10 NGHĨ VỀ CÁC BẬC TIỀN HIỀN MỞ LỐI CHO NI GIỚI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA NI LƯU HẬU HỌC NGÀY NAY

Thứ sáu - 25/10/2019 21:26
NGHĨ VỀ CÁC BẬC TIỀN HIỀN MỞ LỐI CHO NI GIỚI
VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA NI LƯU HẬU HỌC NGÀY NAY

NT. THÍCH NỮ TỊNH NGHIÊM Phó Ban Trị sự, Trưởng Phân ban Ni giới tỉnh Tiền Giang

NGHĨ VỀ CÁC BẬC TIỀN HIỀN MỞ LỐI CHO NI GIỚI

VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA NI LƯU HẬU HỌC NGÀY NAY
 
NT. THÍCH NỮ TỊNH NGHIÊM
            Phó Ban Trị sự,
Trưởng Phân ban Ni giới tỉnh Tiền Giang
1. Dẫn nhập
Là chư Ni trong thời hiện đại, tôi cảm nhận thật vô vàn hạnh phúc khi được làm đệ tử Phật. Nếu như không có Phật ra đời, giờ này hàng nữ lưu chắc chắn đang chìm đắm trong biển mê sanh tử. Nhìn vào dòng đời, kiếp người quá ư là đau khổ, đã mang thân phải khổ vì thân, nào là sanh, già, bệnh, chết, cầu không được, yêu thương mà phải xa lìa, oan trái mà thường gặp, năm ấm luôn hừng thạnh,v.v…Lại nữa, cái khổ này chồng chất lên cái khổ khác, vạn pháp đều bị chi phối bởi vô thường, vọng thức sai sử không dừng làm cho chúng ta phải liên tục đón nhận bao nhiêu là những điều đau thương và khổ nhọc.
Càng thương hơn nữa là thân phận phụ nữ, cùng một kiếp người, nhưng người nữ lại chịu nhiều thiệt thòi và khổ đau hơn người nam, chỉ một khía cạnh thiên chức của nữ nhân là hoài thai, sanh con và nuôi con cũng thấy đủ nỗi nhọc nhằn, vất vả và đáng thương hơn tất cả. Gánh nặng này, người nữ phải cam chịu và không một ai chia sẻ được.
Hạnh phúc thay, do một duyên lành đã sâu trồng từ nhiều kiếp, chúng tôi được trùng phùng ngôi Tam Bảo, gặp được Chánh pháp của Như Lai, lại được xuất gia sống đời phạm hạnh trong Tăng đoàn của Phật. Nương vào trí tuệ của Phật để nhận thức rõ được dục lạc thế gian chỉ là ảo ảnh, đem đến cho chúng ta những hạnh phúc tạm bợ, mong manh như sương đầu ngọn cỏ, nhưng hậu quả sẽ mang lại cho con người những nỗi khổ niềm đau khốc liệt và dai dẳng đến vô lượng kiếp về sau.
Lặng lòng thầm nghĩ, ơn cha mẹ cho thân này đã là quá lớn, dù cho hai vai võng cha, cõng mẹ đi khắp châu Nam Diêm Phù Đề, cha mẹ có tiểu tiện trên vai đi nữa cũng khó mà đáp đền cho cân xứng, huống chi ơn Phật thì thật là vĩ đại vô cùng. Đức Từ Phụ đã khai thị cho chúng sanh đời là khổ, đâu là nguyên nhân dẫn đến khổ đau, dạy cho phương pháp để đoạn tận khổ đau và đạt đến hạnh phúc tối thượng.
2. Từ công hạnh Kiều Đàm Di Mẫu đến tấm gương của Ni sư Diệu Nhân
Mang thân phận người nữ và là phụ nữ Việt Nam, chúng tôi lại càng tri ân vô cùng đối với Thánh Tổ Ni Đại Ái Đạo - Người đã mở lối cho Ni giới bước vào khung trời tuệ giác và Ni sư Di Diệu Nhân - Vị Ni đầu tiên trên mảnh đất Việt, khơi nguồn cho dòng chảy Ni lưu Việt Nam đến tận bây giờ và mãi mãi về sau. Nghĩ về các Ngài, chúng con nhận thấy trong 20 điều khó của Kinh Tứ Thập Nhị Chương, Đức Phật dạy: “Giàu sang học Đạo là khó”. Vì sao? Vì phước lực khiến người giàu sang, quyền thế luôn hưởng thụ sung mãn về vật chất, hạnh phúc về tình yêu, mạnh mẽ về thể lực, thường đứng trên mọi người, chi phối, chỉ đạo và luôn nhận được sự ngưỡng mộ, lòng tôn kính và nễ phục từ phía dưới. Cho nên, cái tatrong họ luôn được đề cao, đối với sự khổ họ chưa từng kinh nghiệm, việc học đạo là diệt trừ bản ngã, là thay chúng sanh chịu các điều khổ. Vì thế, người giàu sang học đạo rất là khó. Một bậc mẫu nghi thiên hạ sống trong nhung lụa, quyền uy tột bậc, kẻ hầu người hạ, gót son chưa từng dính đất. Vậy mà, Hoàng hậu Maha Pajapati Gotami của vương thành Ca Tỳ La Vệ xứ Trung Ấn Độ lần đầu tiên nghe pháp thoại của Đức Phật khi Ngài về thăm Vua cha và Hoàng tộc đã dự vào dòng thánh, với cái thấy của một bậc Dự lưu, Hoàng hậu đã thức tỉnh trước dục lạc thù thắng của trần gian,cho nên 3 phen cầu thỉnh Đức Thế Tôn cho phép Người được xuất gia trong Giáo đoàn của Đức Phật,cả 3 lần đều bị Đức Phật từ chối. Bằng ý chí xuất trần dõng mãnh,Kiều Đàm Di Mẫuđã cùng với năm trăm Thích nữ tự xuống tóc, đắp cà sa, đi chân trần, băng rừng lội suối, vượt hơn 200 cây số để đến thành Tỳ  Xá Ly, đến nỗi đôi chân sưng vù rướm máu, thân hình tiều tụy lấm lem. Nhờ Tôn giả Ananda tha thiết cầu xin, Đức Thế Tôn mới bằng lòng cho nữ giới được xuất gia với điều kiện bắt buộc phải thọ trì Bát kỉnh pháp đến trọn đời. Di Mẫu đã sung sướng đảnh thọ như một ân huệ mà Đức Thế Tôn dành ban riêng cho Ni giới. Sau khi xuất gia, Đức Phật trao cho Tỳ Kheo Ni Đại Ái Đạo lãnh đạo Ni đoàn và trở thành vị Tổ của Ni lưu. Từ đây, Ni trưởng Gotami đã mở ra những trang sử vàng son đầy liệt oanh cho Ni giới.Ở tuổi 80, một bài pháp thoại qua tai, nỗ lực công phu hành trì miên mật, Tôn giả Đại Ái Đạo đã đạt Thánh quả A La Hán. Sáu ngàn Tỳ Kheo Ni dưới sự lãnh đạo kiệt xuất của Thánh Tổ cũng đều chứng quả A la Hán sau đó. Sự hiện hữu của Ni đoàn đã mang lại một luồng sinh khí mát dịu, nhẹ nhàng cho người nữ đáng thương nói riêng và xã hội nặng nề về giai cấp ở Ấn Độ thời đó nói chung. Gần gũi, thân thương, đáng tôn, đáng kính làm sao một Trưởng lão Ni 120 tuổi mẫn tiệp, rắn rõi và bản lĩnh đã có một bài kệ tự trào làm nao lòng biết bao trái tim của chư Ni từ ấy đến nay:
“Dốc đứng ngạo đường lên
Ta bèn men triền núi
Gậy chống đỡ chân run
Mặc chiếc thân già khọm
Mây khói nhòa trăm tuổi
Thần chết trốn đâu rồi
Lũ ma cũng chê mồi
Đành sống dai hết biết”
Đến khi hay tin Đức Thế Tôn sắp nhập diệt, Thánh Tổ cầu xin Đấng Thiện Thệ cho phép Người vào Niết bàn vì không nỡ nhìn Như Lai đi vào cõi vô sanh bất tử. Sau khi thi triển thần lực, Thánh Tổ an nhiên tự tại trở về với pháp thân thường trú. Cao cả thay! Vĩ đại thay! Thánh Tổ Ni Đại Ái Đạo, sự thoát tục vi Tăng của Người đã cứu nữ nhân thoát khỏi thân phận thấp hèn, sự tự tại giữa hai bờ sanh tử của Người đã làm rúng động nhân thiên, khiến cho tất cả đều nhận thức rằng Phật tánh tương đồng, chẳng có nam tôn nữ tiện.
Nếu như xứ Ấn có Hoàng hậu Gotami - Người nữ đầu tiên của nhân loại xuất gia trở thành Thánh Tổ, khai sáng Ni đoàn thì ở Việt Nam thế kỷ 11 có Ni sư Diệu Nhân (1041 - 1113) - Vị Ni đầu tiên của đất Việt, tiếp bước Tiền nhân khơi nguồn cho dòng chảy Ni lưu bất tận.
Diệu Nhân Ni sư xuất thân từ hoàng gia, là công chúa Lý Ngọc Kều con của Phụng Càn Vương, tức là cháu nội của vua Lý Thái Tông, được bác là vua Lý Thánh Tông rất mực thương yêu, nuôi dưỡng trong cung từ nhỏ. Lớn lên xinh đẹp tuyệt trần, thiên tư thuần hậu, ngôn hạnh đoan trang, cư xử đúng mực, được vua gả cho Châu mục họ Lê ở Chân Đăng là con cháu của vua Lê Đại Hành. Qua cái chết của phu quân, bà ý thức lẽ vô thường và cảm khái đời sống phạm hạnh thanh bần, tự nguyện thủ tiết và xuất gia với Thiền sư Chân Không, tu học tại Ni viện Hương Hải. Vốn người thông minh, bản chất thường thích lặng lẽ, tránh thanh sắc ồn ào, lại tinh tấn cần tu, say mê thiền định nên không bao lâu Diệu Nhân Ni sư đã liễungộ triết lý Tánh không cùng tư tưởng Vô trụ của kinh văn hệ Bát nhã. Ni sư đã đắc pháp với Thiền sư Chân Không và được truyền thừa làm Tổ thứ 17 của dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Đức hạnh, kiến giải và tâm nguyện lợi tha của Ni sư Diệu Nhân luôn rạng ngời và tỏa sáng trong lòng người dân đất Việt, sức ảnh hưởng của Ni sư trải dài đến đời vua Lý Nhân Tông vẫn còn mạnh mẽ đã khiến vua phải truy phong chức “Ni sư” cho Người.
3. Tiếp bước tiền nhân
Nghĩ về công ơn to lớn và sự hy sinh vĩ đại của Đức Thánh Tổ, của Ni sư Diệu Nhân và các bậc Tiền bối Ni đã dày công mở lối. Tiếp bước tiền nhân, đội ngũ Ni giới chúng ta trong thời hiện tại phải noi theo công hạnh của Quý Ngài nỗ lực tinh tu, giữ gìn phạm hạnh, trao dồi Giới, Định, Tuệ, cần mẫn phụng sự Tam bảo, siêng năng thừa hành Phật sự, không ngại gian lao, không nề khó nhọc, tự độ, độ tha không biết mệt mõi, luôn làm gương sáng cho Ni chúng. Trách nhiệm của chúng ta là những người mồi đèn từ các Ngài và thắp sáng để cho thế hệ Ni lưu kế thừa tiếp đuốc. Mạng mạch Phật pháp được truyền lưu, dòng giống Kiều Đàm được muôn thuở chính là từng lớp người kế tục nhận thức được bổn phận của người xuất gia đệ tử Phật, là con cháu của Đức Thánh Tổ thì phải rửa lòng nuôi đức, tỏa sáng thiền tâm, giác ngộ, giải thoát, vừa hoàn thiện tự thân và phải chịu thương chịu khó, phát tâm Bồ Đề tiếp độ Ni lưu, vì thân phận nữ nhi vốn dĩ yếu đuối, nhẹ dạ và đa mang nghiệp chướng.
Làm bậc Thầy Ni, ngoài việc giáo dưỡng Ni chúng đầy đủ hai pháp nhiếp thủ:“Nuôi thân vật chất, giáo huấn tinh thần”, chúng ta còn phải dõi theo từng tâm niệm của đệ tử, khéo léo dìu dẫn chúng Ni bước từng bước vững chắc trên nấc thang đạo nghiệp, vì lẽ xã hội nhiều cạm bẫy, trần gian đầy sự cám dỗ.Làm sao cho chư Ni hậu học ý thức được lý tưởng mình chọn là đúng, không có con đường thứ hai để thoát khỏi khổ đau, chấm dứt sanh tử. Những sự kiện lịch sử trọng đại và thiêng liêng đối với Niđoàn, như sự từ bỏ vĩ đại của Hoàng hậu Ma Ha Ba Xà Ba Đề để xuất trần trở thành Đức Thánh Tổ bên Ni giới, những tấm gương hoằng hóa tuyệt vời của 6000 Tỳ kheo Ni thời Phật còn tại thế, đức hy sinh cao cả của Diệu Nhân Ni sư, của các bậc Trưởng Lão Danh Ni trong những thời kỳ chấn hưng Phật giáo, thành lập Ni bộ, hay những giai đoạn đất nước điêu linh, chiến tranh đau thương, khắp nẻo cùng quê chịu bom đạn tàn phá mà các Ngài vẫn duy trì được nếp đạo, giữ gìn lại mái chùa để cho Phật pháp được tồn tại vàphát triển đến ngày nay,phải được tổ chức trọng thể Lễ Tưởng niệm hay Hội thảo chuyên đề về các Ngài nhằm ôn lại những hành trạng cao đẹp của Chư Tiền bối hầu gợi nhắc chúng Ni noi theo để học tập. Đây là cơ hội để Ni chúng hậu học được lắng nghe những công hạnh trác tuyệt của Thánh Tổ, của các bậc Tiền hiền hầu định hướng mục tiêu, lý tưởng, chí nguyện xuất gia của mình.Ngoài ra, Ban Trị Sự các tỉnh, thành đều tổ chức các khóa An cư kiết hạ cho Tăng Ni, đây là luật Phật chế định cho chư Tỳ khưu, Tỳ khưu Ni.Là bậc Thầy Ni, chúng ta nên nghiêm túc cho đệ tử tùng chúng cấm túc trong ba tháng, nếu như tại trú xứ số chúng thọ cụ túc trên 20 vị, chúng ta cũng có thể xin phép mở điểm an cư tại chỗ. Chính trong 3 tháng dừng bước du hóa, chư Ni có dịp ngồi lại với nhau, người đi trước nhắc nhỡ, sách tấn người đi sau, huynh đệ cùng ôn tầm bối diệp, tinh sưu nghĩa lý, trao dồi Giới, Định, Tuệ, chia sẻ cho nhau những kinh nghiệm trong tu học hay trên bước đường phụng hành Phật sự, hóa độ chúng sanh.Chuỗi ngày an Hạ ngắn ngủi là thời gian vàng ngọc quý báu để chư Ni phản vọng qui chơn, nhận diện vị Phật trong ta, để 9 tháng còn lại, thường nhựt trong cuộc sống, người thì ở chùa lo việc công phu công quả, bái sám tụng niệm, bậc thì du hóa hành đạo lợi lạc quần sanh, kẻ thì tham dự các chương trình Phật học, ngoại điển nhằm nâng cao tri thức, v.v… tất cả đều nhờ nội lực huân tu, nhất là 90 ngày yên ở trong cương giới, toàn tâm toàn ý cho sự chánh niệm tỉnh giác mới có thể không bị mất đi bản vị giải thoát trong việc dấn thân nhập thế.
Nên chăng, Phân Ban Ni Giới các tỉnh, thành xin phép chư Tôn Đức Giáo phẩm lãnh Đạo Giáo hội các cấp, PBNG/TƯmở các khóa tu ngắn ngày (tuần lễ hay 10 ngày) dành riêng cho Ni trẻ, chuyên đề: “Giới - Định - Tuệ”, “Sống tỉnh thức”, “Tri ân và tiếp bước”, v.v…, mở các lớp Luật dành cho chư Ni để trang bị những kiến thức về Luật học mà một người xuất gia đệ tử Phật muốn cho Phật pháp được tồn tại trên nhân gian thì không thể thiếu được. Khuyến khích, động viên chư Ni trụ trì các tự viện nên tham dự các khóa Bồi dưỡng Trụ trì để được lắng nghe những kinh nghiệm tu học và hành đạo quý báu từ các Bậc Tôn Túc lãnh đạo Giáo hội, của Quý Hòa Thượng Trưởng lão đạo cao đức trọng, bi trí song toàn, . . .  để chúng ta noi theo làm hành trang trên bước đường tự độ, độ tha.
Trong thời đại cách mạng công nghệ 4.0 như hiện nay, thời kỳ đất nước ta mở cửa, hội nhập, văn minh khoa học hiện đại được tiếp nhận, bên cạnh đó những luồng tư tưởng, văn hóa đồi trụy, những trang mạng không lành mạnh, kém đạo đức cũng ảnh hưởng sâu xa vào tâm não của đa số quần chúng nhân dân, trong đó người xuất gia cũng bị chi phối ít nhiều. Vì thế, việc xuất gia học đạo của Ni trẻ hiện nay rất nhiều thử thách cả bên ngoài lẫn nội tâm, ngoài việc trang bị tri thức để bắt kịp nhịp quay của thời đại, Ni trẻ phải giữ gìn giới luật tinh nghiêm, trao giồi phạm hạnh, nỗ lực rèn luyện nội tâm vững vàng, phấn đấu vượt qua những dục lạc của trần gian, tinh tấn thực hành lời Phật dạy, luôn ý thức thân này chỉ trong hơi thở, thế gian là vô thường, cuộc đời là huyễn mộng, con người còn nhiều khổ đau, nhân gian còn lắm những mảnh đời bất hạnh, người thân chúng ta và chúng sanh muôn loài đang rất cần và rất mong những người đệ tử Phật có trái tim yêu thương và trí tuệ hiểu biết để chia sẻ, để chỉ dẫn cho họ con đường thoát khổ, đưa họ đến chân trời hạnh phúc an vui lâu dài và chân thật. Nhiệm vụ đó phải chăng Đức Từ Phụ của chúng ta đã ký thác cho hàng đệ tử xuất gia, mà chúng talà con gái của Ngài thì chúng ta phải suy nghiệm điều ấy. Nhất là thế hệ Ni trẻ, những chồi non của Phật pháp, tre đã tàn, măng phải mọc thật mạnh mẽ. Quý Ni Trưởng niên đã cao, sức đã yếu, Ni trẻ cần phải cố gắng nhiều hơn. Hãy luôn nghĩ nhớ hình ảnh một Bà Hoàng hậu tuổi ở 80 và 500 Quận chúa của xứ Ấn Độ, một công chúa Ngọc Kiều ở Việt Nam ý thức được lẽ vô thường, đã giã từ cung son, chối bỏ cuộc sống nhung lụa đài cát, đầu trần chân đất, vượt suối băng đèo chỉ để cầu đạo giải thoát thì chúng ta phải thường tâm niệm ta là ai, chỉ là một thường dân, tay làm hàm nhai mới có cuộc sống, thế mà xuất gia vào chùa lại chạy theo danh lợi ảo huyền, không nghĩ đến việc sanh tử sự đại, vô thường tấn tốc. Chính đức hy sinh và lòng dũng cảm của Đức Thánh Tổ và của các bậc Thầy Ni cao cả, chính những đôi chân rướm máu của Quý Ngài đã bước trên chông gai để xây đắp cho chúng ta đạo lộ giác ngộ giải thoát thênh thang và đầy hoa thơm cỏ lạ, là chư Ni, mỗi chúng ta cần nên tư duy điều ấy.
Xã hội ngày nay đã tạo điều kiện cho nữ giới gia nhập trên nhiều lĩnh vực hoạt động và có không ít vị nổi tiếng trên nhiều phương diện khác nhau.
Riêng trong Giáo hội Phật giáo, chư Tôn Túc Giáo phẩm lãnh đạo đã giành nhiều sự ưu ái và tạo nhiều điều kiện thuận lợi để Ni giới được phát huy tiềm năng của mình,chư Ni được tham gia vào các ngành viện Trung ương, các ban ngành của Ban Trị Sự các tỉnh thành. Đặc biệt năm 2009, Hội Đồng Trị Sự Trung Ương GHPGVN đã cho phép bên Ni được thành lập Phân Ban Đặc Trách Ni Giới hỗ trợ cho Đại Tăng trong việc quản lý và điều hành chư Ni. Nhất là đối với thế hệ Ni trẻ, Chư Tôn Đức lãnh đạođã tạocơ hội cho chư Ni đem sở học sở hành để làm tốt đời đẹp đạo. Hiện nay, Ni giới đã được đứng lớp giảng dạy tại các Trường Cao Trung Phật học, Học viện Việt Nam cho cả Tăng sinhvà Ni sinh. Điều này, chư Ni chúng ta phải luôn thận trọng và tuyệt đối tuân thủ Bát kỉnh Pháp như ngày xưa Thánh Tổ của chúng ta đã cung kính tiếp nhận từ Đức Thế Tôn và trân trọng như một đặc ân lớn lao mà Đức Phật đã thương xót ban cho Ni giới, luônthấy được trách nhiệm của mình là cần phải nỗ lực không ngừng trong việc tu dưỡng nội tâm để cùng với chư Tôn Đức Tăng góp phần gánh vác mọi công tác Phật sự của Giáo hội cũng như công tác an sinh xã hội hiện nay. Có như vậy chư Ni chúng ta mới không phụ ân đứcPhật, sự quan tâm hộ niệm của chư Tôn Giáo phẩm lãnh đạo Giáo hội, sự kỳ vọng của Đức Thánh Tổ và chư vị Tiền bối Ni cùng vị Ân sư khả kính của mình.
4. Lời kết
Trước tấm gương tỏa sáng ngàn đời của Thánh Tổ, đức hy sinh cao cả của Diệu Nhân Ni sư và chư vị Trưởng lão Ni tiền bối, chúng taquyết tâm nỗ lực tu tập,gìn giữ giới hạnh trang nghiêm, noi gương các Ngài, nguyện sẽ đem hết thân tâm phụng sự cho Đạo pháp, lợi lạc cho nhân sanh. Xin nguyện mỗi chư Ni sẽ là một viên gạch nhỏ rắn chắc trong tòa nhà Phật pháp, là một đóa hoa nhuận sắc ngát hương trong vườn hoa tuệ giác của Đức Phật, là một bậc Thầy Ni mô phạm cho chúng sanh nói chung, cho ni giới nói riêng để xứng đáng là con gái Đức Phật, là hậu duệ của Đức Thánh Tổ.
          Hôm nay, giữa lòng thủ đô Hà Nội - chiếc nôi của Phật giáo, trong không gian trầm ấm và thiêng liêng của buổi Hội thảo khoa học: “Nữ Phật tử với Phật giáo Việt Nam và Lễ Tưởng niệm 906 năm ngày Ni sư Diệu Nhân và Chư vị Tiền bối Ni viên tịch”, chúng con thành tâm cầu nguyện chư Tôn Thiền Đức Giáo phẩm Tăng già nhị bộ pháp thể khương an, đạo thọ miên trường, thành tựu mọi Phật sự.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây