06 NI GIỚI VIỆT NAM NỐI MẠCH TRUYỀN THỐNG, THỰC HIỆN CHÂN LÝ BÌNH ĐẲNG, DẤN THÂN LÀM LỢI CHO ĐỜI, LÀM ĐẸP CHO ĐẠO

Thứ sáu - 25/10/2019 21:13
NI GIỚI VIỆT NAM NỐI MẠCH TRUYỀN THỐNG,
THỰC HIỆN CHÂN LÝ BÌNH ĐẲNG, DẤN THÂN
LÀM LỢI CHO ĐỜI, LÀM ĐẸP CHO ĐẠO

TS. BÙI THỊ HOÀ

NI GIỚI VIỆT NAM NỐI MẠCH TRUYỀN THỐNG,

THỰC HIỆN CHÂN LÝ BÌNH ĐẲNG, DẤN THÂN
LÀM LỢI CHO ĐỜI, LÀM ĐẸP CHO ĐẠO
TS. BÙI THỊ HOÀ
 
Chiếm hơn nửa dân số đất nước, Phụ nữ Việt Nam trong mọi thời đại đều khẳng định vai trò quan trọng, đóng góp to lớn trong đời sống xã hội và gia đình, xứng đáng với lời khen tặng của chủ tịch Hồ Chí Minh “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cùng già ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp rực rỡ”[1]. Hiện diện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, các tầng lớp phụ nữ Việt Nam luôn phát huy những phẩm chất cao quý chăm lo xây dựng gia đình hạnh phúc, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp bảo vệ, xây dựng đất nước phát triển bền vững. Trong thành tựu chung ấy, có sự dấn thân, dâng hiến của Ni giới Phật giáo luôn nỗ lực không ngừng, đồng lòng chung sức làm đẹp cho đạo, làm tôt cho đời, đúng như lời của Đệ nhất Chủ tịch Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam Hòa thượng Thích Trí Thủ đã nói: “Những gì chúng ta làm cho đạo chính là làm cho đời. Những gì chúng ta làm cho đời chính là làm cho đạo”.
Trân trọng những đóng góp to lớn của ni giới với phong trào phụ nữ Việt Nam, bài tham luận với chủ đề: “Ni giới Việt Nam nối mạch truyền thống, thực hiện chân lý bình đẳng, dấn thân làm lợi cho đạo, làm đẹp cho đời” nhằm góp phần làm sáng tỏ chân lý bình đẳng trong giáo lý Phật giáo, khẳng định vai trò và những đóng góp của ni giới và gửi gắm những mong muốn nhằm phát huy năng lực tiềm tàng của chư ni trong xã hội hiện nay.
  1. Chân lý bình đẳng trong đời sống xã hội và Phật pháp.
Bình đẳng - Tự do - Bác ái là giá trị phổ quát mà nhân loại hằng theo đuổi. Giá trị ấy hàm chứa quyền và khát vọng của con người không phân biệt dân tộc, tôn giáo, giới tính, thành phần… và Bình đẳng giới - là một cấu phần của giá trị vĩnh hằng ấy.Theo quan niệm của Liên hợp quốc, bình đẳng giới có nghĩa là phụ nữ và nam giới được hưởng những điều kiện như nhau để thực hiện đầy đủ quyền con người, có cơ hội đóng góp cũng như thụ hưởng những thành quả phát triển của quốc gia trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Bình đẳng giới là một trong những yếu tố để xác định một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, là một trong những tiêu chí đánh giá sự phát triển của xã hội. Chính vì thế mà Bình đẳng giới đã trở thành mục tiêu phát triển bền vững, được các quốc gia cam kết thực hiện. Với những nỗ lực và quyết tâm, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu về thực hiện bình đẳng giới, mặc dù vẫn phải vượt qua thách thức để tiếp tục thu hẹp khoảng cách giớiở một số lĩnh vực, ở một số địa bàn.
Ở phương diện tôn giáo, Phật giáo Việt Nam là một trong số ít tôn giáo đề cao tư tưởng bình đẳng, tạo điều kiện để Ni giới thực hành phận sự thuận lợi. Đức Phật đã đặt nền móng cho tư tưởng bình đẳng nam nữ trong xã hội. Ngài từng nói: "Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành” hay “máu cùng đỏ nước mắt cùng mặn thì không có đẳng cấp” tư tưởng đó thể hiện giá trị tôn trọng quyền bình đẳng tột cùng của mọi chúng sanh, không phân biệt giới tính, giàu nghèo.
Ngài còn đưa những tư tưởng bình đẳng, tôn trọng nhân bản con người, giải thoát con người ra khỏi mọi sự khổ đau trong xã hội và trong tôn giáo, đưa nữ giới ra khỏi những tư tưởng áp bức cố hữu và nâng cao địa vị của họ trong xã hội, để họ có thể hưởng được quyền lợi như mọi người.
Trong tinh thần bình đẳng, Đức Phật Thích Ca đã đặt mỗi giới vào đúng vị trí của họ trong xã hội,bằng những lời thuyết pháp chân chánh và tấm lòng vị tha của mình: "Không có giai cấp trong dòng máu cùng đỏ, không có hận thù trong giọt nước mắt cùng mặn"[2]
Trên phương diện giáo đoàn, quyền bình đẳng cũng được Ngài chứng minh, qua sự hiện diện của nữ giới xuất gia sống đời sống phạm hạnh như nam giới và cho ra đời giáo hội Tỳ kheo ni. Đây là một cuộc cách mạng lớn laocủa giáo hội Phật giáo tạo nền tảngquyết định cho việc ghi nhận những nỗ lực tu tập phát huy phẩm chất cao quý và khả năng trí tuệ của nữ giới.
Tư tưởng bình đẳng được Ngài truyền bá cho chúng sinh nhằm thay đổi nhận thức và thực hành trong cuộc sống. Ngài dạy cách vợ chồng phải đối xử với nhau như thế nào, qua đoạn kinh Thiện Sanh: "Người chồng nên lấy năm điều mà yêu thương cấp dưỡng vợ như: Một là yêu thương vợ. Hai là không khinh rẻ. Ba là sắm các thứ chuỗi ngọc, đồ trang điểm. Bốn là ở trong nhà để vợ được tự do. Năm là xem vợ như chính mình”Người phụ nữ phải bày tỏ lòng thương kính chồng bằng những cách như: Làm tròn phận sự của mình, ân cần đón tiếp thân bằng quyến thuộc bên chồng, trung thành với chồng, cẩn thận giữ gìn tiền bạc của cải mà chồng đem về, luôn siêng năng, không bao giờ tháo trút công việc ...". Suy ngẫm giáo huấn của Đức Phật cách đây hàng ngàn năm mới thấy thấm thía về trí tuệ cao siêu và tấm lòng bác ái vượt qua không gian, thời gian soi đến tận tâm can, dẫn dắt chúng sinh thấu hiểu chân lý.
Chân lý bình đẳng của Đức Phật đã khai mở để chư ni Việt Nam thừa hưởng đầy đủ thẩm quyền xuất gia, thọ giới Sa di ni, Thức xoa ma na, tỳ kheo ni và Bồ Tát giới. Cách đây cả ngàn năm, ni giới Việt Nam đã được hưởng những giới luật này. Việc Ni sư Diệu Nhân được Thiền sư Chân Không ấn chứng là Tổ sư thiền và Ni sư Từ Quán được vua Trần Nghệ Tông phong hiệu đại sư là sự kiện quan trọng của Phật giáo Việt Nam nói chung và Ni giới nói riêng. Đây là dấu mốc quan trọng đánh dấu sự bình đẳng nam và nữ, giữa tỳ kheo và tỳ kheo ni, trong đời sống xã hội và Phật giáo Việt Nam. Ý nghĩa cách mạng và tiên tiến này càng được khẳng định khi mà vị trí của Tỳ kheo ni được xếp ngang hàng với tỳ kheo; khi mà vai trò, vị thế, đạo hạnh, tu tập của tỳ kheo ni được công nhận, trong một giai đoạn mà đất nước ta lúc bấy giờ, định kiến giới diễn ra phổ biến, thấm sâu và quyết định mọi lĩnh vực của đời sống xã hội phong kiến.
Đến năm 1981, khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập trong tinh thần đoàn kết hòa hợp, cơ cấu nhân sự lãnh đạo trong tổ chức Giáo hội có cả chư Tăng và chư ni. Ở Việt Nam năm 2009, Phân ban Ni giới được thành lập trực thuộc Ban Tăng sự TW Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Như vậy, Ni giới đã có vị thế đầy đủ và chính danh trong cơ cấu tổ chức của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Hiến Chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam công nhận giáo phẩm của chư ni tương đương với giáo phẩm của chư Tăng, tiêu chuẩn và điều kiện để tấn phong giáo phẩm của Ni giới như quy định của hàng Tăng giới (Điều 55 chương IX, Hiến chương 2017).
Thực tế cho thấy, không phải quốc gia nào trên thế giới cũng có thể đạt được thành tựu trong bình đẳng giới nói chung bình đẳng trong các tôn giáo nói riêng. Để đạt được những kết quả như ngày hôm nay, ở Việt Nam, Phật giáo đã trải qua hành trình hàng ngàn năm. Tới nay dù thời gian có dài, dù không gian xã hội có nhiều đổi thay, nhưng Chân lý Bình đẳng được đặt nền móng trong kinh sách Phật giáo, được hiện thực hóa trong Hiến pháp, Pháp luật của Nhà nước, Hiến chươngcủa Giáo hội Phật giáo Việt Nam là nền tảng bền vững để các chư ni dù ở bất cứ cương vị nào cũngcó cơ hội khẳng định năng lực và giới đức trong Giáo hội, trong xã hội.
2. Nối tiếp mạch nguồn truyền thống, dấn thân làm đẹp cho Đời, làm lợi cho Đạo.
Phật giáo vào Việt Nam từ rất sớm, Ni giới Việt Nam có từ rất sớm, ngay từ những năm đầu thế kỷ thứ nhất đã có các vị nữ tướng của Bà Trưng, Bà Triệu xuất gia…Lịch sử còn ghi, “Trong cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng chống quân Nam Hán vào năm 40 - 43 sau Công nguyên, trong 8 vị nữ tướng của hai bà, có 5 vị là Ni sư”[3]. Một ngàn năm sau, vào đời Lý có Ni sư Diệu Nhân (1041-1113) - một Thiền sư Ni tu hành đắc pháp, là Ni sư đầu tiên ở Việt Nam được tôn vinh là Tổ sư thiền, góp phần phát triển Phật pháp.Thời Trần, có Ni sư Tuệ Thông, tu trên núi Thanh Lương, hành khổ hạnh, trì giới chuyên cần, tuệ giải thông suốt. Thời vua Lê chúa Trịnh có Ni sư Diệu Đăng, Ni sư Diệu Tín xuất thân danh giá quý tộc, giác ngộ lẽ vô thường nên từ bỏ phú quý, tìm về Yên Tử xuất gia tu tập. Ở miền Nam, đến đầu thế kỷ XX, nhiều Ni sư đã có công lao đóng góp cho sự hưng khởi phong trào tu tập của Ni giới như Ni sư Diệu Ngọc (1885-1952), Ni sư Diệu Tịnh (1910-1942). Các bậc trưởng lão của Ni giới Việt Nam do tu hành cẩn trọng, trì giới nghiêm mật, nên xứng đáng là những chư ni gương mẫu của Đức Phật mà điển hình trong số ấy có thể kể đến là Ni trưởng Như Thanh (1911-1999) - người có công vận động thành lập Ni bộ Bắc tông, Ni trưởng Giác Nhẫn (1919 - 2003), một đời phạm hạnh thanh tịnh và công đức viên mãn. Ni trưởng Trí Hải (1938-2003) người có kiến thức Phật học và thế học uyên thâm đã để lại cho đời nhiều công trình nghiên cứu, trước tác và dịch thuật có giá trị.
Nối tiếp truyền thống xuất gia tu học hành đạo của chư trưởng lão ni tiền bối, chư ni thời chống Pháp, chống Mỹ đã tham gia hoạt động chống lại ách thống trị của giặc ngoại xâm giành lại độc lập cho Tổ quốc như các Ni trưởng: Đàm Thu, Đàm Soạn, Đàm Hữu, Đàm Tín, Đàm Xương,...Trong hệ phái Khất sĩ có Ni trưởng Huỳnh Liên, Ni trưởng Bạch Liên… không chỉ nghiêm trì giới luật, trang nghiêm Tăng đoàn mà còn là tấm gương làm sáng danh Tổ quốc “Nguyện dâng hiến trọn đời mình cho nguồn đạo pháp cho tình quê hương”, câu thơ của Ni sư Huỳnh Liên đã góp phần thổi bùng lên ngọn lửa đấu tranh giành độc lập dân tộc trước năm 1975. Đối với Phật giáo, nhiều tấm gương của các chư ni không ngừng mở các đạo tràng truyền giáo, dạy luật khai mở đạo tràng giảng dạy Phật pháp, kiến tạo già lam, tổ chức các khóa An cư Kiết hạ, mở các khóa tu cho Phật tử,... 
Khi đất nước thống nhất, chư ni tiếp tục cuộc sống tu hành, nghiêm trì giới luật, hoằng dương chính pháp độ chúng đệ tử xuất gia và tại gia, tu sửa trang nghiêm tự viện, nhiều chư ni được nhân dân tín nhiệm bầu vào đại biểu Quốc hội, HĐND, UBMTTQ, BCH Hội Liên hiệp Phụ nữ và hội Chữ Thập đỏ các cấp… Nhiều chư ni đã được Nhà nước trao tặng Huân chương, Huy chương, Anh hùng lao động, các tổ chức khen thưởng bằng khen, giấy khen… tiêu biểusư cụ Đàm Đăng trụ trì chùa Diên Khánh được Chính phủ tặng Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng 2;Ni trưởng Huỳnh Liên (tịnh xá Ngọc Phương), được Nhà nước trao tặng Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, Huân chương Quyết thắng hạng Nhất;Ni trưởng Thích Nữ Từ Nhẫn được nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động năm 2016; Ni sư Thích Nữ Tín Liên làĐại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XIV,Ủy viên Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Thành hội Phật giáo TP HCM…
Nối tiếp mạch nguồn truyền thống, Ni giới Việt nam ngày nay tiếp tục dành tâm sức thực hiện tôn chỉ: “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”; đóng góp to lớn ấy được thể hiện ở các phương diện sau:
Một là, Ni giới Việt Nam dấn thân, dâng hiến trong các hoạt động an sinh xã hội, giáo dục, y tế
Ni giới cả nước với tinh thần từ bi, bác ái tiếp tục các hoạt động nhân đạo, cứu khổ cứu nạn như nuôi dưỡng trẻ mồ côi và khuyết tật, nuôi người già neo đơn, tổ chức các tuệ tĩnh đường khám chữa bệnh miễn phí cho bệnh nhân nghèo, đảm nhận các bếp ăn từ thiện,... cùng các hoạt động thiện nguyện đến mọi miền của Tổ quốc để tặng học bổng cho học sinh nghèo, xây nhà tình thương, xây cầu, khoan giếng, phát xe lăn, xe đạp, cấp phát thuốc miễn phí cho bệnh nhân nghèo,...
Tinh thần dâng hiến của chư ni còn thấm sâu nghĩa cử cao đẹp: cưu mang trẻ bị bỏ rơi, trẻ mồ côi, trẻ khuyết tật hoặc gia đình không có điều kiện nuôi dưỡng. Nhiều ngôi chùa trở thành mái ấm gia đình cho trẻ mồ côi, cho người khốn khó, trở thành lớp học dạy chữ, dạy làm người cho trẻ khó khăn, khuyết tật. Nhiều Tuệ Tĩnh Đường khám chữa bệnh miễn phí cho đồng bào bằng phương pháp y học dân tộc và y học hiện đại do chư ni thành lập. Điển hình như Phòng chẩn trị y học cổ truyền chùa Phước An (Cần Thơ) của Ni sư Thích nữ Từ Tâm, Phòng khám đa khoa từ thiện chùa Hà Tiên -Vĩnh Phúc của Ni sư  Thích nữ Diệu Nhân, Phòng khám đa khoa từ thiện Long Bửu -Bình Dương của Ni sư Thích nữ Liên Thanh đã phục vụ khám chữa bệnh miễn phí cho hàng vạn bệnh nhân có hoàn cảnh khó khăn khắp các tỉnh, thành trong cả nước… Cũng từ những hoạt động đó mà nhiều người đã bén duyên Phật pháp, quy y cửa Phật, lan tỏa giá trị nhân văn cho xã hội, điển hình như Ni sư Thích Nữ Diệu Nhân (là tiến sĩ từng là Phó chủ nhiệm khoa hồi sức của bệnh viện Nhi trung ương).
Chỉ tính riêng năm 2018, các chư ni cả nước đã vận động trên 323 tỷ đồng[4], góp phần vào công tác an sinh xã hội. Tiêu biểu là Ni trưởng Thích Đàm Nghiêm, Ni trưởng Thích Đàm Thành ở Hà Nội, Ni trưởng Thích Nữ Như Minh, Ni trưởng Thích Nữ Diệu Đạt ở Thừa Thiên - Huế, Ni trưởng Thích Nữ Như Như ở Bà Rịa - Vũng Tàu, Ni sư Thích Nữ Pháp Như và Ni sư Thích Nữ Liên Thanh, Ni sư Thích Nữ Từ Thảo ở Bình Dương, Ni trưởng Thích Nữ Từ Nhẫn, Ni sư Thích Nữ Huệ Tuyến, Ni sư Thích Nữ Nhựt Thành, Ni sư Thích Nữ Tín Liên, Ni sư Thích Nữ Như Thảo, Sư cô Thích Nữ Như Giới ở Thành phố Hồ Chí Minh,…và còn rất nhiều tấm gương nữa mà bài viết này không thể kể hết.
Hai là, thông tuệ Phật pháp, truyền dạy giáo lý, lan tỏa tinh thần thương yêu cộng đồng và góp phần xây dựng xã hội yên bình.
Với tinh thần “Hoằng pháp vi gia vụ, lợi sanh vi bổn hoài”, Ni giới đã tham gia vào công tác hoằng pháp, là ủy viên Ban hoằng pháp Trung ương và Ban hoằng pháp của Giáo hội tỉnh thành phố, thường xuyên thuyết giảng cho các đạo tràng tu tập, giảng dạy các lớp giáo lý, Phật pháp căn bản và giáo lý chuyên sâu, tổ chức các khóa tu mùa hè, khóa tu dành cho giới trẻ và trẻ em, khóa tu dành cho người khiếm thị, khóa tu dành cho bệnh nhân, người khuyết tật, vv... với chí nguyện hoằng pháp độ sanh không mệt mỏi, một số chư ni trẻ giảng sư đã được số đông quần chúng Phật tử và giới trẻ yêu mến theo học. Từ đó mà giáo pháp của Đức Phật được ban rải, lưu truyền từ miền xuôi đến miền ngược, từ đồng bằng đến miền núi, từ những người sống ở thành thị đông đúc, phồn hoa đến vùng quê nghèo còn nhiều khó khăn.
Trong bối cảnh phát triển của công nghệ thông tin, truyền thông hiện đại và mạng xã hội, các chư ni nhanh chóng tìm hiểu, tiếp thu, thay đổi các hình thức truyền giảng cho phù hợp, dễ tiếp cận với Phật tử. Nội dung truyền bá đến chúng sinh không chỉ gói gọn trong các vấn đề của kinh sách mà được kết hợp với những vấn đề trong gia đình, đời sống xã hội, môi trường sống, những vấn đề trong cuộc sống được bá tính quan tâm... với các hình thức sinh hoạt, trao đổi phong phú, linh hoạt thu hút sự tham gia của tín đồ và nhân dân. Những hoạt động mà các chư ni đang thực hiện là sự kế thừa của lịch sử, đồng thời đáp ứng đòi hỏi của bối cảnh hiện đại, thể hiện tinh thần nhập thế của Phật giáo.
Ba là, Ni giới Việt Nam đã dẫn dắt và tập hợp, thu hút tín đồ hướng thiện, ích nước, lợi nhà.
Với tư tưởng “Phật pháp bất ly thế gian giác”của Đức Phật dạy, các Ni giới đã hướng dẫn Phật tử sống tri túc và có trách nhiệm với bản thân, với gia đình, với cộng đồng xã hội, ứng xử với nhau trên tinh thần từ - bi - hỷ - xả, làm tròn bổn phận của Phật tử với đạo pháp và nghĩa vụ công dân với đất nước. Phật giáo lưu chuyển trong mạch sống của dân tộc Việt Nam hàng nghìn năm, các chư ni trong lịch sử đã truyền bá chánh pháp bằng những phương pháp uyển chuyển, dung dị, gần gũi, giúp giáo lý nhà Phật in sâu vào đời sống và tư tưởng người Việt.
Ngày nay, tín đồ Phật giáo thuộc nhiều thành phần, nghề nghiệp, hoàn cảnh khác nhau trong xã hội nên việc định hướng, dẫn dắt, hướng dẫn tu tập cần sự vận dụng phương tiện khéo léo phù hợp. Trong các đại tràng thính pháp, đa số là người bình dân, cần ứng dụng giáo pháp thuyết giảng phù hợp, cụ thể, quan tâm chú ý, hướng dẫn họ tu tập hành xử đúng chánh pháp, không để xảy ra mê tín dị đoan, thực hành sai lệch. Nhiều vị Ni trưởng, chân ni đã mạnh dạn thuyết giảng về một số hành vi chưa đúng với giáo lý của Phật giáo, nhắc nhở các tín đồ nữ chỉ chú trọng lễ lạy, dâng sao giải hạn, cầu tài lộc, bình an và sức khỏe, đốt nhiều vàng mã… mà không hiểu được giáo lý, ý nghĩa của Phật pháp. Do đó, việc nâng cao nhận thức đúng đắn giáo lý Phật giáo luôn là vấn đề quan trọng được Ni giới quan tâm dẫn dắt.
Không chỉ truyền giảng thuyết pháp, trong hoạt động của các Ni còn lồng ghép các nội dung giúp tín đồ nhận thức các hiện tượng, mối quan hệ, những biến chuyển của xã hội một cách đúng đắn, khách quan để từ đó người tín đồ hiểu đúng và xem việc chấp hành pháp luật như là một chuẩn mực về đạo đức xã hội, là trách nhiệm của mỗi cá nhân.
Bằng uy tín và đạo đức, Ni giới đã tích cực tập hợp, thu hút tín đồ, đặc biệt là các nữ tín đồ. Dù hiện nay chưa có con số thống kê số tín đồ là nữ chính xác, nhưng thực tế quan sát tại các chùa chiền thì tỷ lệ nữ giới tới các cơ sở thờ tự luôn chiếm tỷ lệ cao. Với vai trò và đặc tính về giới, ni giới có nhiều lợi thế trong tập hợp, thu hút các tín đồ tham gia các hoạt động Phật sự và và thế sự. Thực tế các Ni trưởng và chư ni đã tổ chức các hoạt động thu hút người dân theo các nhóm rất thành công.
Bốn là, không ngừng học hỏi, nâng cao học thức, phát triển chùa chiền, góp phần nâng cao vị thế Phật giáo Việt Nam trên thế giới.
Hiện nay, số lượng chư Ni ở Việt Nam đông hơn chư Tăng, trong đó có nhiều vị tốt nghiệp học vị thạc sĩ, tiến sĩ, nhiều vị tham gia đào tạo tại nước ngoài, có trình độ hiểu biết sâu rộng, thông thạo ngoại ngữ, am hiểu thế sự, nhiều vị tham gia giảng dạy tại các trường Cao trung cấp Phật học góp phần quan trọng trong phát triển đạo pháp.
Quan tâm đến hoạt động nghiên cứu, ni giới phối hợp với các trường đại học, các tổ chức, chuyên gia tổ chức các hội thảo như: Hội nghị Ni giới Phật giáo thế giới (2009), Hội thảo khoa học quốc gia “Ni giới Phật giáo Việt Nam - Truyền thống và hiện đại” (2016), Hội thảo khoa học “Di sản Sư trưởng Như Thanh - Kế thừa, phát triển Ni giới Việt Nam” (2019), hội thảo khoa học "Nữ Phật tử với Phật giáo và lễ tưởng niệm 906 năm ngày Ni sư Diệu Nhân cùng Chư vị tiền bối viên tịch"(2019), tích cực tham gia soạn thảo nội dung, đóng góp ý kiến trong các hội thảo của các đơn vị, của MTTQ Việt Nam và Hội LHPN Việt Nam.
Trong xây dựng nơi tu tập cho chúng sinh, chư ni đầu tư tâm sức tu tôn tạo chùa tháp, thành lập các cơ sở thờ tự trang nghiêm, xây dựng các cơ sở thờ tự tạo thêm điều kiện, không gian, sức mạnh… cho việc hoằng pháp lợi sinh khởi sắc hội nhập với thời đại mới. Những ngôi chùa không chỉ là nơi sinh hoạt tâm linh của Phật tử, truyền bá Phật pháp, nơi thân tâm thanh tịnh, nhắc nhở con người từ bi, xóa bỏ tham sân si, những chùa ni còn được vun vén, chăm chút tạo cảm giác gần gũi cho Phật tử, khách thập phương đến chùa như sự trở về với những người mẹ, người chị trong gia đình.
Các hoạt động quốc tế được tổ chức ở Việt Nam cũng như các hoạt động Ni giới Việt Nam tham gia ở các quốc gia khác nhau trên thế giới đã và đang khẳng định năng lực, phẩm chất, vị thế của Ni giới ở Việt Nam, đồng thời quảng bá hình ảnh quốc gia rất coi trọng việc thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, giới thiệu hình ảnh và đất nước con người Việt Nam đến cộng đồng quốc tế. Điều đó được khẳng định qua 3 lần đại lễ Vesak được tổ chức tại Việt Nam, và đặc biệt là Hội nghị Ni giới, do Phân ban Đặc trách Ni giới thuộc Ban Tăng sự Trung ương đứng ra tổ chức với chủ đề “Nữ giới Phật giáo lỗi lạc” (năm 2009 -2010) nhằm tôn vinh những thành tựu của nữ giới Phật giáo, thắt chặt tình đoàn kết hữu nghị của nữ giới trên khắp thế giới.
Với những hoạt động tích cực trong nước và quốc tế tại lễ trao giải thưởng Nữ giới Phật giáo xuất sắc thế giới (OWBA) lần thứ 17 năm 2018 có 21 vị Ni và nữ cư sĩ Phật giáo được vinh danh, nhận giải thưởng trong đó có 10 chư tôn đức Ni Việt Nam nhận giải thưởng [5] đã có đóng góp tích cực cho sự nghiệp hoằng pháp, từ thiện xã hội, hòa bình thế giới và thực hành thiền định. Giải thưởng này khẳng định vị thế của ni giới Việt Nam trên trường quốc tế qua đó khẳng định đóng góp của Ni giới với công cuộc xây dựng đất nước và xã hội tiến bộ.
Thành quả của Ni giới Việt Nam từ ngàn xưa tới nay đã được lịch sử ghi nhận. Đánh giá cao và trân quý ghi nhận cống hiến của Ni giới Việt Nam ngày nay, TW Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam luôn sát cánh cùng Ni giới Việt Nam thông qua hệ thống Hội từ Trung ương tới cơ sở để tạo điều kiện, động viên và phối hợp để hoạt động của Ni giới thiết thực, hiệu quả nhất, phát huy truyền thống xứng đáng với kỳ vọng về Ni giới Việt Nam tích cực trong phong trào thi đua “Tốt đạo, đẹp đời”.
Kính chúc quý vị hoan hỷ, an lạc.
 

[1]Thư Bác Hồ gửi phụ nữ Việt Nam nhân dịp kỷ niệm cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng và Ngày Quốc tế Phụ nữ 8-3-1952.

[2]Theo Phật học cơ bản, Tập Một, Ban Hoằng pháp Trung ương - GHPGVN.
[3] Hòa Thượng Thích Trí Quảng, Báo Giác ngộ - Tháng 6/2012
[4] Theo báo cáo tổng kết công tác hoạt động Phật sự năm 2018 của Phân ban Ni giới
[5]gồm NT.Thích nữ Diệu Cảnh (Đà Nẵng); NT.Thích nữ Huệ Từ, NT.Thích nữ Từ Nhẫn, NS.Thích nữ Huệ Tuyến, NS.Thích nữ Như Nguyệt - chùa Huê Lâm, NS.Thích nữ Như Nguyệt - chùa Phước Viên,  SC.Thích nữ Huệ Đức (TP.HCM); NS.Thích nữ Diệu Nghĩa (Bạc Liêu); NS.Thích nữ Như Uyên (Bến Tre); SC.Thích nữ Hương Nhũ (Bình Dương)

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây