Lý Trần, mà văn học các giai đoạn sau không còn giữ được”[6].
Sự cống hiến hết mình của Ni sư cho đời và cho đạo Phật đều xuất sắc và toàn vẹn, đã có mấy ai làm được. Bà được lưu danh lịch sử, trở thành niềm tự hào, biết ơn và được dân chúng Đại Việt nguyện noi theo.
Thứ ba, Ni sư Diệu Nhân đã góp phần nâng cao uy tín của vương triều chính trị thời đó.
Có hai lý do để nói về vai trò này: một là, Ni sư Diệu Nhân gắn bó máu thịt với vương triều nhà Lý, nên bà nhất định phải có lập trường “phù độ” cho nền chính trị ấy; hai là, các vị vua nhà Lý khi ấy cũng có ý thức củng cố quyền lực chính trị từ những tư tưởng, việc làm và tấm gương chính trị hợp lòng dân.
Vì vậy, việc công chúa Thuỵ Thánh xuất gia đã là một tấm gương, một sự khích lệ đối với dân chúng, khi họ thấy rằng “giới quyền quý, cầm quyền” cũng dám từ bỏ vinh hoa phú quý, từ bỏ quyền lực chính trị để dấn thân vào con đường Phật giáo, mà mưu cầu cho quốc thái, dân an. Người dân ai cũng hiểu là, hầu hết những người có quyền lực chính trị đều có tiền, có của hơn người, còn đi tu hành Phật giáo thì có nghĩa là đoạn tuyệt với “vinh thân phì gia”. Người tu hành có lý tưởng cao cả nhưng pháp thân là khổ hạnh, tiết dục, dẫu Phật giáo có lập trường trung đạo thì cũng vậy thôi.
Từ phương diện người con Phật, Ni sư Diệu Nhân cũng đã tạo thêm uy tín cho chính trị thời đó. 
Việc Ni sư Diệu Nhân tuân thủ đến triệt để quy luật vô thường, nên khi viên tịch rất đỗi nhẹ nhàng và cảm động thay, ở vài khắc giờ trước đó, Bà đã để lại cho nhân gian tác phẩm “thị tịch kệ”. “Thị tich kệ” có quá ít về chữ câu, nhưng có quá nhiều về lý trí, phẩm cách và cả trọng trách nữa. Ni sư ra đi, nhưng Bà vẫn mong muốn chúng sinh và cả giới cầm quyền khi đó, vốn rất “trọng sự chết”, rằng nay cần phải khác hơn, tới mức ngược lại, là “coi nhẹ sự chết”. Điều Bà mong muốn đó được dựa trên cơ sở quy luật của đất trời, có thể nhiều người cũng biết, nhất là giới cầm quyền, nhưng họ vẫn xem rất nặng sự chết, bởi nhiều lý do. Đối với người dân, vấn đề trọng hay khinh sự chết là một vấn đề vô cùng lớn. Nếu sự chết xem nhẹ thì toàn bộ việc tang ma cũng sẽ được nhẹ nhàng, gọn gàng, không bị chi phối về kinh tế, trong khi họ luôn nghèo. Ngược lại, nếu trọng sự chết thì cũng có nghĩa là tỷ lệ thuận với gánh nặng trên vai người dân.
Ở đây, Ni sư Diệu Nhân đã thể hiện không chỉ là tấm lòng thương dân, mà còn là một “lời khuyên nghiêm túc” với triều đình, với vua anh, vua cháu của mình, rằng muốn chính trị được dân tin hơn, thì hoàng đế, vương hầu cũng cần phải làm gương cả trong sự chết. Phải chăng lời khuyên của bà đã có tác dụng, khi mà chỉ sau khoảng 15 năm bà mất (năm 1113) đến cuối năm 1127, vua Lý Nhân Tôn, một vị vua giỏi (Đại Việt sử kí toàn thư), trước lúc băng hà cũng có những lời dặn dò cận thần, trong đó có nói về việc tang chế, với tinh thần xem nhẹ cái chết.
Về việc này, Đại Việt sử kí toàn thư viết: “Vua không khoẻ. Gọi thái uý Lưu Khánh Đàm vào nhận chiếu rằng: Chết là số lớn của trời đất, lẽ của vật đều thế. Thế mà người đời không ai không thích sống mà ghét chết. Chôn cất cho hậu để mất sinh nghiệp, trọng để tang đến tổn hại tính mạng, trẫm không cho là phải. Ta đã ít đức, không lấy gì làm cho trăm họ được yên, đến khi chết đi, lại để cho nhân dân mình mặc áo sô gai, sớm tối khóc lóc, giảm ăn uống, tuyệt cúng tế làm cho lỗi ta nặng thêm, thì thiên hạ bảo ta là người thế nào?”. Rồi vua căn dặn việc tang sau đó của chính mình rằng: “Việc tang thì sau 03 ngày bỏ áo trở, nên thôi thương khóc; việc chôn thì nên theo Hán Văn đế, cốt phải kiệm ước; không xây lăng mộ riêng, nên chôn ngay bên cạnh tiên đế… Các ngươi nên thực lòng kính nghe lời trẫm, bảo rõ cho các vương công, tuyên bố ra ngoài”[7]. Thật là cảm động và khâm phục.
Như vậy, vai trò Ni sư Diệu Nhân trong lịch sử là không nhỏ, không chỉ đối với quần chúng xã hội, với Phật giáo, mà còn với cả chính trị cầm quyền khi đó. 
3. Tấm gương đạo hạnh của Ni sư Diệu Nhân thời hiện đại:
Thứ nhất, góp phần khẳng định vai trò của Phật giáo Việt Nam ở thời hiện đại:
Các hệ tư tưởng giải phóng chúng sinh nhìn chung đều là tiến bộ, với những ưu trội khác nhau. Đối với Phật giáo, một tôn giáo rất đề cao vai trò của trí tuệ trong việc giải quyết mọi vấn đề xã hội, từ đó đạt tới mục đích giải phóng chúng sinh. Tư tưởng ấy là phù hợp với sự phát triển của xã hội hiện đại, khi nhân loại đang bước vào cuộc cách mạng công nghệ 4.0. Trí tuệ của Phật giáoViệt Nam ở mỗi thời kỳ lịch sử đều được phát triển thêm lên nhờ vào các nhân vật tuấn kiệt của nhà Phật, trong đó có Ni sư Diệu Nhân.   
Tư tưởng của Ni sư truyền dạy cho Phật tử Việt Nam đương đại biết chọn lọc để có thể buông bỏ những cái không cần thiết cho phát triển, đồng thời biết giữ lấy, tạo ra cái mình cần. Đây là một vấn đề của tuệ giác, khác xa cảm tính, với tinh thần là quay đầu lại với chính mình, làm đúng quy luật, giữ chánh, dẹp tà. Có như thế, cái tham - sân - si mới bớt dần, để chúng ta không phải quá lo lắng như hiện nay.
Cuộc đời và sự nghiệp Phật giáo của Ni sư Diệu Nhân như là sự kết hợp tinh thần biện chứng uyển chuyển của triết lý Phật giáo với đặc điểm văn hoá xã hội Đại Việt. Ở đây, Ni sư Diệu Nhân, từ tư tưởng đến thực hành, luôn theo sát mục đích giải thoát với tinh thần vô ngã, vị tha, nhưng không chấp trước vào ngoại cảnh, với tinh thần khế hợp. Với Ni sư Diệu Nhân, sự thực hành giải thoát, nhập thế và khế hợp đã làm cho việc vận dụng Phật giáo trở nên năng động và rất gần gũi với nhân dân Việt Nam thời đó và lại càng phù hợp thời nay. Theo đó, Phật giáo Việt Nam trong xã hội hiện đại, sẽ như một nhân tố tạo nên sự cân bằng trong phát triển, góp phần làm cho phát triển đa dạng nhưng không mất hướng, thoả mãn nhu cầu nhưng biết tiết dục, văn minh công nghiệp nhưng không xô bồ, …
Ni sư Diệu Nhân do đó đã là sự tiếp tục khẳng định vai trò của Phật giáo Việt Nam thời hiện đại.
Thứ hai, góp phần thức tỉnh tâm thức nữ Phật tử nhận ra Phật tính trong mình, từ đó hiện thực hoá:
Tư tưởng của Ni sư Diệu Nhân và cuộc đời của Bà cho người ta suy nghĩ nghiêm túc về “một cõi vô thường” của chính mình, rằng phải làm gì để không bỏ phí thời gian sống, để có thể sống một cách “có kế hoạch” sao cho chất lượng và ý nghĩa cuộc đời tốt hơn. Lẽ sống tốt như thế phải được kiến tạo ngay trong cuộc đời thực và nó không chấp nhận một cái gì xa vời, hão huyền, phi thực tế. Nói cách khác, người ta phải đi tìm con đường giải thoát, chấm dứt khổ đau ngay trong đời sống hiện tại của mình, đạt tới “hữu dư niết bàn”.
Tất nhiên những điều như thế đâu phải là hiện nay Tăng chúng và nhất là ni chúng, đã không dạy cho Phật tử nói chung và cho nữ Phật tử nói riêng? Người viết chưa thể bàn kỹ theo hướng đó, mà ở đây, chỉ để khẳng định rằng: nữ Phật tử Việt Nam nếu tiếp cận nhiều tới tư tưởng của Ni sư Diệu Nhân, thì những suy nghĩ và hành vi của họ, vốn đa phần là cảm tính, rất thực tế, nhưng cũng có khi hão huyền, thì nay, họ sẽ vẫn duy trì tính thực tế, nhưng được bổ sung từ tính chất lý trí - trí tuệ mà họ nhận thức được từ Ni sư Diệu Nhân. Họ do đó sẽ tự hào, tin tưởng đối với Ni sư, chịu ảnh hưởng từ Ni sư nhiều hơn.
Thứ ba, Ni sư Diệu Nhân là niềm tự hào của ni giới Việt Nam, trở thành động lực tinh thần để ni giới phát huy trách nhiệm của mình trong đạo và đời:
Cho đến nay, theo số liệu của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, hàng ngũ chư ni đã phát triển mạnh về số lượng. Ni sư Diệu Nhân có vai trò, ảnh hưởng đến ni giới là qua những phẩm chất: phẩm hạnh, trí tuệ và trách nhiệm xã hội. Từ đó, hàng ni giới Việt Nam hôm nay coi đó là tấm gương, là mẫu mực về trí tuệ và đạo hạnh để phấn đấu có phẩm hạnh tốt, đủ đức, tài và đủ trí tuệ, năng lực để đảm bảo trách nhiệm đối với mọi công việc chung của Giáo hội và xã hội.
Khác với các xã hội trước đây trong lịch sử Việt Nam, xã hội hiện đại đã và đang xuất hiện nhiều vấn đề, có thuận lợi và thách thức đối với Ni giới Việt Nam. Những vấn đề đó, Hội nghị Ni giới Phật giáo thế giới đã chỉ ra, như: vấn đề phụ nữ mang lại hoà bình cho chính mình, cho gia đình, cho xã hội và cho thế giới; phụ nữ Phật giáo trong một cộng đồng toàn cầu đa văn hoá; Phật giáo và sự thay đổi văn hoá: những vấn đề của nữ Phật tử; nữ giới Phật giáo lỗi lạc và nữ giới Phật giáo dấn thân trong xã hội…
Giải quyết những vấn đề trên, điều cần thiết của các chư ni hiện nay là phải Tăng cường học hỏi, nâng cao trình độ của mình cả về Phật học lẫn thế học. Tấm gương của Ni sư Diệu Nhân sẽ hỗ trợ cho các chư ni làm tốt hơn việc rèn luyện, thay đổi và phát triển bản thân phù hợp với Phật giáo ở thời hiện đai.
KHUYẾN NGHỊ THAY CHO KẾT LUẬN
Một là, Ni sư Diệu Nhân đã được nhân dân Việt Nam, từ lịch sử đến nay, ghi nhận và tự hào. Vì thế, rất mong Giáo hội Việt Nam lúc này là đẩy mạnh tuyên truyền về Ni sư Diệu Nhân với nhiều hình thức. Vậy, Giáo hội cần phân công trách nhiệm cho các tổ chức, các chư vị Tăng, ni, cũng như khuyến khích Phật tử, biên soạn, in ấn, sản xuất tài liệu về Ni sư Diệu Nhân, mà hợp lý trách nhiệm trực tiếp là Phân ban Ni giới Trung ương, để các hình thức, phương tiện truyền thông, trước hết là của Phật giáo, thống nhất tuyên truyền.
Hai là, ngay sau cuộc hội thảo này, ngoài kỷ yếu hội thảo, Ban tổ chức nên tổng hợp, chắt lọc từ các bài viết, các ý kiến tham luận, để biên soạn, xuất bản một cuốn sách về Ni sư Diệu Nhân./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO


1. HT. Thích Thanh Từ, Thiền sư Việt Nam, Thành Hội Phật Giáo TP. Hồ Chí Minh, 1992, Phần 5: Ni sư Diệu Nhân (1041 - 1113) - (Đời thứ 17, dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi),Thư Viện Hoa sen, truy cập 20/5/2019.
2. HT. Thích Thanh Từ, Thiền sư Việt Nam, Thành Hội Phật Giáo TP. Hồ Chí Minh, 1992, Phần 5: Thiền Sư Chân Không (1045 - 1100) - (Đời thứ 16, dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi), Thư Viện Hoa sen, truy cập 20/5/2019.
3. Thư Viện Hoa sen, Diệu Nhân Ni sư (1041 - 1113), bài đăng ngày 05/12/2010, truy cập 15/6/2019.
4. Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 1, in lần thứ hai, có sửa chữa, Nxb. Văn hoá Thông tin, năm 2004.
5. PGS. TS. Trần Thị Băng Thanh, “Lý Ngọc Kiều - Từ cô công chúa...đến sư bà Diệu Nhân”, in trong sách “Gương mặt Thăng Long” (GS. Nguyễn Huệ Chi chủ biên), Nxb. Hà Nội, 2010, tr. 80 - 83.

 
[1]Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 1, in lần thứ hai, có sửa chữa, Nxb. Văn hoá Thông tin, năm 2004, Tr. 341 -342.
[2]HT.Thích Thanh Từ, Thiền sư Việt Nam, Thành Hội Phật Giáo TP. Hồ Chí Minh, 1992, Phần 5: Ni Sư Diệu Nhân (1041 - 1113) - (Đời thứ 17, dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi), Thư Viện Hoa sen, truy cập 20/5/2019.
[3]HT.Thích Thanh Từ, Thiền sư Việt Nam, Thành Hội Phật Giáo TP. Hồ Chí Minh, 1992, Phần 5: Thiền Sư Chân Không(1045 - 1100) - (Đời thứ 16, dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi), Thư Viện Hoa sen, truy cập 20/5/2019.
[4]HT.Thích Thanh Từ, Thiền sư Việt Nam, Thành Hội Phật Giáo TP. Hồ Chí Minh, 1992, Phần 5: Ni Sư Diệu Nhân (1041 - 1113) - (Đời thứ 17, dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi), Thư Viện Hoa sen, truy cập 20/5/2019.
[5] Thư Viện Hoa sen, Diệu Nhân Ni Sư (1041 - 1113),bài đăng ngày 05/12/2010, truy cập 15/6/2019.
[6]PGS. TS. TrầnThị Băng Thanh, "Lý Ngọc Kiều - Từ cô công chúa... đến sư bà Diệu Nhân", in trong sách “Gương mặt Thăng Long” (GS. Nguyễn Huệ Chi chủ biên), Nxb. Hà Nội, 2010, tr. 80 -83.
[7]Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 1, in lần thứ hai, có sửa chữa, Nxb. Văn hoá Thông tin, năm 2004, Tr. 356-357.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây