12 NI SƯ TRÍ HẢI VÀ VAI TRÒ CỦA NI GIỚI VIỆT NAM THỜI HIỆN ĐẠI

Thứ sáu - 25/10/2019 21:40
NI SƯ TRÍ HẢI
VÀ VAI TRÒ CỦA NI GIỚI VIỆT NAM THỜI HIỆN ĐẠI
THÍCH NỮ VIÊN GIÁC - Th.S -NCS Viện Trần Nhân Tông, Đại học Quốc gia Hà Nội/ NCS Đại học Hồng Đức

NI SƯ TRÍ HẢI

VÀ VAI TRÒ CỦA NI GIỚI VIỆT NAM THỜI HIỆN ĐẠI
                                                                                               THÍCH NỮ VIÊN GIÁC[1]
 
Tóm tắt:
Thích nữ Trí Hải là sư ni nổi tiếng Việt Nam thời hiện đại. Tấm gương tu học của Ni sư là niềm tự hào của Phật giáo Việt Nam đương đại vươn ra tầm thế giới. Còn rất nhiều các bậc trưởng lão Ni ngày nay đang ẩn mình chuyên tu mật hạnh, luôn cầu nguyện cho Phật Pháp trường tồn, quốc thới dân an.
Ni giới Việt Nam từ khi thành lập đã luôn tỏ rõ tinh thần bất hại, yêu nước, đóng góp hàng đầu phúc lợi xã hội, tốt đời đẹp đạo, Phật giáo luôn đồng hành cùng dân tộc. Hiện nay, nhiều chư Ni du học ở nước ngoài về biết nhiều ngôn nhữ khác nhau và khả năng thuyết giảng, khả năng viết và đạo lực phục vụ rất tốt, do được trang bị đầy đủ pháp học và pháp hành. Thành công có được đều dựa trên nền tảng của giới luật và tinh thần lục hòa, góp phần giải quyết những vấn nạn của xã hội, củng cố giáo đoàn Ni.
MỞ ĐẦU
Ni trưởng Thích nữ Trí Hải (1938 - 2003) là sư Ni nổi tiếngViệt Nam thời hiện đại. Cuộc đời, tư chất, xuất thân và quá trình xuất gia phụng sự nhân sinh trên tinh thần bi - trí - dũng của Ni sư rất đánh khâm phục và học hỏi. Tấm gương tu học của Ni sư không chỉ là niềm tự hào của Phật giáo Việt Nam đương đại mà cũng là sự hội tụ tinh hoa của Phật giáo Việt Nam được du nhập thời đầu Công nguyên, trải qua quá trình tiếp bến và phát triển. Hành trạng của Ni sư góp phần là niềm tự hào của dân tộc vươn ra tầm thế giới, là tấm gương Tăng tài cho hàng Ni chúng ngày nay học hỏi, phấn đấu, tu luyện, phụng sự chúng sanh báo Phật ân đức. Và “bổn phận của tất cả những người Phật tử Việt Nam là học Phật Pháp và điều hòa tác hành Phật sự, nhằm vào lợi ích cho quốc gia Việt Nam” [12,lời tựa], cũng là đem lại lợi ích lớn lao cho nhân loại.
NỘI DUNG
1.Vài nét về Ni sư Trí Hải
1.1. Con người và cuộc đời
Ni trưởng Trí Hải thế danh là Công Tằng Tôn Nữ Phùng Khánh (Tôn Nữ Phùng Khánh - Cái tên này xuất hiện khá nhiều trong thơ Bùi Giáng). Ni sư sinh ngày 9 tháng 3 năm 1938 (Mậu Dần), tại làng Vỹ Dạ, huyện Hương Trà, phủ Thừa Thiên (nay thuộc phường Vĩ Dạ, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế). Nhưng nguyên quán của Ni sư ở khá xa; tại làng Gia Miêu, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung (nay thuộc xã Hà Long, Huyện Hà Trung) tỉnh Thanh Hóa.
Ni sư Trí Hải khi chưa sinh ra đã được nhà sư cho pháp danh chúc phúc là Tâm Hỷ. Vì bà mẹ và gia đình đều làn những Phật tử thuần thành, hộ pháp đắc lực cho chùa. Ni sư vốn xuất thân từ dòng dõi hoàng tộc nhà Nguyễn. Thân phụ và thân mẫu của Ni sư hạ sinh được sáu người con, Ni sư là con thứ năm trong gia đình. Thân phụ Ni sư là ông Nguyễn Phước Ưng Thiều, tự Mân Hương. Ông là cháu nội dòng cao quý của Tuy Lý Vương Nguyễn Phước Miên Trinh. Thân mẫu Ni sư là bà Đặng Thị Quế, vốn cũng là con gái của quan thái y nổi tiếng trong triều đình. Ni sư ít khi bàn về dòng dõi của mình mặc dù nguồn gốc xuất thân của Ni sư vô cùng sáng lạng. Ngay từ nhỏ, tâm thức của Ni sư sớm có chủng tử xả ly, chân thật, nội tâm định tĩnh và coi thường danh vọng vinh hoa; Ni sư sớm có tấm lòng yêu đời, yêu người và yêu mến cái đẹp giản dị, yên bình. Lớn dần, ý tưởng xuất gia đã sớm tự nảy nở trong tâm hồn của Ni sư.
Vào thời bấy giờ, lớn lên trong môi trường giáo dục đàng hoàng, bài bản, việc Ni sư Trí Hải tiếp nhận được các nguồn kiến thức và văn hóa từ Tam giáo đồng nguyên không phải là điều khó hiểu; nhất là Phật giáo vốn là tôn giáo gốc của truyền thống gia đình. Dù học và nghiên cứu rất nhiều các kiến thức khác nhau nhưng khi tốt nghiệp Tú tài Ni sưluôn tha thiết xin gia đình xuất gia nhưng lầm nào cũng đều bị khước từ. Nhân duyên chưa đến, với lòng hiếu thảo cùng với căn tánh thông minh và ham học, Ni sư tiếp tục con đường học tập hết Cử nhân Anh văn tại trường Sư phạm Huế và trở thành giáo viên tại trường Phan Chu Trinh - Đà Nẵng.
Năm 1960, đủ nhân duyên đi du học phương Tây, Ni sư lại được tiếp xúc với nền văn hóa văn minh hoàn toàn khác xứ phương Đông. Ni sư học hỏi được nhiều kiến thức ở Mỹ khi theo ngành Cao học Thư viện (M.A) tại Đại học Princeton (Hoa Kỳ). Lần về nước cuối năm 1963, Ni sư cùng em gái là Tôn Nữ Phùng Khanh đã phát nguyện công quả cho Ni trưởng chùa Phước Hải, chăm lo các nơi ăn ở của nữ tu sinh tại Viện Cao đẳng Phật học Việt Nam. Duyên lành đầy đủ, năm 1964 Ni sư buông bỏ vạn duyên xuất gia, tiếp sau đó thọ giới Sa-di Ni tại chùa Hồng Ân (Huế). Ni trưởng Diệu Không là bổn sư thế phát cho Ni sư.
Năm 1968, Ni sư thọ giới Thức-xoa-ma-na tại Nha Trang và được bổ nhiệm làm Thư viện trưởng và giám đốc Trung tâm An sinh xã hội của Viện Đại học Vạn Hạnh. Từ đây, đánh dấu nhiều mốc Phật sự quan trọng của Ni sư cho đạo pháp và dân tộc như  với các vai trò: giáo thọ sư, dịch thuật, hoằng pháp, các công tác phúc lợi xã hội,…Năm 1970, Ni sư thọ Cụ-túc-giới tại Đại giới đàn Vĩnh Gia (Đà Nẵng).Cuối năm 1983, trường Cao cấp Phật học Việt Nam được thành lập, Ni sư là giáo thọ sư nữ đầu tiên và duy nhất thời đó. Ni sư có nhiều đóng góp quan trọng trong công tác Phật sự xiển dương giới luật. Ngoài ra, tuy nước nhà ảnh hưởng sâu sắc từ văn học Hán tạng nhưng Ni sư lại có nhiều đóng góp mới mẻ trên hệ kinh Trung Bộ được dịch ra tiếng Anh - bộ kinh có vai trò trọng yếu của hệ phái Nguyên Thủy.
Năm 1984, Ni sư gặp một số chướng duyên trong vòng 4 năm khi nhập thế trước tình hình xã hội nhiều biến động. Sau đó, Ni sư chuyên tâm về việc dịch thuật kinh điển và giáo dục ni chúng thiền môn. Ni sư có nhiều tác phẩm được đưa vào sách giáo khoa cho Tăng Ni nghiên cứu tu tập ở nhiều cấp học khác nhau. Từ năm 1996 đến 1999, Ni sư thường xuyên lui tới giảng dạy Phật học tại trường Trung cấp Phật học Long An, Ni viện Thiên Phước; nhất là dạy Luật Tứ Phần Tỳ-kheo-niBồ Tátgiới; rồi liên tiếp các đại Giới đàn Minh Tánh (1996), Liễu Thiền (1999), Khánh Phước (2002) tổ chức tại Ni viện Thiên Phước - Long An đều tín nhiệm cung thỉnh Ni sư làm tuyên Luật sư và trưởng ban khảo hạch.
Năm 2003, Ni sư là phó ban khảo hạch đại giới đàn Thiện Hoa ở Từ Nghiêm; cũng trong năm này, Ni sư được bầu làm phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, trưởng ban vận động tài chính Ni; và cũng trong cuối năm này, Ni sư sư tử nạn giao thông tại Đồng Nai khi đang công tác từ thiện, thọ thế 66 tuổi và 33 năm tuổi hạ.
1.2. Các công trình nghiên cứu Phật học
Ni sư Trí Hải đã dịch phong phú các tác phẩm như:Ảo hoá(sách)Hermann Hesse, Ba thời chuyện pháp, Bóng Nguyệt lòng sông, Câu chuyện triết học, Con đường thoát khổ(What the Buddha taught), Câu chuyện của dòng sông, Hermann Hesse, Đàm hoa lạc khứ, Đường vào nội tâm, Đường đi không gió, lòng sao lạnh!, Đưa vào  Mật Tông, Fa-Hsien, the Unassuming Pilgrim, Giải thoát trong lòng tay(Liberation in the Palm of Your Hand: A Concise Discourse on), Huyền Trang - Nhà chiêm bái và học giả. Hòa Thượng Thích Minh Châu, Làm việc một nguồn vui. Tarthang Tulku Rinpoche, Nguồn mạch tâm linh, Nhà khổ hạnh và gã lang thang(sách)  Hermann Hesse, Nhập Bồ Táthạnh (sách)Bồ TátTích Thiên, Phật giáo truyền thống Tây Tạng (sách) Geshe Kelsang Gyatso, Sám quy mạng, So sánh kinh Trung A-hàm và kinh Trung Bộ (sách),Sống Thiền(sách) E. Herrigel, Sự tích giới luật E. Herrigel, Tạng thư sống chết (sách) Sogyal Rinpoche, Tâm bất sinh (sách)Pháp Thiền Bankei, Thanh Tịnh Đạo,Từ nguồn diệu Pháp (sách),Tương quan giữa Thiền và Mật, Kỷ yếu tưởng niệm Ni,The Path to Enlightenment (Spiritual Classics) Pha-Bon-Kha-Pa Byams-Pa-Bstan-Dzin-Phrin-Las-Rgya-Mtsho, Bắt trẻ đồng xanh,Triết học Phật giáo,Gandhi tự truyện, Thắng Man,Kinh Pháp Bảo Đàn,Giới Luật là nền tảng con đường thanh tịnh - luận sư Buddhaghaso; sách dịch Sự tích giới luật,v.v…
2.Tìm hiểu Ni giới Việt Nam thời hiện đại
2.1. Phát triển trên nền tảng truyền thống
Tổ Ni Đại Ái Đạo Kiều Đàm Di - Mahapajapati Gotami xuất gia thời đức Phật và trở thành Tỳ-kheo-ni đầu tiên, “công chúa Da du đà na (Yasodhara) cũng xuất gia và đắc quả A la hán. Trong hàng tín nữ, bà Yasodhara đứng đầu những vị đã chứng đắc đại thần thông và nhập diệt lúc bảy mươi tám tuổi” [12, tr.137] dưới sự chỉ đạo Ni đoàn của bà Mahapajapati Gotami. Phật giáo được coi là truyền đến Việt Nam từ đầu thế kỷ thứ nhất sớm hơn Trung Hoa. Thời Hai Bà Trưng (40 - 43), nhiều tướng nữ của Hai Bà sau đều xuất gia nơi cửa Phật, để lại tên tuổi như: Công chúa Bát Nàn, Thiều Hoa, Vĩnh Huy, Phương Dung,…Và cũng bởi tinh thần từ bi trí tuệ, đạo lý tứ ân mà Tướng nhà Hán là Mã Viện đã phải thua với âm mưu đồng hóa nước ta ngay trong những thời kì đầu. Trong khi đó, Trung Quốc tới năm 429 mới có một Ni đoàn từ Tích Lan tới Kiến Nghiệp đánh dấu sự có mặt của Ni giới. Và đến thời trung đại, Ni nổi tiếng có Ni sư Diệu Nhân (1042-1113) thời Lý.Thiền uyển tập anh ghi Ni sư không chỉ đóng góp lớn trong sự nghiệp tu đạo và phát triển Tăng đoàn mà còn góp phần làm rạng rỡ nền Văn học thời Lý Trần.
Cùng với dòng chảy của mạng mạch giáo đoàn Ni, chư ni thời cận đại, thời chống Pháp, chống Mỹ, cũng tích cực tham gia phúc lợi xã hội trên tinh thần “phung sự chúng sanh là thiết thực cúng dường chư Phật”, “Phật Pháp tại thế gian không lìa thế gian mà giác ngộ”, tinh thần tứ ân; tiêu biểu như: Ni trưởng Đàm Thu, Ni Trưởng Đàm Soạn, Ni trưởng Đàm Hữu, Ni trưởng Đàm Tín, Ni trưởng Đàm Xương v.v… Song song nhiệm vụ tốt đời đẹp đạo, đạo pháp đồng hành cùng dân tộc, chư ni trưởng lão cũng tích cực mở hàng loạt các đạo tràng truyền giới, dạy luật; tích cực xây dựng chùa chiền, tổ chức các khóa tu phong phú các hình thức, tổ chức An cư kiết hạ,…Tất cả nhằm mục đích nối truyền mạng mạch của Phật giáo tại nước ta, nhìn chung, quý sư ni thuộc hệ phái Bắc tong hoạt động phụng sự tha nhân mạnh hơn cả. Cũng phải lưu ý, đầu thế kỷ XX, trong công cuộc phục hưng Phật giáo có Ni sư Diệu Ngọc (1885-1952), Ni sư Diệu Tịnh (1910-1942), Ni trưởng Như Thanh (1911-1999), Ni trưởng Giác Nhẫn (1919 - 2003) tích cực đóng góp cho giáo đoàn Ni tồn tại và phát triển; hệ phái Khất sĩ có Ni trưởngHuỳnh Liên, Ni trưởng Bạch Liên, Ni trưởng Tạng Liên, có nhiều đóng góp cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước,điển hình về giới đức, về sự nghiệp tu tập và độ sanh, nhiều vị để lại xá lợi. Và cho đến nay, chư Ni đã xây dựng được giáo đoàn lên đến hàng vạn người. Điều này chứng tỏ năng lực giáo hóa của chư Ni Việt Nam rất đáng nể ở thế kỷ XX . Thời hiện đại, điển hình có Ni trưởng Trí Hải (1938 - 2003) đặc biệt có dấu ấn lớn đóng góp về giáo dục mà ngày nay Tăng đoàn đang lưu tâm hoạt động mạnh lĩnh vực này. Các lĩnh vực khác cũng xuất hiện nhiều sư ni trưởng xuất sắc, như: lĩnh vực từ thiện có Ni sư Huệ Từ (chùa Giác Tâm - TPHCM); trong Phật sự quản lý tự viện có Ni sư Như Đức (thiền viện Viên Chiếu - Long Thành), và Ni sư Như Như (Tu Viện Đại Tòng Lâm - Bà Rịa Vũng Tàu); đi đầu trong việc bảo vệ môi trường là Ni trưởng Huệ Giác (Quan Âm Tu Viện - Biên Hòa), v.v… Ngoài ra còn rất nhiều các bậc trưởng lão ningày nay đang ẩn mình chuyên tu mật hạnh, cũng luôn cầu nguyện cho Phật Pháp trường tồn, quốc thới dân an.
2.2.Thực trạng Ni giới Việt Nam hiện nay
Phật giáo Việt Nam có phong phú các pháp môn tu với ba hệ phái chính là Bắc tông (Mahayàna), Nam tông (Theravada), và Khất sĩ (được thành lập tại Việt Nam). Nhờ dựa trên những giáo lý nền tảng trong Tam Tạng kinh điển nên dù hình thức sinh hoạt mỗi tông phái có khác nhau nhưng vẫn cùng thống nhất trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập năm 1981. Vào đầu thế kỷ 21, số lượng chư Ni chiếm khoảng 54% trong tổng số 50.000 Tăng ni cả nước. Ni bộ Bắc tông thành lập đã thống nhất chọn ngày mùng 8-2 ÂL hàng năm (tức lấy ngày kỷ niệm Đức Phật Thích Ca xuất gia) làm ngày tưởng niệm Đức Tổ Ni Đại Ái Đạo, trụ sở đặt tại tổ đình Từ Nghiêm Tp.Hồ Chí Minh. Phân ban Ni giới T.Ư thuộc Ban Tăng sự T.Ư GHPGVN thành lập vào năm 2009, làm lễ tưởng niệm Đức Tổ Ni Đại Ái Đạo vào ngày mùng 5 và 6-2 ÂL hàng năm và được luân phiên tổ chức tại các tỉnh thành trong cả nước. Việc này càng khiến cho giáo đoàn Ni thời hiện đại được phát triển, khuyến khích Ni chúng tu tập và nhập thế phụng sự, gắn chặt tinh thần đoàn kết và tương hỗ lẫn nhau giữa các tổ chức trong giáo hội và thế nhân;góp phần giải quyết những vấn nạn của xã hội, củng cố giáo đoàn Ni. Nhất là, Hội Chữ Thập Đỏ Việt Nam luôn gắn bó chặt chẽ với các công tác phúc lợi xã hội của Ni giới Việt Nam.
Trong giáo đoàn Ni, nhiều vị đạt đến học hàm cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ; nhiều vị nhiệt thành hoan hỷ tham gia vào mọi lĩnh vực của Giáo hội, cứu nhân độ thế;đa số đều vượt qua các hình thức chấp tướng của màu y, của ngôn ngữ, của quan niệm tập tục dấn thân hành đạo ngày đêm không biết mệt mỏi. Trí tuệ và đức tâm của hàng ni chân tu khiến không ít giới trong xã hội kính nể và hiệu quả làm việc rất cao. Do vậy, qua ba lần tổ chức Phật đản Vesak của Liên Hợp Quốc, Ni giới Việt Nam đã góp phần không nhỏ đóng góp trên các lĩnh vực học thuật, từ thiện, thiết kế, ngoại giao. Nhất là trong thời đại 4.0, nhiều chư Ni vận dụng thành công những tiến bộ của khoa học kĩ thuật và công nghệ vào công cuộc hoằng pháp, góp phần đưa hình ảnh đấy nước và con người Việt Nam vươn ra hội nhập quốc tế. Nhiều chư Ni du học ở nước ngoài về biết nhiều ngôn nhữ khác nhau và khả năng thuyết giảng, khả năng viết và đạo lực phục vụ rất tốt, dođược trang bị đầy đủ pháp học và pháp hành. Thành công có được đều dựa trên nền tảng của giới luật và tinh thần lục hòa.
Tuy nhiên, hiện nay, Ni giới Việt Nam nhìn chung có số lượng đông đảo nhưng tiềm năng chuyên tu và hoằng pháp thực sự chưa được phát huy tối đa. Đức Phật đã ấn chứng “nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh”, “ta là Phật đã thành chúng sanh là Phật sẽ thành” và nếu người nữ chuyên tâm tu tập thực hành trên lời Phật dạy có thể lìa bỏ tướng mà thâm nhập quả Thánh không khác gì người nam. Nhưng bởi cách xa Phật quá lâu lại bị ảnh hưởng bởi Tam giáo đồng nguyên, nhất là ý thức Nho giáo, đồng thời tiếp thu ảnh hưởng bởi những tư tưởng hiện đại tiêu cực từ phương Tây nên ít nhiều ni giới ngày nay chưa dấn thân tận cùng lý tưởng hay bao dung rốt ráo. Hoặc vẫn còn một số nơi,sư ni nhận thức và học tậpchánh pháp vẫn chưa có đủ trí tuệ và từ bi cũng như lòng kham nhẫn để làm việc lớn như đức Bổn Sư chỉ dạy. Cho nên thực tế, vẫn có sự phân loại khác nhau giữa hàng ni chúng. Không chỉ khác nhau giữa ba miền mà ngay cả trong một miền hay trong một tỉnh hoặc ngay cùng một khu vực các sư ni vẫn còn hiện tượng ít có sự hợp tác chân thành, ít có sự nối kết, cho nên hiệu quả nhập thế chưa được nhiều nơi đánh giá cao. Một sốsư Ni vẫn chưa có tinh thần trách nhiệm chung cho đạo Pháp nên sinh ra “chùa riêng Phật chung”, tư tưởng “đất có thủ công sông có hà bá”, “tư tưởng Phật Pháp vùng miền, Phật Pháp gắn liền với văn hóa”, không dám đi thẳng vào chánh pháp. Dẫn đến những hiện tượng sao sớ, phong thủy, đốt mã, giết mổ, nhảy đồng, bói toán, quẻ thẻ xin xăm, bán con bán khoán,…vẫn còn tồn tại nhiều nơi. Những phương tiện này là cơ hội cho một số vị không chân thật rốt ráo tu học lợi dụng hình tướng người tu, làm việc thế gian, gây ảnh hưởng xấu đến Tăng đoàn và giáo lý của đức Phật.Bên cạnh đó, vẫn còn không thiếu tư tưởng một số ni chúng “an phận thủ thường” trong chùa hay trong chúng; không muốn phụng sự vì “ngại” va chạm với các tổ chức; không muốn đối mặt với những khó khăn, dễ tự ti và mang khuynh hướng tiểu thừa. Dù sao, Phật Pháp mạnh là do tứ chúng, với bên Ni đầu tiên phải là nòng cốt tu nữ xuất gia.
Hiện nay, ở Việt Nam, số lượng Ni xuất gia theo hệ phái Bắc tông chiếm đa số nhưng nếu so với số lượng đông đảo người Ni xuất gia thì sự phụng sự hành đạo thời hiện đại chưa phải là nhiều. Ni giới Khất sĩ có số lượng xuất gia đứng thứ hai. Về căn bản, sự phát triển Ni chúng của hệ phái khá là đồng đều, do hệ phái có những quy định riêng và khá chăm lo đến đời sống chuyên tu cũng như pháp học của Tăng đoàn Khất sĩ. Thứ ba,tu nữ xuất gia hệ phái Nguyên Thủy ít hơn, do hệ phái chỉ mới được thành lập tại Việt Nam năm 1958, lại không có Tỳ khưu ni và bị hạn chế bởi một số giới luật riêng của Tăng đoàn Nguyên Thủy. Dù có những nét đặc trưng của từng hệ phái nhưng khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập năm 1981, cả ba hệ phái cùng rất thống nhất từ trung ương đến các chùa riêng không chống đối, mặc dù có một số quan niệm khác nhau. Tất cả đều hoan hỷ trong tinh thần không chấp trụ, vô ngã vị tha, cùng bắt tay dung hợp và tôn trọng các truyền thống. Trong công tác Giáo hội, Ni giới cũng được tham gai và giữ nhiều trọng trách.
3. Ảnh hưởng của Ni sư Trí Hải đến Phật giáo
3.1.Đối với trong nước
Phật giáo truyền vào nước ta “từ những năm trước hoặc đầu Công nguyên” [13, tr.15], “các cao Tăng Ấn Độ đến truyền giáo trực tiếp, thời điểm đó có thể xưa hơn thời điểm Phật giáo vào miền Nam Trung Hoa khá nhiều” [14, tr.21] và luôn lấy tinh thần “duy tuệ thị nghiệp” làm đầu. Trải qua các thời kì tiếp biến, dung hợp, phát triển, Ni chúng tại miền Nam và nhất là tại Học viện Phật giáo Việt Nam Tp Hồ Chí Minh chiếm tỉ lệ trí thức cao nhất và họ được khuyến khích phát triển toàn diện các lĩnh vực.
Phật học viện Việt Nam tại Tp Hồ Chí Minh hiện nay được đánh giá là Phật học viện giáo dục Tăng tài đứng đầu nước ta và hiện đang có tiếng vang trên thế giới. Năm 2019 này, lần đầu tiên, Học viện mở khóa đào tạo tiến sĩ cho các Tăng Ni sinh trên thế giới về học, thu hút đông đảo Tăng tài hội tụ tại đất nước Việt Nam giàu đẹp, thân thiện, mến khách; đồng thời cũng là giữ âm đức cho hồn thiêng sông núi, cho thiện pháp và chánh pháp được lan tỏa khắp đất nước vàPhật giáo tiếp tục đồng hành cùng dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Phật học viện này năm nào cũng có số lượng Tăng Ni sinh đậu học cao nhất, với quy mô bề thế, mang tầm quốc tế, đội ngũ giáo thọ sư và giáo sư thế học được tuyển chọn gắt gao. Học viện đã gửi rất nhiều Tăng Ni trong nước ra nước ngoài học tập, quá trình phiên dịch Đại Tạng kinh cũng như số lượng đầu sách trong thư viện được đánh giá nhiều nhất tại nước ta, phải nói là phong phú các tài liệu của tất cả các hệ phái. Học viện được như ngày hôm nay cũng là nhờ công sức của nhị bộ đại Tăng, trong đó cơ sở ban đầu được chung sức xây đắp từ những Tăng tài trí thức nhiệt tâm như Ni sư Trí Hải đóng góp phụng sự. Vì vào thời bấy giờ, Ni trưởng không những am hiểu Tam Tạng kinh điển, không chỉ là giáo thọ sư mà còn là dch giả, nhà thơ Phật giáo.Sau này và bây giờ, Học viện Phật giáo Sóc Sơn tại Hà Nội và Học viện Phật giáo Huế tại miền Trung cũng đang hướng đến sự phát triển giáo dục Phật học cao nhất góp phần tạo ra sức mạnh tổng hợp của Phật giáo thời hiện đại; lấy yếu tố trí tuệ, chánh pháp, giáo dục làm ngọn đèn.
Hiện nay, Việt Nam cũng ủng hộ tích cực những chủ trương giáo dục Phật học theo đường hướng của nhiều chư Tăng Ni như Ni sư Trí Hải đã dấn thân. Hiện tại, Phật giáo và nhà nước cũng hết sức trân trọng những vị Ni, những nữ giới là những học giả, bác sĩ, giáo sư, nhà hoạt động xã hội,…đưa Phật giáo vào đời nhằm ban vui cứu khổ bằng việc “nói lên tiếng nói trung thực của giáo pháp, tức là lời dạy rõ ràng và minh bạch của đức Phật”[12,lời tựa của HT Piyadassi Maha Thera]; chung tay vì sự nghiệp hoà bình, hợp tác, bình đẳng trên tinh thần vận dụng lời Phật dạy vào xã hội hiện đại trong bối cảnh toàn cầu hóa; khẳng định người nữ sống theo lời Phật dạy, ưa mến thiện pháp, là những sứ giả nối kết tình tình hữu nghị giữa các nước trên thế giới vì an vui và hạnh phúc của nhân loại.
3.2. Đối với thế giới
Hội Sakyadhita - Hội nghị Ni giới thế giới - Hội những người con gái của Đức Thế tôn được thành lập năm 1987, tập hợp đông đảo mọi thành phần nữ giới trong Phật giáo, nhằm tạo ra sự phát triển cao nhất của Phật giáo thông qua vai trò của nữ giới nơiGiáo hội. Và hiện nay, hội đã có hàng ngàn thành viên thuộc hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau, con số này còn không ngừng được gia Tăng.
Phật giáo Việt Nam dưới sự cho phép của Chính Phủ đã tổ chức Hội nghị Ni giới thế giới lần thứ XI từ ngày 28/12/2009 đến ngày 03/01/2010 tại Trung tâm Văn hóa Phật giáo Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh thành công tốt đẹp. Trong thời đại công nghệ 4.0, Ni giới Việt Nam hội nhập quốc Tế cũng đã từng bước năng động “nhập thế bằng công cụ của chính thời công nghiệp mới, số hóa và tận dụng thế giới mạng internet và phương tiện truyền thông hiện đại đa phương tiện, luôn luôn và tức thời để Phật tử có thể tiếp cận được với Phật Pháp” [15, tr.18]. Với việc hướng đến quảng bá hình ảnh nữ giới Phật giáo Việt Nam song hành cùng nữ giới Phật giáo thế giới trong việc tu tập và lãnh đạo trong nước cũng như ủng hộ các Phật sự thế giới đã khẳng định và tìm ra nhiều vị nữ lỗi lạc trong lịch sử Phật giáo cả ở Việt Nam và trên thế giới; tuyên dương sự truyền trao chánh pháp và khả năng nhập thế phụng sự của ni giới; khuyến khích thi ca Phật giáo phát triển qua hàng ni chúng; nâng cao và gắn kết cộng đồng nữ Phật tử Phật giáo; đề cao lối sống trung đạo; yêu mến tôn trọng môi trường; khuyến khích Phát triển nữ học giả Phật giáo; tôn trọng bản sắc văn hóa phù hợp với tinh thần Phật giáo; tôn trọng những phương pháp thực hành Phật pháp của các tông phái; ca ngợi những tấm gương ni giới hiện đại. Điển hình Việt Nam có Ni sư Trí Hải thời hiện đại được đông đảo thế giới biết đến, chứng tỏ Việt Nam thời nào cũng có những con người xuất chúng rất nhạy bén với thực tại và luôn đi trước thời đại. Ni giới quốc Tế hiểu thêm về Phật giáo Việt Nam và những đóng góp của phụ nữ Phật giáo để cùng khẳng định, giao lưu, hợp tác quốc tế.
Đức Phật dạy hàng đệ tử “hãy là người thừa kế chánh pháp, đừng thừa tự tài vật”. Tiếp nối phương châm “duy tuệ thị nghiệp”, thời hiện đại trong giáo đoàn Ni, Ni sư Trí Hải là một trong những vị đứng đầu khởi xướng nền giáo dục Tăng tài hoằng dương chánh pháp. Hiện nay, một số lượng không nhỏ ni trẻ đã xuất ngoại du học tại các nước như: Ấn Độ, Trung Quốc, Đài Loan, Miến Điện, Sri Lanka, Thái Lan, Neepan, Anh Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Singapo,…vv. Sau khi tốt nghiệp, họ trở về Việt Nam với trình độ chuyên ngành và tầm nhìn xa, cùng với việc vận dụng các công nghệ hiện đại, chư ni đã và đang phụng sự nhiều trong các công tác giáo dục, dịch thuật, viết sách, sáng tác, báo chí, hoằng pháp, phúc lợi xã hội,v.v…Họ đại diện những gương mặt tiêu biểu về trí tuệ và đạo đức của những quốc gia mang trong mình những hạnh nguyện Bồ Tátlớn lao vì hạnh phúc toàn cầu. Ni tài nhập thế quốc Tế hóa là cầu nối để các tôn giáo khác nhau chia sẻ tiếng nói lương tri, tiếng nói yêu mến cái đẹp; cùng nghiên cứu, bàn bạc và xuất bản những tác phẩm liên quan đến nữ giới Phật giáo; chung tay phúc lợi cho nhân loại,... Qua những việc làm của ni giới cho thấy mong muốn mở rộng khối lục hòa của ni đoàn thế giới, không phân biệt hệ phái; mong muốn đà tạo ni tài và nữ Phật tử trí thức kế thừa mạng mạch Tam Tạng kinh điển; khuyến khích ni giới xuất gia tu tập, hoằng pháp, giữ gìn giới luật; dấn thân nhập thế phung sự vì hòa bình của nhân loại trên tinh thần bình đẳng, giải thoát dựa trên lời Phật dạy.
KẾT LUẬN
Hoạt động giáo dục Phật giáo hiện nay khá sôi nổi và dự báo trong tương lai số lượng ni tài đang du học thế giới sẽ là nguồn chất xám vô tận để góp phần khẳng định nhân tài Việt Nam trên trường quốc tế và khẳng định ni giới Việt Nam luôn đồng hành cùng Ni giới thế giới mà Ni sư Trí Hải thời hiện đại đã là tấm gương tiên phong và mở đường. Con người, cuộc đời và hành trạng của những quý ni gần đây như Ni sư Trí Hải là một trong những minh chứng chứng tỏ ni giới Việt Nam có đầy đủ bi - trí- dũng để tự độ độ tha, tự giác giác tha.
Ni giới Việt Nam hiện nay bên cạnh một số hạn chế rải rác không phải là nhiều thì phần đa tỏ rõ tinh thần tu tập cao, tài giỏi, hi sinh phụng sự, bao dung không ngại khó khổ. Trong đó căn bản là các công việc xây dựng mở mang chùa chiền, giáo dục nội điển cho Tăng đoàn, từ thiện xã hội,…Ni giới Việt Nam từ khi thành lập đã luôn tỏ rõ tinh thần bất hại, yêu nước, đóng góp hàng đầu trên các hoạt động phúc lợi xã hội, tích cực tham gia nhập thế tốt đời đẹp đạo trên mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội - chính trị - văn hóa - giáo dục,… thể hiện truyền thống Phật giáo luôn đồng hành cùng dân tộc. Thời hiện đại, công tác giáo dục, giao lưu quốc Tế càng được đề cao trước yêu cầu mở cửa hội nhập. Ni sư Trí Hải đã là một trong những vị đi tiên phong, đóng gớp lớn lao trên lĩnh vực giáo dục cho nền Phật học nói riêng nước nhà nói chung, khẳng định tầm nhìn và trí tuệ của ni giới thời hiện đại.


TÀI LIỆU THAM KHẢO
 
  1. Gs Quốc Ánh (1960), Khám phá vũ trụ và đời người, Nhà in Lâm Viên.
  2. Thích Hạnh Bình (2010), Đức Phật và những vấn đề thời đại, Nxb Phương Đông.
  3. Nguyễn Duy Cần (1997), Tinh hoa Phật giáo, Nxb Tp.Hồ Chí Minh.
  4. HT. Minh Châu (1999), (dịch), Đại Thừa và sự liên hệ với Tiểu thừa, Nxb TP.Hồ Chí Minh.
  5. Thích Minh Châu (2002), Đạo đức Phật giáo, Nxb Tôn giáo, Hà Nội.
  6. Mạc Đường (1993), Vấn đề Phật giáo trong sự phát triển Việt Nam hiện đại, Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam.
  7. Minh Giác (2005), Đạo Phật & Khoa học, Nxb Tôn giáo.
  8. Thích Nhất Hạnh (2011) , Đạo Bụt nguyên chất, Nxb Phương Đông.
  9. Trần Quê Hương, Thích Lệ Trang (2010), Hương thiền ngàn năm (thơ văn Thiền Sư Lý-Trần), Nxb Tổng Hợp Tp Hồ Chí Minh.
  10. Nguyễn Lang (2000), Việt Nam Phật giáo sử luận (I, II, III) tái bản, Nxb Văn học, Hà Nội.
  11. Trần Hồng Liên (2010) Tìm hiểu chức năng xã hội của Phật giáo Việt Nam.Tp.HCM.
  12. Narada (2014), Đức Phật và Phật Pháp, Narada, Nxb Hồng Đức.
  13. TT.TS Thích Thanh Quyết, PGS.TS. Trịnh Khắc Mạnh (đồng chủ biên, 2018), Trúc Lâm Yên Tử Phật giáo tùng thư, Nxb KHXH.
  14. Nguyễn Tài Thư (1998), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
  15. Viện Trần Nhân Tông (2018), Phật giáo nhập thế và các vấn đề xã hội đương đại, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
 
 
[1]Th.S -NCS Viện Trần Nhân Tông, Đại học Quốc gia Hà Nội/ NCS Đại học Hồng Đức

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây