09 SINH HOẠT PHẬT GIÁO CỦA NỮ PHẬT TỬ KHMER Ở TÂY NAM BỘ

Thứ sáu - 25/10/2019 21:23
SINH HOẠT PHẬT GIÁO CỦA NỮ PHẬT TỬ KHMER Ở TÂY NAM BỘ
PGS.TS. TRẦN HỒNG LIÊN
 

SINH HOẠT PHẬT GIÁO CỦA NỮ PHẬT TỬ KHMER Ở TÂY NAM BỘ

PGS.TS. TRẦN HỒNG LIÊN
                                                                                       

1. Mở đầu
Phật giáo ở Việt Nam gồm 3 hệ phái: Bắc tông, Nam Tông và Khất sĩ. Trong hệ phái Nam tôngViệt Nam có hai nhóm:của người Việt, gọi là Phật giáo Nam tông (PGNT) Kinh và của người Khmer, gọi là Phật giáo Nam tông Khmer.
Phật giáo Nam tông Khmer là tôn giáo chủ đạo trong cộng đồng tộc người Khmer ở Tây Nam bộ. Cả nước có 1.260.640 người Khmer[1], và 452 ngôi chùa Khmer trên toàn quốc. Tại Tây Nam bộ, người Khmer sống chủ yếu ở 23 huyện thuộc 8 tỉnh gồm Sóc Trăng, An Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, TP.Cần Thơ, Kiên Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long. Đông nhất là tỉnh Sóc Trăng chiếm 28,78% trong tổng dân số Khmer. Ngoài ra, người Khmer cũng sinh sống ở Đông Nam bộ, với khoảng 16.000 người, tập trung đông nhất tại tỉnh Tây Ninh.
Bài viết tìm hiểu sinh hoạt Phật giáo của nữ Phật tử Khmer tại Tây Nam bộ, trường hợp tại huyện Châu Thành, Trà Vinh, là tỉnh tập trung đông người Khmer cả nước. Cuộc khảo sát được tiến hành gần đây nhất trong 2 năm 2018 và 2019. Trước nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong ngôi chùa PGNT không có Tỳ Kheo Ni. Các nữ Phật tử chỉ đến chùa sinh hoạt rồi về. Việc tìm hiểu này sẽ giúp chỉ ra những đặc thù trong sinh hoạt Phật giáo của người Khmer nói chung, đồng thời cũng cho thấy, dưới góc độ khảo sát về giới, nữ Phật tử Khmer đã có những hoạt động tu thiếp khá khác biệt so với các tu nữ trong PGNT Kinh, về hình thức sinh hoạt, phương cách thọ trì giới luật, cũng như trong cách sống tập trung tại chùa Khmer (Phật giáo Nam tông Khmer) so với tại thiền viện (Phật giáo Nam tông Kinh).
  1. Khái quát về Phật giáo Nam tông Khmer tỉnhTrà Vinh
Trà Vinh là tỉnh ven biển thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long, nằm về phía hạ lưu giữa sông Tiền và sông Hậu, giáp với biển Đông, gồm các huyện Châu Thành, Cầu Ngang, Càng Long, Duyên Hải, Tiểu Cần, Cầu Kè, Trà Cú và  thành phố Trà Vinh. Tỉnh Trà Vinh  có 141 ngôi  chùa Khmer, với 3.266 sư sãi và 305.000 Phật tử. Trong số dân toàn tỉnh là 1.012.648 người,  đã có 320.292 người Khmer (chiếm tỷ lệ 31,63%)[2];  các tộc người khác như Hoa, Chăm, Dao…có tổng số là 8.237 người (chiếm tỷ lệ 0,81%). Như vậy, người Khmer chiếm tỷ lệ dân số cao nhất trong số các tộc người thiểu số ở Trà Vinh.
Phật giáo Nam tông có mặt trong tộc người Khmer Trà Vinh khá sớm.Chùa Som- Bua- Răng- Sây, xã  Hòa Ân, huyện Cầu Kè được xem là ngôi chùa Khmer đầu tiên của PGNT ở Trà Vinh, được xây dựng vào năm 373 sau CN; Chùa Trô -Pang -Veng, xã Nhị Trường, huyện Cầu Ngang, Trà Vinh, được xây dựng từ thế kỷ IV.
Xã Hòa Thuận thuộc huyện Châu Thành có 2 ngôi chùa Khmer: chùa Chum Prasat, còn gọi chùa Giữa hay chùa Đa Cần; và chùa Kỳ La, còn gọi là chùa Kôki. Xã Hòa Lợi cũng có 2 ngôi chùa Khmer nổi tiếng: chùa Ô và chùa Quy Nông.     
Nghi thức thờ tự của PGNT Khmer đơn giản, chỉ thờ duy nhất Phật Thích Ca, trong khi Phật giáo Bắc tông thờ cả Phật, bồ tát, và các thần, thánh. Tuy nhiên, có khác với PGNT Kinh ở chổ cùng thờ Phật Thích Ca, nhưng PGNT Khmer lại đặt thờ trên chính điện khá nhiều tượng, có chùa đặt hàng trăm pho tượng, như ở chùa Samrong Ek (Trà Vinh), hay chùa Khleang (Sóc Trăng).. trong khi PGNT Kinh chỉ đặt thờ vài pho tượng Phật Thích Ca trên chính điện và không sử dụng nhiều pháp khí.
Về việc thọ giới cho Tăng sĩ và nam nữ Phật tử, như đã biết, hiện nay đối với một Tăng sĩ, tỳ kheo xuất gia phải thọ 227 giớiluật; còn đối với người nữ thì không có nữ xuất gia, chỉ có nam nữ Phật tử, thọ 5 giới (Không trộm cắp; không sát sinh; không tà dâm; không nói dối và không uống rượu và dùng các chất say). Chỉ những người tham gia tu thiền, thực hành Thiền Minh Sát (Vipassana), gọi là tu thiếp, mới thọ 8 giới[3].
Từ thời Đức Phật còn tại thế, Đức thánh mẫu Kiều Đàm Di (Mahapajapati  Gotami) và 500 người nữ trong hoàng tộc đã chấp nhận giới pháp của Đức Phật chế định, đó là xuất gia, thọ tỳ kheo ni và tuân thủ Bát Kỉnh pháp[4]. Ni đoàn này tồn tại đến năm 1017 sau Tây lịch. “Chứng tích cuối cùng về sự tồn tại của Hội chúng ni Nguyên Thủy trong một đất nước theo truyền thống Phật giáo Theravàda được ghi nhận ở Sri Lanka là vào thế kỷ 11”[5]. Lý do đứt quãng là do đất nước Sri Lanka bị Bồ Đào Nha và Hà Lan với chính sách xóa bỏ Phật giáo. Phật giáo Myanmar đến để phục hồi lại Tăng đoàn, nhưng ni đoàn thì không. Nguyên nhân ni đoàn chưa được phục hồi là do quy định về việc truyền và thọ giới rất nghiêm ngặt.. Như vậy, vào thời điểm ấy không khôi phục lại ni đoàn là do quý ngài làm đúng theo tinh thần giới luật của PGNT. Tuy nhiên, hiện nay chúng ta vẫn thấy có các vị tỳ kheo ni ở một số  nước (Sri lanka, Myanmar..).
3. Nữ Phật tử Khmer với sinh hoạt Phật giáo
Tìm hiểu sinh họat Phật giáo của nữ Phật tử Khmer tại Tây Nam bộ, chúng tôi tập trung điền dã tại các hộ gia đình thuộc xã Hòa Lợi (tháng 8 năm 2018); ấp Đa Cần, ấp Bích Trì và ấp Vĩnh Bảo, đều thuộc xã Hòa Thuận (tháng 3 năm 2019). Đồng thời, chúng tôi cũng tiến hành khảo sát tại chùa Ô (xã Hòa Lợi), chùa Kỳ La (xã Hòa Thuận) và chùa Giữa (xã Hòa Thuận), cả 3 đều thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
Qua các cuộc phỏng vấn nữ Phật tử trong nhiều hộ gia đình Khmer cho biết “ Mỗi tháng tôi đi chùa 4 lần vào các ngày mồng 1, mồng 8, rằm và 23”.[6] Việc đến chùa 4 lần trong tháng, mục đích chính là dâng cơm cho sư ăn, ngoài ra, có Phật tử ở lại nghe pháp, có người ra về vì bận việc gia đình. Một nam Phật tử Khmer bộc bạch rằng; “Năm năm trước đây, hai vợ chồng tôi thọ 5 giới, chưa có pháp danh. Tôi thọ trước, vợ tôi thọ sau. Vợ tôi đi chùa Giữa, tháng 4 lần, chỉ dâng cơm, không ở lại nghe thuyết pháp, chỉ có bà già nghe”[7]
Trong ngôi chùa Khmer, theo phong tục, hầu hết hoạt động của Phật tử tập trung thường xuyên được quy định vào 4 ngày âm lịch  trong tháng: mồng1, 8, 15, 23. Tất nhiên, vào những ngày khác trong tháng, Phật tử cũng có thể đến chùa lạy Phật.Vào 4 ngày này, Phật tử đến chùa, dâng cơm cho sư, ở tại chùa tu tập, cuối ngày trở về nhà.
Có thể nhận diện 2 trường hợp cụ thể sau:
- Nam nữ Phật tử đến chùa vào 4 ngày này, sau khi lễ Phật, dâng cơm, nghe thuyết pháp, rồi trở về nhà.
- Nam nữ Phật tử đến chùa tu thiếp, tiếng Khmer gọi là Som Nặk Tho, tiếng Pali gọi là Samathih, thời gian tu có thể trên 1 tháng, ở hẳn tại chùa, trong từng thum (Tuột) để thực hành Thiền Minh Sát Tuệ (Vipassana). Thời gian tu thiếp này, nữ Phật tử có thể xuống tóc.
Cả hai hình thức sinh hoạt nêu trên đã điễn ra trong ngôi chùa Khmer hàng trăm năm qua, tuy nhiên hình thức sinh hoạt tu thiếp hiện nay đã dần  giảm bớt, từ việc tổ chức tu thiếp đến số người tham dự, do nhiều nguyên nhân khác nhau, có chùa đã không còn duy trì được hình thức tu thiền này, như chùa Quy Nông, là ngôi chùa cổ nhất của huyện Châu Thành. Lý do quan trọng nhất chính là từ việc thiếu vắng vị sư cả (Lục Kru) và nhất là vị Achar, người chăm lo việc thuyết pháp giảng kinh cho Phật tử, vì số sư sãi vào chùa tu ngày càng ít đi.
Trong  cuộc phỏng vấn nữ Phật tử tại một hộ gia đình, chị cho biết: “Mỗi tháng tôi đến chùa 4 lần, chủ yếu là dâng cơm cho sư. Do bận mua bán nên tôi chưa đi tu thiếp”[8].
Gần đây, khi việc khất thực của các sư tại nhiều nơi đã dần bị bãi bỏ, có chùa Khmer đã bãi bỏ hẳn hạnh “trì bình khất thực” này. Mọi việc ăn uống trong tháng được phân công theo từng Wêl, đơn vị phân chia theo một số hộ gia đình, phụ trách dâng cơm cho sư, trừ các ngày mồng 1, mồng 8, rằm và 23, Phật tử phải mang cơm đến chùa. Như vậy, hiện nay, cũng xuất phát từ thực trạng trên, vào 4 ngày này, nữ Phật tử Khmer của 4 đến 5 hộ gia đình phải đến chùa, không phải để dâng cơm, lễ lạy Phật, mà là để nấu cơm ngay trong chùa. Vì vậy, nữ Phật tử Khmer không còn thời gian để có thể sinh hoạt Phật pháp đầy đủ được.
Về việc tu thiếp, thời điểm chúng tôi khảo sát tại chùa Ô (tháng 8/2018) có 38 nữ Phật tử  và 02 nam Phật tử tu thiếp. Nữ Phật tử tiếng Khmer gọi là Ubasika, nam Phật tử được gọi là Ubasok. Tu nữ, tiếng Pali là Siladhara hay Silavati, có nghĩa người giữ 8 hay 10 giới luật. Một khái niệm khác là Silacarini để chỉ cho các tu nữ sống và thực hành giới luật trọn đời.Về giới pháp thọ nhận của tu nữ trong Luật tạng không quy định cụ thể, thọ nhận 8 giới hay 10 giới hiện nay là do nhu cầu người nữ muốn xuất gia, muốn sống trong thiền viện trọn đời, nên hình thành cộng đồng tu nữ. Việc sống suốt đời trong cộng đồng chỉ có ở Phật giáo Nam tông Kinh. Trong Phật giáo Nam tông Khmer không có cộng đồng tu nữ sống tại chùa trọn đời.
Một nam Phật tử thuộc xã Đa Cần có nhận xét: “phụ nữ trong vùng này đi tu thiếp nhiều! Họ ở một tuần hoặc nửa tháng trong chùa.”[9]
3.1 Thành phần, giới tính, tuổi tác của người tu thiếp
Việc tu thiếp được tiến hành cho Phật tử Khmer từ nhiều năm trước đây. Tại huyện Châu Thành, ngôi chùa cổ Quy Nông đã diễn ra việc thực hành tu thiếp này nhiều năm liền, tuy nhiên, do sau này chùa thiếu vị Achar hướng dẫn tu học và truyền giới, nên đã không còn thực hành sinh họat này nữa. Việc tu thiếp chuyển sang tập trung tại chùa Ô. Tháng 8 năm 2018, tại chùa Ô, qua khảo sát của chúng tôi, có  tất cả 40 người đi tu thiếp, trong đó 38 người là nữ Phật tử và 02 người là nam Phật tử. Như vậy, qua sự kiện tại chùa Ô cho thấy người nữ Phật tử Khmer thực hành tu thiếp đông hơn nam giới, chiếm 95% số người tham dự. Trong số 04 nữ Phật tử được chúng tôi chọn ngẫu nhiên để phỏng vấn, tất cả đều trên 70 tuổi (02 người 71 tuổi; 01 người 73 tuổi; 01 người 80 tuổi), người cao tuổi nhất là bà Tăng thị Th. 80 tuổi, có thời gian thực hành tu thiếp đã 22 năm. Riêng đối với 02 nam Phật tử tu thiếp, một người đã 89 tuổi, tu thiếp được 29 năm và người kia đã được 85 tuổi, tu thiếp đã 24 năm. Tại chùa Giữa, những người tu thiếp trẻ tuổi, được sư Cả chấp thuận cho không xuống tóc.
BẢNG SỐ LIỆU VỀ TUỔI VÀ THỜI GIAN ĐÃ TU THIẾP
CỦA NỮ PHẬT TỬ  ĐƯỢC PHỎNG VẤN TẠI CHÙA Ô
(H.CHÂU THÀNH, TRÀ VINH)
STT TÊN TUỔI THỜI GIAN TU THIẾP
01 Thạch thị S. 73 02 năm
02 Sơn thị V. 71 6 năm
03 Tăng thị L. 71 10 năm
04 Tăng thị Th. 80 22 năm
Nguồn: Tác giả lập tháng 8/2018
Hàng năm, một số chùa Khmer trong Huyện Châu Thành đều có tổ chức tu thiếp, tuy nhiên không phải nữ Phật tử nào cũng đều đặn tham gia. Một nữ Phật tử bộc bạch rằng:“ Mỗi tháng tôi đi chùa 4 lần vào mồng 1, mồng 8, rằm và 23. Năm 2000,  tôi được 57 tuổi, tôi đi tu thiếp 1 tháng rồi thôi luôn. Năm đó đi tu thiếp được 25 người. Tôi đi đọc kinh tại chùa Giữa, nhưng đi thiếp tại chùa Ô, vì chùa Giữa không tổ chức đi thiếp. Con tôi đem cơm từ nhà tới cho tôi ăn. Có phòng riêng cho phụ nữ. Mỗi người 1 phòng.”[10]
Vào tháng 8 năm 2018, tại chùa Giữa có 70 người đi tu thiếp, trong đó có 50 nam  và 20 nữ. Như vậy, tại chùa Giữa, số đi tu thiếp là nam đông hơn nữ. Nữ chỉ chiếm tỷ lệ 28,5%.
3.2 Trang phục tu Thiếp của nữ Phật tử Khmer.
Nếu như vào 4 ngày quy định, người Phật tử Khmer (đã thọ 5 giới), cả nam và nữ đến chùa lễ Phật, dâng cơm cho sư, có thể mặc nhiều loại trang phục khác nhau, thì trong việc thực hành tu thiếp, người nữ Phật tử phải mặc trang phục đã được quy định: áo bà ba trắng, quần đen, quấn khăn dài trắng, hoặc khăn rằn. Nhìn vào đồng phục này, mọi người đi lễ chùa phân biệt được đây là những người đi tu thiếp.
3.3 Quy trình tu thiếp của nữ Phật tử Khmer
Tại chùa Ô, lịch sinh họat của người đi tu thiếp được quy định rõ như sau: trong 4 ngày đi lễ chùa (mồng 8, 15, 23, 30 âm lịch) thì ngày 15 và 30 là ngày đến nghe giảng pháp; mồng 8 và 23 là ngày truyền giới. Việc truyền giới do vị trụ trì chùa thực hiện, tiếng Khmer gọi vị này là Luk Krou, hay Sư Cả.
Vào ngày mồng 8 và 23, nữ Phật tử Khmer với trang phục áo trắng quần đen, khăn trắng, tề chỉnh lên chính điện tham dự lễ truyền giới. Trong lễ này, sư Cả sẽ truyềntam quy (quy y Phật, quy y Pháp và quy y Tăng) và bát quan trai giới, tức là 8 giới cho người thọ giới.
Buổi sáng, vào lúc 5 giờ nữ Phật tử lên chính điện lạy Phật. Đến 5 giờ 30, Sư Cả truyền 8 giới cho các Phật tử, thời gian kéo dài trong nửa giờ. Ở Campuchia, có tu thiếp thọ 10 giới, nhưng ở Trà Vinh không có. Trước đây, việc thọ 10 giới trong chùa Khmer chỉ có nam Phật tử, từ khi thực hành tu thiếp, thọ 8 giới, các Phật tử này nếu có hoài bảo tu tiếp sẽ thọ 10 giới, trở thành sadi, sống tu hẳn trong chùa.
Lúc 6 giờ sáng, Phật tử bắt đầu dâng cơm cho các sư.
Buổi chiều, từ 14 giờ đến 15 giờ, có một nữ tu thiếp dạy đạo cho Phật tử. Tại chùa Ô, việc dạy đạo diễn ra tại lớp học trong trường chùa, do nữ tu thiếp  Sơn thị Vui phụ trách. Từ 16 giờ 30 đến 17 giờ 30, các nam nữ tu thiếp niệm Phật tại giảng đường.Vào những ngày thọ giới này, Phật tử không ăn cơm chiều.
Để thọ giới, nam nữ tu thiếp phải sắm 1 khay lễ. Khi đi lễ, mỗi tu thiếp (cả nam và nữ) đều phải mang theo khay lễ hình vuông, bằng gỗ, trong khay đựng 6 lá trầu, trong đó 5 lá được cuốn lại, đặt vào nửa cái mũng dừa, tượng trưng cho sọ của người tu thiếp; còn 1 lá dùng lót để đặt thuốc và cau. Trong mỗi lá trầu đều có têm vôi đỏ, cuốn lại. Lại có 5 bông vạn thọ cắm lên 5 lá trầu. Hai điếu thuốc hút cắm hai bên khay, tượng trưng cho đôi vai người tu thiếp. Ngoài ra, trong khay gỗ còn có 2 hộp thuốc rê và 5 miếng cau; 1 cây đèn cầy tượng trưng cho trí tuệ; 3 cây nhang, tượng trưng cho gân cốt trong người; 1 chai nước dùng xịt xuống đất; 1 cuốn sách đi thiếp viết bằng tiếng Khmer.
Khi niệm Phật tại chính điện, người tu thiếp đặt khay lễ trước mặt mình, đốt nhang và đèn cầy. Khi mang về nhà, cũng đặt khay trước bàn thờ Phật để lễ lạy 2 lần vào buổi sáng và tối. Một tuần thay trầu cau một lần.
Việc tu thiếp dài ngày, thường là 01 tuần, 01 tháng hoặc 01 tháng rưởi, vào tháng 10 âm lịch. Thời gian này, người nữ tu thiếp ở hẳn tại chùa. Cũng có trường hợp các Ubasika chỉ ở hẳn tại chùa 1 tuần, hoặc nửa tháng. Mỗi ngày cho con mang cơm vào chùa 3 buổi. Người tu thiếp sinh hoạt trong Thum, còn gọi là Tuột, mỗi người sống trong một thum.Thum là một căn nhà lá  nhỏ, khoảng 9m2 , được xây dạng nhà sàn, bố trí dọc theo sân chùa. Chất liệu xây dựng Tuột bằng gỗ, mái lá dừa, vách lá, có một cầu thang gỗ dẫn lên. Tuột được xây cách mặt đất 1 mét. Các Tuột đều có kiểu dáng giống nhau. Hai mái lá dốc đứng tạo nên mái Tuột, như mái chùa Khmer. Phía trước Tuột có một mái nhỏ nhô ra. Vách mặt trước đều là những song gỗ nhỏ, tạo thoáng mát cho bên trong Tuột. Mỗi ngày, từ 1 giờ khuya, vị Achar đến gõ cửa từng Tuột, gọi các nữ tu thiếp thức dậy, thực hành Thiền. Vào buổi sáng và chiều tối, các tu thiếp bưng khay lên chính điện hành lễ. Vị Achar lập đàn, hỏi đạo từng người.
Thời gian tu thiếp, các Ubasika có thể cạo tóc, có thể về nhà.
4. Vài nhận xét thay kết luận
Qua một số cứ liệu điền dã và các cuộc phỏng vấn sâu nêu trên tại huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh, có thể nhận thấy bức tranh khá toàn cảnh về sinh hoạt Phật giáo của người nữ Phật tử Khmer:
Thứ nhất, cũng như nam giới, người nữ Phật tử Khmer, theo phong tục tập quán  nhiều đời,  cho dù họ có bận nhiều việc trong gia đình, nhưng vẫn cố gắng giữ đúng truyền thống cổ xưa, đi lễ chùa vào 4 ngày quy định trong tháng. Đó là các ngày mồng 1, mồng 8, rằm và ngày 23 âm lịch. Tuy nhiên, mục đích chính của việc đến chùa vào các ngày này cũng là nhằm dâng cơm cho sư để tích phúc. Sau đó, một số Phật tử nữ còn rảnh rổi thì ở lại chùa đến chiều để nghe thuyết pháp, giảng kinh.
Thứ hai, một số nữ Phật tử sống trong phum sóc trước đây, hiện nay là xã Hòa Thuận và Hòa Lợi, đã thọ 5 giới cấm dành cho Phật tử, tuy nhiên việc thọ giới này cũng không bắt buộc họ phải có pháp danh, phải đều đặn đến chùa nghe pháp. Chính vì vậy, trên thực tế, đã có trường hợp đã thọ 5 giới rồi, nhưng vẫn chưa có pháp danh.
Thứ ba, việc đi sâu tìm hiểu về giáo lý Phật giáo không phải là nhu cầu  thiết yếu của nam nữ Phật tửKhmer, mà chính là làm thế nào để có được nhiều phúc báo, cho đời này và cả những đời sau. Vì vậy, các nữ Phật tử đã hăng say trong việc nhớ rõ 4 ngày lễ chính trong tháng, vì đây là 4 ngày quan trọng phải đến chùa dâng cơm cho sư. Càng làm nhiều công việc này, càng được tích nhiều phúc báu.
Thứ tư, việc đi tu thiếp, đối với Phật tử Khmer, cả nam và nữ, tùy vào từng vùng, từng phum sóc, từng khu vực cụ thể, nếu có điều kiện thuận lợi, có sư Cả của chùa đứng ra  tổ chức, Phật tử sẽ tham dự, không phân biệt là nam hay nữ tham dự nhiều hay ít. Thực tế cho thấy, qua phỏng vấn tại chùa Giữa, số nam Phật tử thực hiện sinh hoạt tu thiếp còn nhiều hơn nữ. Người phụ nữ Khmer, trong nhiều giai đoạn khác nhau của cuộc đời, họ rất vất vả trong việc gia đình, lo cho chồng con, lo cho cuộc sống gia đình, vì vậy, việc tách rời những lo toan này để đến hẳn với việc tu thiếp một thời gian dài 45 ngày liên tiếp là khó thực hiện, nhất là đối với những nữ Phật tử Khmer còn trẻ.
Thứ năm, qua một số cuộc phỏng vấn và số liệu nêu trên cho thấy đa số phụ nữ đi tu thiếp là những người đã có tuổi đời khá cao, trên 50 tuổi, số đông nhất là trên 70 tuổi, họ chọn lựa hình thức sinh hoạt này, khi đã có thời gian khá rảnh rỗi, việc nhà đã tạm yên, con cái đã lớn, các con có thể tự túc nấu nướng, lo cho gia đình, có thể mang cơm đến cho họ ngày 3 buổi, thì họ mới có thể thực hiện việc đi tu thiếp một cách trọn vẹn. 
Chính từ những điều kiện và hoàn cảnh của người phụ nữ Khmerđã góp phần giải thích cho chúng ta thêm những nguyên nhân vì sao mà có sự khác biệt khá lớn giữa họ so với các nữ Phật tử PGNT Kinh. Điều kiện kinh tế gia đình, trình độ học vấn của từng cá nhân, mức độ nhận thức về Phật pháp giữa người nữ Phật tử trong PGNT Kinh và Khmer có sự sai biệt khá lớn.Nữ Phật tử Khmer chưa  thể có những nhu cầu về việc làm thế nào để cho người phụ nữ Khmer có thể sống tu tập trung hẳn như các tu nữ PGNT Kinh trong các thiền viện, và người nữ Phật tử Khmer cũng chưa thể có đủ trình độ để vươn lên, đòi hỏi làm thế nào giúp đở, tạo điều kiện cho họ có thể trở thành những Sa di ni, những Tỳ kheo Ni như trong PGNT Kinh đã, đang và sẽ tiếp tục  làm.
Tất cả những đòi hỏi này, đối với nữ Phật tử Khmer đang còn ở xa phía trước./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
  1. Bodhi (Pháp Hỷ Dhammananda dịch) 2010. Sự phục hồi của chúng tỳ kheo Ni trong truyền thống nguyên thủy. NXB Tôn giáo
  2. Cục Thống kê tỉnhTrà Vinh  (2011) Thống kê dân số Tỉnh Trà Vinh.
  3. Ellison Banks Findly (2011) Phật giáo &Nữ giới.Nữ giới &Phật giáo. Diệu Liên Lý Thu Linh, Diệu Ngộ Mỹ Thanh, Giác Nghiêm Nguyễn Tấn Nam dịch. NXB Phương Đông.
 
 

[1]Số liệu Cổng thông tin điện tử Trà Vinh, tháng 10/2013.
[2]Số liệu Cục Thống kê tỉnhTrà Vinh năm 2011.
[3]Tám giới gồm: Không trộm cắp; không sát sinh; không tà dâm; không nói dối;  không uống rượu và dùng các chất say; Không ăn sái giờ (không ăn sau 12 giờ trưa);  Không tham gia múa hát, thổi kèn, đánh đàn, xem múa hát, nghe đàn, kèn, và không trang điễm, thoa vật thơm, dồi phấn và đeo tràng hoa; Không nằm ngồi nơi quá cao, và nơi xinh đẹp.
[4] Bát Kỉnh pháp gồm các pháp sau:
-Tỳ kheo ni đủ 100 tuổi hạ cũng phải đảnh lễ một vị Tăng vừa mới thọ giới một ngày.
-Tỳ kheo ni không được an cư ở một trú xứ không có chư Tăng.
-Chư tỳ kheo ni nên cầu xin ngày nào là ngày bố tát và cầu giáo giới từ chư Tăng trong mỗi nửa tháng
-sau mùa an cư, chư tỳ kheo ni phải đến cầu xin tự tứ (trình 3 việc thấy, nghe, nghi) với nhị bộ Tăng ni.
-Vị ni phạm trọng tội phải đến trước nhị bộ Tăng ni cầu xin hành pháp Ma-Na -đóa trong nửa tháng.
-Thức -xoa-ma- na tuân giữ 6 giới trong 2 năm, muốn thọ giới tỳ kheo ni phải đến trước nhị bộ Tăng ni cầu xin.
-Vị ni không được phép chửi rủa hay sỉ vả vị Tăng trong bất cứ trương hợp nào.
-Chư ni không được phép quở trách chư Tăng. Chư Tăng được quyền quở trách chư ni.
[5]Bodhi (Pháp Hỷ Dhammananda dịch) 2010. Sự phục hồi của chúng tỳ kheo Ni trong truyền thống nguyên thủy. NXB Tôn giáo, tr.5.
[6]Phỏng vấn chị Sơn thị Sa Pan, ấp Đa Cần, xã Hòa Thuận, ngày 4/3/2019. Người phỏng vấn: Trần Hồng Liên.
[7]Phỏng vấn anh Sơn Cường và chị Thạch Thị  Bô Na, ấp Đa Cần, xã Hòa Thuận, ngày 5/3/2019. Người phỏng vấn: Trần Hồng Liên.
 
[8]Phỏng vấn Sơn Thị Sa Pan, ấp Đa Cần, xã Hòa Thuận, ngày 4/3/2019. Người phỏng vấn: Trần Hồng Liên.
[9]Phỏng vấn anh Kim Xương,  ấp Đa Cần, xã Hòa Thuận, ngày 5/3/2019. Người phỏng vấn: Trần Hồng Liên.
[10]Phỏng vấn Kim Thị Sa Pinh,  ấp Bích Trì, ngày 5/3/2019. Người phỏng vấn: Trần Hồng Liên.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây