08 NI GIỚI VÀ TỔ CHỨC NI GIỚI TRONG MẠNG MẠCH PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Thứ sáu - 25/10/2019 21:18
NI GIỚI VÀ TỔ CHỨC NI GIỚI TRONG MẠNG MẠCH PHẬT GIÁO VIỆT NAM

PGS.TS. NGUYỄN HỒNG DƯƠNG
ĐẶT VẤN ĐỀ

NI GIỚI VÀ TỔ CHỨC NI GIỚI TRONG MẠNG MẠCH PHẬT GIÁO VIỆT NAM

PGS.TS. NGUYỄN HỒNG DƯƠNG
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trên đường chuyển vận bánh xe pháp, nghĩ đến năm người bạn cùng tu khổ hạnh lúc đó đang ở Vườn Nai (Lộc Uyển) ở Banares (Bàranàri), Đức Phật liền đi bộ đến đấy. Ngài giảng bài pháp đầu tiên về Tứ đế (Tứ diệu đế, Tứ thánh đế) gọi là “sơ chuyển pháp luân”. Tại đây Đức Thế Tôn độ được năm hành giả: Kiều trần như, Bà phả, Bà đề, Mahanan và Thuyết Thị. Đây là 5 đệ tử đầu tiên. Sau đó Đức Thế Tôn tiếp độ Daxá ở Banares và 4 người khác. Như vậy, tại Banares, Tăng đoàn được hình thành.
Năm thứ 5, sau ngày Thế Tôn thành đạo, bà Mahàprajàpati Gautanì được dịch âm là Mahabaxàbađề Gôtani, dịch nghĩa là Đại Ái Đạo Kiều Đàm di được Thế Tôn nhận lời qua lời khẩn khoản thỉnh cầu của Tôn giả Anan, cho xuất gia, kèm theo điều kiện “Bát Kính/Kỉnh pháp”. Giáo đoàn Ni ra đời từ đây.
Như vậy, kể từ thời điểm này, Tăng già/Tăng đoàn (sangha) của Phật giáo được hình thành. Phật, Pháp, Tăng hợp thành Tam bảo Phật giáo. Như vậy, Tăng là một trong ba bộ phận cấu thành của Tam bảo cũng có nghĩa là một trong ba bộ phận cấu thành của Phật giáo. Tăng được hiểu bởi hai nghĩa: (1) Những đệ tử của Đức Phật, xuất gia, tu học, đạt được đầy đủ giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến, trụ trong giai vị tứ hướng, tứ quả; (2) chỉ đoàn thể Tăng/giáo đoàn, gồm 4 vị Tỳ kheo trở lên sống hòa hợp trong tinh thần của giới luật. Tăng được chỉ chung cho hai giới Nam và Nữ xuất gia. Nam được gọi là Tăng, Nữ được gọi là Ni. Tăng, Ni hợp thành tổ chức Tăng đoàn. Vì vậy một số tài liệu gọi Tăng đoàn là tổ chức lưỡng tính/giới.
Ra đời từ thời Đức Phật tại thế, Ni trong tương quan với Tăng và Ni đoàn trong tương quan với Tăng đoàn của Phật giáo tồn tại, phát triển đến ngày nay. Sau ngày Đức Thế Tôn nhập diệt, các bộ phái, hệ phái hình thành, truyền bá sang các nước, hệ phái tiếp tục hình thành ở các nước đó, thậm chí một số hệ phái truyền thừa sang các nước lân cận, nếu như Tăng (người Nam xuất gia) hiện diện ở tất cả các bộ phái, hệ phái, thì Ni (người Nữ xuất gia) lại không hiện diện ở một vài hệ phái.
Tăng đoàn ngày từ thời Đức Thế Tôn tại thế đã giữ vai trò trụ cột trong việc duy trì mạng mạch của Phật giáo.
Truyền bá, phát triển vào Việt Nam, trong ngôi nhà Tăng già/Tăng đoàn Phật giáo Việt nam, Ni giới và Ni đoàn xuất hiện từ khi nào? Ni giới và Ni đoàn có vai trò gì trong việc duy trì, phát triển mạng mạch Phật giáo Việt Nam? Để trả lời câu hỏi đó, bài viết tiếp cận bởi tiến trình lịch sử với ba giai đoạn: (1) Ni giới từ buổi đầu đến trước phong trào Chấn hưng Phật giáo; (2) Ni giới từ phong trào Chấn hưng Phật giáo đến thời điểm thành lập Phân ban Ni giới (2009); (3) Ni giới từ khi thành lập Phân ban Ni giới đến nay.
I. NI GIỚI TRONG MẠNG MẠCH PHẬT GIÁO VIỆT NAM TỪ BUỔI ĐẦU ĐẾN TRƯỚC PHONG TRÀO CHẤN HƯNG
Những Thích Nữ chủng tử:Phần đông các nhà nghiên cứu Phật giáo Việt Nam đều cho rằng, Phật giáo truyền bá vào Việt Nam từ đầu công nguyên. Nhưng đầu công nguyên là niên điểm nào vẫn chưa có tài liệu khẳng định một cách chính xác. Song, có một thực tế, ngay từ thời Hai Bà Trưng thập niên 40 SCN khi mà cuộc khởi nghĩa của Hai Bà thất bại, một số nữ tướng của Hai Bà đã “xuống tóc” đi tu. Có thể kể một số vị như Công Chúa Bát Nàn, Thiều Hoa, Vĩnh Huy, Phương Dung. Đây là những minh chứng quý giá để xác định niên điểm Phật giáo đã thịnh hành ở vùng Đồng bằng Bắc bộ Việt Nam. Những nữ tướng của Hai Bà Trưng quy y đầu Phật đã là những hạt giống gieo mầm của Ni giới Phật giáo Việt Nam ngay từ buổi đầu Phật giáo truyền nhập vào đất nước này. Đáng tiếc cho đến nay sự kiện này chưa được đưa vào Phật sử Việt.
Diệu Nhân Ni sư, một danh ni thời Lý.Thời Lý một danh ni tiêu biểu được sử sách ghi lại đó là Diệu Nhân Ni sư (1042 - 1113). Tài liệu của Nguyễn Công Lý cho biết “hiện có hai nguồn thông tin về gốc gác tông tích của Diệu Nhân Ni sư”.
Một là, bà là con gái trưởng của Phụng Càn Vương Lý Nhật Trung, và là cháu nội của vua Lý Thái Tông.
Hai là, bà là con gái của công chúa Lý Kiều Oanh, và là cháu gái của Phụng Càn Vương, gọi ông này là cậu, đồng thời Phụng Càn Vương còn là cha nuôi của bà. Vua Lý Thái Tông ông ngoại của Bà([1]).
Nhưng dù thuộc một trong hai gốc tích nào thì Bà vẫn thuộc dòng Vương Thất. Từ bỏ nơi cung vàng, điện ngọc để đi tu. Diệu Nhân Ni sư thuôc thế hệ thứ 17 của dòng Thiền Tỳ ni đa lưu chi, một dòng thiền có mặt đầu tiên ở Việt Nam. Sách Thiền Uyển tập anh ghi chép về Bà như sau: Bà thiên tư thuần hậu, ngôn hạnh đoan trang. Sau khi chồng mất, bà thủ tiết không tái giá. Bà dốc tư trang, gia sản bố thí cho dân chúng, xuất gia, thụ giới Bồ tát với thiền sư Chân Không ở hương Phù Đổng, được thiền sư cho pháp danh Diệu Nhân và đưa đến trụ trì ở Ni Viện Hương Hải. Sự tu tập giới luật, hành thiền chính định, trở thành bậc khuôn mẫu trong hàng Ni giới thời bấy giờ.
Tư tưởng triết lý tính không và tư tưởng vô trụ là những đóng góp về lĩnh vực Thiền học của Diệu Nhân Ni sư. Những tư tưởng ấy thể hiện trong thi kệ của Bà. Có người đến cầu học, sư dạy cho giáo nghĩa Đại thừa: “Chỉ cần đưa tự tính về nguồn thì đốn hay tiệm đều có thể tùy cơ mà tiến”. Câu hỏi của đệ tử: “Hết thảy chúng sinh mắc bệnh, cho nên ta cũng mắc bệnh, tại sao lại cứ phải kiêng kỵ thanh sắc” được sư trả lời bằng bài kệ
Phiên âm
Nhược dĩ sắc kiến ngã
Dĩ âm thanh cầu ngã
Thị nhân hành tà đạo
Bất năng kiến Như Lai
Dịch
Nếu dùng sắc dụ ta
Lấy âm thanh cầu ta
Người ấy hành tà đạo
Chẳng mong thấy Như Lai
Sau đó đệ tử lại hỏi và sư trả lời. Hỏi: Ngồi yên là thế nào? Đáp: Xưa nay vốn không đi. Lại hỏi: Không nói là thế nào? Đáp: Vốn không lời.
Khi lâm bệnh biết không qua khỏi, ngày mồng một tháng sáu năm Hội Tường Đại Khánh thứ 4 (1113) sự gọi các đệ tử đến và đọc bài kệ, được gọi là “Thị tịch kệ” (kệ thị tịch)
Phiên âm
Sinh, lão, bệnh, tử
Tự cổ thường nhiên
Dục cầu xuất ly
Giải phọc thiên triều
Mê chi cầu Phật
Hoặc chi cầu thiền
Thiền, Phật bất cầu
Uổng khẩu vô ngôn
Dịch
Sinh, lão, bệnh, tử
Lẽ thường tự nhiên
Muốn cầu xuất ly
Càng thêm trói buộc
Mê, mới cầu Phật
Hoặc mới cầu thiền
Chẳng cần thiền, Phật
Mín miệng ngồi yên([2]).
Thi kệ và những câu trả lời đệ tử của Diệu Nhân Ni sư được dẫn ra ở trên cho thấy Diệu Nhân Ni sư thấm nhuần tư tưởng triết lý tính không và vô trụ, nhất thừa pháp với tinh thần phá chấp triệt để. Đó là cốt tủy của kinh Kim Cương một trong kinh văn của hệ Bát nhã. Theo đó con người phải trở về với tự tính, nhận ra được chân như, thấy được chân diện mục của mình và của các pháp. Do vậy tiện ngộ hay đốn ngộ không cần phân biệt. Và hành giả phải hành trì, tu tập an định được tâm, không bám víu, chấp trước đó chính là tinh thần vô trụ.
Với vài Kệ Thị tịch, Ni sư Diệu Nhân cho thấy bản chất vô thường của đời người, nhưng cao hơn là tư tưởng vô trụ được lý giải trong kinh văn Bát Nhã, chủ yếu là kinh Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật.([3])
Từ những phân tích ở trên có thể đi đến kết luận, Diệu Nhân Ni sư là một bậc Danh Sư. Bà có thể đứng ngang hàng với các thiền sư nổi tiếng thời Đinh, Lê, Lý, Trần như Pháp Thuận, Vạn Hạnh, Thông Biện, Khuông Việt Chân Lưu. Những đóng góp của Ni sư không chỉ mở rộng thiền môn, lập ni Viện mà còn là tư tưởng thần học.
Thời kỳ phong kiến cho đến trước phong trào chấn hưng, Phật giáo Việt Nam còn ghi nhận biết bao Ni sư với đủ các thành phần từ những người thuộc hoàng thân quốc thích đến các thành phần khác xã hội. Họ đều là những người xả thân, cầu đạo, thấu tỏ giáo lý Phật Đà, góp phần duy trì mạng mạch Phật giáo trong những hoàn cảnh và thời cuộc khác nhau.
II. NI GIỚI TRONG MẠNH MẠCH PHẬT GIÁO VIỆT NAM TỪ PHONG TRÀO CHẤN HƯNG ĐẾN THỜI ĐIỂM THÀNH LẬP PHÂN BAN NI GIỚI
Nổi lên ở thời kỳ này là hai vấn đề lớn; (1) Sự ra đời của các ni viện (chùa ni) gắn liền với tên tuổi của các Ni sư hữu công tiền bối; (2) Vấn đề tu học và hoạt động Phật sự.
Sự ra đời của các ni viện: Phần viết về Ni sư Diệu Nhân, bài viết đã đề cập đến ni viện Hương Hải do Ni sư Diệu Nhân trụ trì. Đây là ni viện được nhắc đến sớm nhất trong cuốn Thiền Uyển tập anh. Có thể dưới các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn còn có rất nhiều ni viện, song đã không được các tư liệu thành văn ghi chép.
Lịch sử Phật giáo Việt Nam ghi nhận, cuối thời Trần Phật giáo Việt Nam bắt đầu suy vi. Sang thời Lê, nhìn một cách toát yếu, Phật giáo chủ yếu thịnh hành ở làng xã. Thời Nguyễn do những biến động của thời cuộc, cuối thời Nguyễn, Phật giáo Việt Nam rơi vào thời kỳ khủng hoảng, để rồi Phật giáo Việt Nam bước vào thời kỳ chấn hưng, mạng mạch Phật giáo Việt Nam bước vào thời kỳ mới. Đây là thời kỳ ra đời các chùa ni/ni viện - chùa do Ni sư trụ trì (4). Tuy nhiên trước đó ở một số tỉnh thuộc Đồng bằng Bắc bộ một số chùa ni bắt đầu xuất hiện. Cuốn: Lịch sử Phật giáo Ninh Bình cho biết “Nữ tu xuất hiện nhiều vào thế kỷ XVII và từ thập kỷ 80 thế kỷ XIX với sự xuất hiện của một số vị Ni làm trụ trì các chùa ở Đồng bằng Bắc bộ như Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định… Ni đoàn dần dần được phôi thai. Một số sơn môn Ni xuất hiện như sơn môn Am ở phố Hàng Than, Hà Nội, sơn môn Sùng Khoang ở Hà Đông. Với Ninh Bình, sư Ni xuất hiện muộn. Cho đến nửa đầu thế kỷ XIX ở tỉnh này chưa có tổ đình hay chùa nào để thụ giới. Các chùa Ni đều phải y vào các chùa Tăng. Vào đầu thế kỷ XX, Ni chúng Ninh Bình đã có sư cụ Đàm Đăng trụ trì chùa Phúc Lý, xã Ninh Phúc (nay thuộc thành phố Ninh Bình), thuộc sơn môn Cổ Loan, nổi tiếng là một người rất tinh thông Kinh giới”(5).
Phật giáo xứ Huế/Thuận Hóa ghi nhận Ni trưởng Diêu Trường (1863 - 1950) là Tỳ kheo ni đầu tiên. Bà xuất gia tại chùa Từ Hiếu, được thiền sư Hải Thiệu (Cương Kỷ thiền sư) đặt cho pháp danh là Thanh Ninh, pháp tự Diêu Trường. Năm 1910 ni thụ giới đàn ở Quảng Nam. Sư được giao trùng tu chùa Phổ Quang làm cơ sở tu học cho ni chúng. Khi làm xong chùa thì đường xe lửa thiết kế chạy trước cửa chùa, sư phải đi làm chùa khác - chùa Trúc Lâm thuộc thôn Thuận Hóa, làng Dương Xuân Thượng. Chùa là nơi khởi điểm của phong trào chấn hưng Phật giáo xứ Trung kỳ những năm 30 - 40 thế kỷ XX. Tại chùa, Ni trưởng lập riêng một ni xá quy tụ chư ni về tu học(6).
Ni trưởng Diệu Hương (1884 - 1971). Ni trưởng thụ Tỳ kheo ni năm 1924 tại Đại giới đàn chùa Từ Hiếu. Năm 1924 Ni viện Diệu Viên, ni viện đầu tiên ở xứ Huế thành lập, Ni trưởng được thỉnh về dạy ni chúng ở đây.
Ni trưởng Diệu Không (1905 - 1997). Năm 1944 Ni trưởng được thụ đại giới tại giới đàn Thuyền Tôn do Hòa thượng Giác Nhiên làm đàn đầu. Ni trưởng là người có công tạo dựng ni viện Diệu Đức. Ni trưởng góp phần thành lập Ni trường đầu tiên ở Sa Đéc(7).
Phật giáo Nam bộ, nổi lên là vai trò của Ni trưởng Như Thanh. Ni trưởng xuất gia lúc 22 tuổi và tu học tại chùa Giác Hoàng. Thời gian từ 1933 đến 1942 sư đi khắp trong Nam ngoài Bắc cầu học. Năm 1935 sư trưởng cùng các sư cụ Diệu Tịch, Diệu Tấn, Diệu Thuận xây dựng chùa Từ Hòa cho Ni giới tại làng Tân Sơn Nhì, Gia Định (Nay là chùa Hải Ấn, Thành phố Hồ Chí Minh). Đây là chùa ni đầu tiên do chư ni tạo dựng ở miền Nam.
Một trong những đóng góp quan trọng của Ni trưởng Như Thanh là việc thành lập Ni bộ Bắc Tông (Bắc truyền). Ngay từ năm 1956 sư đã có ý định tập hợp ni chúng đoàn kết trong một tổ chức. Khi Giáo hội Tăng già Việt Nam được thành lập, sư đã bày tỏ ý định trên. Sư đứng ra nhận trách nhiệm và đích thân đi nhiều chùa ni ở Nam bộ để vận động, thuyết phục. Nhờ đó, từ ngày 6 - 7 tháng 10 năm 1956, đông đảo chư ni quy tụ về chùa Huê Lâm và Ban lãnh đạo Ni bộ lâm thời được thành lập. Đến năm 1972 Ni bộ Việt Nam đổi tên thành Ni bộ Bắc tông. Đây là tổ chức ni giới đầu tiên được chính thức hành lập và được Giáo hội công nhận bằng văn bản. Việc thống nhất Ni bộ trong một tổ chức tạo tiền để cho Giáo hội sau này có đủ hai tổ chức Tăng, Ni(8).
Trong ngôi nhà Phật giáo Việt Nam còn có một số hệ phái như Phật giáo Theravada, hệ phái Khất sĩ và Phật giáo của người Hoa. Theo thời gian, một số hệ phái đã và đang xuất hiện ni giới với tên gọi khác nhau.
Phật giáo Theravada/Phật giáo nguyên thủy/Phật giáo Nam tông Khmer. Theo truyền thống hệ phái chỉ có Tăng (quen gọị là sư sãi). Trong hệ phái Nam tông có hệ phái Nam tông Kinh người sáng lập là Hộ Tông (thế danh Lê Văn Giảng). Cũng là Phật giáo Nam tông nhưng Phật giáo Nam tông Kinh lại có tu nữ. Người xuất gia Ni đoàn đầu tiên của hệ phái này là tu nữ Diệu Đáng (1924 - 1995). Tu nữ xuất gia tại chùa Sùng Phước (Nam Vang 1941), trùng tu thiền ở Thái Lan, du học ở Myanmar. Hiện tại hệ phái Nam tông Kinh có khoảng 700 tu nữ. Nhận thức được vai trò vị trí của tu nữ Nam tông Kinh “Năm 2011, Tu nữ chính thức công nhận “Trong nội quy Ban Tăng sự Trung ương” là thành phần xuất gia biệt truyền trong truyền thống Phật giáo Nam tông Kinh. Năm 2012, Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Ban Tăng sự Trung ương chính thức chấp thuận cấp giấy chứng nhận tu nữ Nam tông”.
Giáo đoàn Ni trong hệ phái Khất sĩ. Hệ phái ra đời năm 1944 tại Nam bộ, người sáng lập là Đức Tổ sư Minh Đăng Quang. Ngay từ thời Đức Tổ sư còn tại thế, trong hàng ngũ xuất gia của hệ phái có tới 53 vị ni. Ni giới ban đầu do Đức Tổ sư chỉ đạo. Sau khi Ngài vắng bóng, Ni trưởng Huỳnh Liên lãnh đạo Ni giới tiếp tục hành đạo. Nhận thấy Ni giới của hệ phái cần thiết phải có một tổ chức riêng, một Ban vận động được thành lập với việc soạn thảo Bản Điều lệ gồm 30 Điều làm tại Sài Gòn ngày 18/10/1957. Bản Điều lệ được Bộ Nội vụ chính quyền Sài Gòn duyệt y theo Nghị định số 7/BNV/NA/P5. Trên cơ sở của Nghị định số 7 ngày 11/1/1958, Ni trưởng Huỳnh Liên đứng ra thành lập Giáo hội Ni giới Khất sĩ Việt Nam. Trụ sở đặt tại tịnh xá Ngọc Phương (nay là số 491/1 đường Lê Quang Định, phường 1, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh).
Như vậy các hệ phái Phật giáo trong ngôi nhà Phật giáo Việt Nam đều có Ni giới, theo thời gian Ni giới của từng hệ phái đều thành lập tổ chức để tập hợp ni chúng của từng hệ phái. Đến thời điểm 2009 khi Phân ban Ni giới thuộc Ban Tăng sự Trung ương thành lập, ni chúng Phật giáo cả nước được tập hợp trong một tổ chức thống nhất. Đây là thời cơ đem lại thuận lợi mới cho Ni chúng Phật giáo Việt Nam.
Ni giới với tu học và hoạt động Phật sự. Do tính đặc thù, ni giới có những biểu hiện riêng về tu học và hoạt động Phật sự. Kể từ phong trào chấn hưng, dưới sự trợ duyên của chư tôn đức, ni giới dần dần tự đảm nhận việc giảng dậy Phật học cho ni chúng. Ở miền Bắc nổi lên là vai trò của Ni trưởng Đàm Soạn (? - 1968). Ni trưởng sinh ở làng Cự Đà, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội), xuất gia từ nhỏ, theo học với thiền sư Đông Đồ tại sơn môn Trung Hậu, Phúc Yên (nay thuộc Hà Nội). Ni trưởng là một vị danh ni được nhiều người mến mộ, đã từng làm chủ tọa các chùa Thanh Nhàn, Từ Hàng và Đức Viên. Ni trưởng là người đầu tiên được mời vào Hoàng cung Huế dạy đạo cho các hoàng hậu, hoàng phi, cung nữ. Năm 1928, Ni trưởng dự vào việc xây cất chùa Diệu Viên xứ Huế đây là ngôi chùa ni đầu tiên ở xứ này. Thông thường, mỗi năm Ni sư có 3 tháng vào Huế làm Phật sự. Năm 1950, Ni trưởng được mời làm giám học và quản chúng Ni viện Vân Hồ (Hà Nội). năm 1952, Ni trưởng được Hội Dược sư mời vào viếng chùa Dược Sư ở Gia Định. Tại đây Ni trưởng khuyến khích lập một ni trường.
Tại xứ Huế, như phần trên đã đề cập vai trò của Ni trưởng Diệu Hương với việc xây dựng Diệu Viên Ni tự đầu tiên và mở lớp học Ni đầu tiên tại chùa Từ Đàm. Năm 1932, tại chùa Từ Đàm trường Ni học được khải giảng. Ni trưởng Diệu Hương làm giám đốc. Cuối năm 1932 cơ sở được dời về chùa Diệu Đức.
Đóng góp trên lĩnh vực đào tạo ni chúng và lĩnh vực Phật sự ở xứ Huế cần thiết phải kể đến Ni trưởng Diệu Không (1905 - 1997). Ni trưởng được xem là nhân vật đặc biệt trong các tiền bối ni lãnh đạo. Ni trưởng góp công xây dựng Viện đại học Phật giáo đầu tiên của Việt Nam là Đại học Vạn Hạnh. Từ năm 1964 trở đi, Ni trưởng còn góp công đắc lực trong việc sáng lập nhà in Liên Hoa, Ni trưởng làm quản lý và biên tập viên. Ni trưởng còn là cộng tác viên của nhiều tạp chí Viên Âm, Giác Ngộ, Từ Quang… tham gia vào công việc dịch Kinh, Luật, Luận(9).
Giáo dục Phật giáo ở Nam bộ với hoạt động tiên khởi gắn liền với Tỳ kheo ni Hằng Nga, năm 1927 mở lớp gia giáo ni tại chùa Giác Hoa do chính sư ni xây dựng. Tại đây ni thường xuyên nuôi trên 100 ni chúng tu học cho đến năm 1945. Sau đó các lớp học tại chùa tiếp tục cho đến năm 1952, năm ni qua đời. Sư cô Như Hoa, đệ tử của Hòa thượng Chánh Quả được Hòa thượng giao chùa Phước Huệ ở Sa Đéc cho trụ trì. Tại đây Sư cô mở giới đàn cho ni chúng thụ giới, nuôi chúng ni tu học. Chùa Kim Huệ nơi Hòa thượng Chánh Quả trụ trì, từ năm 1936 là điểm đầu tiên tổ chức giảng dạy cho ni sinh về nghi thức truyền giới, góp phần đào tạo ni chúng cho Ni bộ Bắc kỳ về sau này.
Tại Gia Định, lớp gia giáo ở Hải Ấn Ni tự là lớp học dành cho ni chúng do sư bà Diệu Tấn, Diệu Tánh và Diệu Thuận cùng khai mở năm 1934 sau khi xây xong chùa ni Từ Hóa tại làng Tân Sơn Nhì. Năm sau các sư dời chùa Từ Hóa về làng Tân Sơn Nhất đổi tên thành Hải Ấn tự (nay thuộc phường 14, quận Tân Bình). Sư bà Diệu Tịnh dạy Phật giáo cho ni chúng. Đây là mô hình lớp gia giáo sớm nhất tại Sài Gòn.
Theo thời gian một số tỉnh tiếp tục mở trường để đào tạo ni chúng. Ở Mỏ Cày, Bến Tre có Vĩnh Bửu Ni viện, ở đây trở thành ni trường đạo tạo nhiều vị tỳ kheo ni. Tại chùa Gác Linh (Sa Đéc) sư cô Diệu Tâm hợp tác với sư bà Diệu Tịnh mở trường ni Tân Hòa còn gọi là trường Cô Ba Xàng. Những năm 1939 - 1945 tại Phú Nhuận sư cô Diệu Tấn mở ni trường tại chùa Kim Sơn. Ngoài ni sinh học tại chỗ, sư cô còn gửi ni sinh ra Huế học. năm 1947, Ni viện thuộc chùa Huê Lâm (quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh) thành lập. Ni viện dưới sự lãnh đạo của Ni trưởng Như Thanh, Huê Lâm trở thành trung tâm đào tạo Ni giới, tạo tiền đề cho việc thành lập Ni bộ. Năm 1950, Phật học Ni viện Từ Nghiêm được thành lập. Đây là trường ni nằm trong hệ thống Phật học đường Nam Việt. Năm 1952 Ni trường Dược Sư được thành lập. Đây là Ni trường lớn thứ hai sau Ni trường Từ Nghiêm. Do chùa Từ Nghiêm bị hỏa hoạn nên trường ni phải dời về chùa Dược Sư. Ni trường Dược Sư quy tụ nhiều ni sinh ở miền Trung, Tây Nam bộ và Tây Nguyên về học(10).
Phong trào Chấn hưng tạo cho Phật giáo Việt Nam nói chung và Ni giới một luồng sinh khí mới. Theo đó cùng với sự gia Tăng ni chúng ở cả ba miền Bắc - Trung - Nam là sự xuất hiện các ni viện (chùa Ni) và còn là Ni trường (cơ sở tu học của ni giới). Một sự trùng hợp có tính ngẫu nhiên việc ra đời Ni viện và Ni trường luôn gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp của các Ni trường. Theo thời gian các hệ phái như Phật giáo Nguyên thủy/Theravada/Nam tông, xuất hiện nữ giới xuất gia được gọi là tu nữ và được Giáo hội Phật giáo Việt Nam chấp nhận. Cùng thời gian với sự ra đời của hệ phái Khất sĩ là hình thành Ni đoàn của hệ phái.
Chùa Ni, Ni trưởng đào tạo cho Ni giới Việt Nam có điều kiện tu trì và tu học với những nét đặc thù riêng. Đó còn là sự ra đời của Ni bộ, tập hợp ni chúng Bắc tông trong một tổ chức. Từ đó tạo nền tảng cho Ni giới có điều kiện phát triển, tham gia vào mạng mạch Phật giáo Việt Nam.
III. NI GIỚI TRONG MẠNG MẠCH PHẬT GIÁO VIỆT NAM TỪ KHI THÀNH LẬP PHÂN BAN NI GIỚI ĐẾN NAY
Tháng 11/1981 Giáo hội Phật giáo Việt nam được thành lập. Tăng, Ni Phật giáo Việt Nam dù thuộc tông phái, hệ phái nào đều cùng đứng trong một tổ chức. Nếu như các chùa Ni được tiếp tục duy trì thì việc tu học của Ni giới được hòa chung với các cơ sở và bậc học của Giáo hội Phật giáo Trung ương và Giáo hội Phật giáo địa phương, do vậy mà Ni trường không cần thiết phải duy trì. Gia nhập vào ngôi nhà chung của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, được tu học trong các trường lớp chung một mặt cho thấy sự bình đẳng trong tu học giữa Tăng và Ni, mặt khác đã là điều kiện để Ni giới vươn lên trong chiến lược đào tạo Tăng tài của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Trên cơ sở lớn mạnh của Ni giới về số lượng cũng như vai trò của Ni giới đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam, thể theo nguyện vọng của Ni chúng, Giáo hội Phật giáo Việt Nam quyết định thành lập một tổ chức để tập hợp Ni chúng. Thực hiện Nghị quyết số 362/NQ/HĐTS của Ban Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam nhiệm kỳ VI (2007 - 2012) được thông qua ngày 22/8/2008, Hòa thượng Chủ tịch Hội đồng Trị sự, đã ký quyết định số 467/QĐ-HĐTS công nhận thành phần nhân sự Phân ban Đặc trách Ni giới thuộc Ban Tăng sự Trung ương. Ngày 22/02/2009, Ban Thường trực Hội đồng Trị sự ra thông tư số 073/TT-HĐTS hướng dẫn Ban Trị sự các tỉnh, thành hội Phật giáo thành lập các ban đặc trách Ni giới thuộc Ban Tăng sự các tỉnh, thành hội Phật giáo. Đến thời điểm 2012 đã có 37/58 Ban Trị sự tỉnh, thành hội thành lập Phân ban đặc trách Ni giới.
Kể từ ngày thành lập đến nay hoạt động của Ni giới tương đối đồng bộ, khởi sắc với nhiều hoạt động hữu ích như thăm viếng, cúng dường, thuyết giảng tại các trường hạ Ni, cứu trợ đồng bào bị thiên tai lũ lụt, đồng bào nghèo, tặng học bổng, xe đạp cho học sinh nghèo hiếu học và nhiều công tác từ thiện khác(11).
Trên cơ sở thành tựu đạt được từ Đại hội VI, bước sang nhiệm kỳ Đại hội VII hoạt động của Phân ban Ni giới ổn định hơn về tổ chức, theo đó là những thành tựu đạt được ngày càng nhiều hơn. Đến thời điểm 2017 đã có 46 Phân ban Ni giới thuộc các tỉnh thành được thành lập. Các hoạt động của Phân ban từ Trung ương đến các tỉnh thành tương đối nhịp nhàng với các hoạt động của Giáo hội các cấp.
Sau khi tái thành lập (2009) Phân ban Ni giới Trung ương kết hợp với Phân ban Ni giới các tỉnh, thành tổ chức lễ giỗ Tổ Kiều Đàm Di và tưởng niệm các chư vị tiền bối Ni và tọa đàm khoa học. Mở đầu là Ni giới tỉnh Đồng Nai, năm 2013, tổ chức tại chùa Bửu Phong với tính cách nội bộ. Tiếp theo, năm 2014, Ni giới Bà Rịa - Vũng Tàu; Năm 2015, Ni giới Bến Tre; Năm 2016, Ni giới Thừa Thiên Huế; Năm 2017, Ni giới tỉnh Bình Dương; Năm 2018, Ni giới Đồng Nai; Năm 2019, Ni giới tỉnh Tiền Giang. Các lễ kỷ niệm đều gắn với tọa đàm khoa học với nội dung xoay quanh vấn đề vai trò, vị trí của Ni giới Phật giáo, Ni giới Phật giáo Việt Nam và Ni giới của tỉnh, thành nơi tổ chức. Tháng 4/2016, Phân ban Ni giới Thành phố Hồ Chí Minh kết hợp với Trung tâm nghiên cứu Tôn giáo, Trường Đại học khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh tổ chức hội thảo khoa học “Ni giới Phật giáo Việt Nam: Truyền thống và hiện đại”. Phân ban Ni giới thành phố Hà Nội tổ chức tọa đàm nhằm củng cố cho Giáo đoàn Ni hoạt động trong tinh thần giới luật của Đức Phật và Hiến chương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Ngoài ra là những hoạt động mở lớp bồi dưỡng “các pháp yết ma”, khuyến khích chư Ni trẻ học sau đại học (thạc sĩ, tiến sĩ) ở trong và ngoài nước. Phân ban Ni giới Trung ương và các tỉnh thành còn tích cực hoạt động từ thiện, xã hội, phát huy lợi thế của Ni giới.
KẾT LUẬN.
Có mặt từ buổi đầu Phật giáo hiện diện ở Việt Nam, trải qua các thời kỳ của lịch sử dân tộc cũng như lịch sử hình thành, phát triển của Phật giáo Việt Nam, Ni giới luôn là một bộ phận của Tăng già/Tăng đoàn Phật giáo Việt Nam. Điều ấy cũng có nghĩa Ni giới dưới các chiều kích khác nhau đóng góp cho mạng mạch Phật giáo. Tham luận: Vai trò của Ni giới Việt Nam trong thời kỳ hội nhập của Phân ban Ni giới phía Bắc đọc tại Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc nhiệm kỳ 2017 - 2022 khẳng định:
Chư Ni Việt Nam có đủ thẩm quyền xuất gia, thụ giới;
Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam công nhận giáo phẩm chư Ni tương đương với giáo phẩm chư Tăng;
Chư Ni có đủ phẩm chất để đảm đương các chức vụ trong tổ chức Giáo hội từ Trung ương đến địa phương cũng như trụ trì các chùa, viện;
Ni giới luôn dấn thân trong các hoạt động Phật sự và các hoạt động từ thiện;
Có một số lượng chư ni có học vấn cao được đào tạo trong ở và ngoài nước đồng thời tham gia giảng dạy ở các bậc giáo dục Phật giáo từ Trung ương đến địa phương.
Bản tham luận khẳng định: “Từ Đại hội Phật giáo nhiệm kỳ I đến nay, Ni giới cả nước đã đóng góp một phần không nhỏ và công tác tác Phật sự của Giáo hội như giáo dục, hoằng pháp, từ thiện, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, bảo vệ môi trường, nhất là trùng tu, tôn tạo các chùa trong trang nghiêm, ngoài tố hảo”.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Văn phòng Hội đồng Trị sự: Giáo hội Phật giáo Việt Nam từ Đại hội đến Đại hội (1981 - 2012), Nxb Tôn giáo, 2012.
2. Giáo hội Phật giáo Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ VII nhiệm kỳ 2012 - 2017, Nxb Hải Phòng, 2012.
3. Giáo hội Phật giáo Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ VIII nhiệm kỳ 2017 - 2022. Lưu hành nội bộ, 2017.
4.Thiền Uyển tập anh. Nxb Hồng Đức, 2014.
5. Nguyễn Lang: Việt Nam Phật giáo sử luận, Nxb Phương Đông, 2012.
6. Nhiều tác giả: Ni giới Phật giáo Việt Nam: Truyền thống và hiện đại, Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2016.
7. Nguyễn Đại Đồng, Nguyễn Hồng Dương, Nguyễn Phú Lợi (đồng chủ biên): Lịch sử Phật giáo Ninh Bình, Nxb Tôn giáo, 2017.
8. Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Đồng Nai: Tưởng niệm Đức Thánh Tổ Ni Kiều Đàm Di, Nxb Hồng Đức, 2018.
9. Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám và những đóng góp đối với Hội An Nam Phật học, Huế, tháng 4/2019.
 

[1] Nguyễn Công Lý: Diệu Nhân Ni sư: Hành trạng, lai lịch và chứng ngộ tư tưởng kinh văn bát nhã, trong sách, Nhiều tác giả: Ni giới Phật giáo Việt Nam: Truyền thống và hiện đại, Nxb Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh, 2016, tr 216.
[2]Thiền Uyển Tập anh, Nxb Hồng Đức, 2014, tr 213-214.
[3] Xem thêm Nguyễn Công Lý: Diệu Nhân Ni sư: Hành trạng, lai lịch và chứng ngộ tư tưởng kinh văn bát nhã, đd, tr 211-226.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây