04 QUAN ĐIỂM CỦA PHẬT GIÁO VỀ NỮ GIỚI

Thứ sáu - 25/10/2019 21:04
QUAN ĐIỂM CỦA PHẬT GIÁO VỀ NỮ GIỚIHT.TS. THÍCH BẢO NGHIÊMPhó Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPGVNTrưởng ban Hoằng pháp TW

QUAN ĐIỂM CỦA PHẬT GIÁO VỀ NỮ GIỚI

HT.TS. THÍCH BẢO NGHIÊM
Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPGVN
Trưởng ban Hoằng pháp TW

 
I. Quan điểm của Phật giáo về nữ giới tại gia
Có thể nói, sự ra đời của Phật giáo có ý nghĩa quan trọng đối với nhân loại, bởi tư tưởng vô ngã vị tha, từ bi hỉ xả, bình đẳng, bác ái, tinh thần dân chủ, yêu chuộng hoà bình và khả năng hoà giải, hoà hợp. Những tinh thần, tư tưởng ấy đã tác động tích cực đến việc tạo dựng hệ thống chuẩn mực đạo đức cá nhân và đạo đức xã hội ở các quốc gia chịu ảnh hưởng của Phật giáo. Và dù hôm nay, khi nhân loại đã có những bước tiến xa về kỹ thuật, công nghệ hay kinh tế, khi thế giới đã và đang bàn nhiều đến cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, thì những tinh thần và tư tưởng của Phật giáo vẫn còn nguyên giá trị. Cũng cần nói thêm rằng hiện nay, ngay cả khi Việt Nam và nhiều quốc gia trên thế giới vẫn đang tiếp tục cuộc đấu tranh vì quyền bình đẳng giới (mà chủ yếu là đòi sự bình đẳng cho phụ nữ), thì trong từ hơn 2500 năm trước, Đức Phật đã khẳng định, tất cả chúng sinh đều có cùng một bản thể, không có gì sai khác và đều có Phật tính; sự khác biệt giữa giới tính nam nữ chỉ là thứ yếu, sự giác ngộ của tâm tính mới là điều quan trọng nhất. Điều đó cũng có nghĩa là, người phụ nữ cũng có vị thế trong xã hội, có quyền độc lập, được xem là những cá nhân, chứ không phải chỉ là những món đồ thuộc sở hữu của đàn ông và được tôn trọng. “Phật giáo nguyên thuỷ không xem người phụ nữ chỉ như một công cụ sinh đẻ để bảo tồn nòi giống và mục tiêu duy nhất của họ không phải chỉ là hôn nhân. Người phụ nữ có quyền chọn không lập gia đình (mà người khác không nên dè bỉu), được quyền trở thành tu sĩ và goá phụ được quyền tái giá...”[1].
Mặc dù vậy, đôi khi Đức Phật cũng nói đến khuynh hướng tự nhiên và những nhược điểm của phụ nữ nói chung, bên cạnh việc ngợi khen tài năng và khả năng của họ. Bên cạnh đó, dù đề cao địa vị của phụ nữ trong xã hội, Ngài vẫn chỉ ra những khác biệt về xã hội và tâm lý giữa nam và nữ giới; quan trọng nhất, dù có thể độc lập, có thể được tự do, song bổn phận của phụ nữ là chăm sóc nhà cửa và người chồng của mình.
Nhưng cũng cần nói thêm rằng, để hoàn thiện những quan điểm trên cũng cần một thời gian nhất định và những sự kiện diễn ra trong lịch sử của Phật giáo đã cho ta thấy điều đó. Ban đầu và có những lúc, phụ nữ vẫn bị coi là một đối tượng  cần đề phòng và không thực sự có khả năng trong nhiều việc, ví dụ như trong “Kinh Niết Bàn” có đoạn: "Nếu người nào không tự biết mình có Phật tính, tôi gọi đó như là một người phụ nữ, nếu người nào tự biết mình có Phật tính tôi nói đó là một người đàn ông thực sự; nếu có phụ nữ nào có thể nhận ra rằng bản thân mình chắc chắn đang hiện hữu Phật tính, nên biết đó chính là một nam tử”. Rồi có những lúc, quan điểm của Đức Phật về nữ giới vừa hòa hợp vừa xung khắc. Phụ nữ nhiều lần cố làm hại uy tín thanh danh của ngài và Giáo hội[2], ví dụ nàng Sundarì bị một số Sa môn ngoại đạo ganh tị thúc giục, đã đóng vai người tín nữ ngưỡng mộ Sa-môn Gotama, hoặc Cincà giả vờ mang thai để tố cao Ngài trước mặt hội chúng đông đảo vì không chuẩn bị gì cho nàng sinh con đúng bổn phận của người cha tương lai… , hoặc bởi sự thân cận nữ nhân là mối đe dọa thường xuyên đối với giới luật Tỳ-kheo. Thậm chí việc gặp gỡ ngắn ngủi với một nữ nhân cũng có thể gợi lên dục vọng trong tâm một Tỳ-kheo chưa chứng đắc viên mãn và có thể làm vị ấy thối thất trên đường giải thoát. Vì thế, đức Phật thấy cần phải cảnh báo đề phòng trước những con người có khả năng quyến rũ và hay quấy nhiễu ấy. Thậm chí, khi Ananda hỏi Ngài lúc ấy đã tám mươi tuổi về cách một Tỳ-kheo phải cư xử với nữ giới như thế nào, Ngài đã nói: “Không nên nhìn họ, đừng nói chuyện với họ và hãy tỉnh giác phòng họ[3].
Nhưng qua thời gian, việc nhìn nhận về nữ giới của Phật giáo càng đầy đủ và theo chiều hướng tích cực hơn. Từ việc cho rằng, nếu “một người phụ nữ có thể tự nhận ra mình có Phật tính, thì chắc chắn đó là một nam tử” hay cần phải “tỉnh giác phòng họ”, vị thế của nữ giới dần dà được khẳng định. Quan điểm đó được thể hiện qua phẩm thứ Hai của bộ Kinh Tương Ưng: Khi thấy vua Pasenadi nước Kosala muộn phiền vì nghe tin báo hoàng hậu Mallika vừa hạ sinh công chúa, Phật liền khuyên:  
Này nhân chủ, ở đời, 
Có một số thiếu nữ, 
Có thể tốt đẹp hơn, 
So sánh với con trai, 
Có trí tuệ, giới đức, 
Khiến nhạc mẫu thán phục. 
Rồi sinh được con trai, 
Là anh hùng, quốc chủ, 
Người con trai như vậy, 
Của người vợ hiền đức, 
Thật xứng đáng là Đạo sư, 
Giáo giới cho toàn quốc[4]
Đức Phật cũng chỉ ra một sự thật hiển nhiên nhưng không mấy ai khi đó chịu thừa nhận, đó là: người phụ nữ là mẹ của những người đàn ông; và vì thế, không ai xứng đáng cho chúng ta kính ngưỡng, tôn sùng bằng người mẹ của mình:         
     Mẹ hiền còn sống gọi là mặt trời giữa trưa chói sáng
Mẹ hiền khuất bóng gọi là mặt trời đã lặn
Mẹ hiền còn sống gọi là mặt trăng sáng tỏ
Mẹ hiền khuất rồi gọi là đêm tối u ám[5]
Đề cao vị thế của người phụ nữ là để tiến tới đích cuối cùng - sự bình đẳng giữa nam và nữ, giữa vợ với chồng. Vì thế, Đức Phật thường dùng danh từ Pàramàsakhà (những người bạn tốt của chồng họ) để chỉ những phụ nữ đã kết hôn. Tương tự như vậy, trong Tăng Chi Bộ kinh, Ngài khuyên con cái phải kính trọng cha mẹ trong nhà, vì "cha mẹ ngang bằng với Phạm Thiên". Đức Phật dạy:"Phạm Thiên, này các Tỳ kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha.  Các Đạo sư thời xưa, này các Tỳ kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha.  Đáng được cúng dường, này các Tỳ kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha. Vì cớ sao? Giúp đỡ rất nhiều, này các Tỳ kheo, là cha mẹ đối với con cái, nuôi chúng lớn, dưỡng dục chúng, giới thiệu chúng vào đời"[6].
Còn trong phẩm Thiện tri thức của bộ kinh Tăng nhất A-hàm, Đức Phật nói: Có hai pháp dành cho người phàm phu, được công đức lớn, thành quả báo lớn, được vị cam-lồ, đến chỗ vô vi. Thế nào là hai pháp? Là cúng dường cha, mẹ. Ðó là hai người được công đức lớn, thành quả báo lớn. Lại nữa, nếu cúng dường Bồ Tátmột đời bổ xứ, được công đức lớn, được quả báo lớn. Ðó là, này Tỳ-kheo! Bố thí hai người này được công đức lớn, hưởng quả báo lớn, được vị cam-lồ, đến chỗ vô vi. Thế nên, các Tỳ-kheo, hãy thường nhớ hiếu thuận, cúng dường cha mẹ. Như vậy, này các Tỳ-kheo, nên học điều này! Bấy giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm”[7].
Qua hai đoạn kinh trên ta thấy, Đức Phật không chỉ dạy những người làm còn phải có hiếu, báo hiếu và có trách nhiệmcúng dường cha mẹ, Ngài còn khẳng định sự bình đẳng giữa nam và nữ khi đặt vị thế, vai trò của họ ngang nhau trong việc sinh dưỡng những đứa con của mình. Quan điểm này thể hiện tư tưởng “vượt trước” của Đức Phật không chỉ trong một xã hội đang bị đè nặng bởi sự phân biệt đẳng cấp như Ấn Độ lúc bấy giờ, mà còn trong cả khu vực, bao gồm nhiều quốc gia phương Đông khác, khi tư tưởng “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” của Nho giáo đang phổ biến và trở thành cách sống ở Trung Hoa và nhiều quốc gia khác.
Không chỉ khuyên con cái báo hiếu với cha mẹ, Đức Phật còn dạy người chồng về trách nhiệm đối với người vợ của mình. Ngài nói: "Người chồng nên lấy năm điều mà yêu thương cấp dưỡng vợ. Năm điều đó là gì? Một là yêu thương vợ. Hai là không khinh rẻ. Ba là sắm các thứ chuỗi ngọc, đồ trang điểm. Bốn là ở trong nhà để vợ được tự do. Năm là xem vợ như chính mình. Người chồng lấy năm điều để thương yêu, cấp dưỡng vợ"[8]. Ngài cũng chỉ ra những điều vất vả và bất lợi mà người phụ nữ phải chịu, ví như sự gian nan và khổ cực lúc phải xa nhà vào ngày cưới để về nhà chồng, sự vất vả phải tự mình gánh chịu để thích nghi với môi trường mới đầy khó khăn và trở ngại. Đó còn là cái đau đớn mà họ phải chịu đựng trong lúc kinh kỳ, mang thai và sinh nở. Tất cả những điều này tuy là những hiện tượng tự nhiên mà người phụ nữ phải chịu, nhưng là sự khác biệt giữa nam giới và phụ nữ, mà người chồng cần chia sẻ với vợ của mình.
Nhưng để người chồng có thể chia sẻ một cách tự nguyện và lâu dài, trên cơ sở 2 bên cùng có trách nhiệm với nửa kia của mình, trong kinh Anguttara Nikaya, Đức Phật khuyên người con gái trước khi đi lấy chồng nhiều điều vô cùng giá trị, như: phục vụ cha mẹ chồng trong tình thương yêu như chính cha mẹ mình; người vợ cũng phải trân trọng và kính nể thân quyến và bè bạn bên chồng như vậy bầu không khí thuận thảo và hạnh phúc sẽ được tạo nên trong gia đình; cần tìm hiểu bản tính người chồng, xác định hoạt động, tính nết, tâm tính của chồng, và trở nên luôn luôn hữu ích và cộng tác khi mới về nhà chồng; phải bày tỏ lòng thương kính chồng bằng các cách như làm tròn phận sự của mình, ân cần đón tiếp thân bằng quyến thuộc bên chồng, trung thành với chồng, cẩn thận giữ gìn tiền bạc của cải mà chồng đem về, luôn siêng năng, không bao giờ thoải thác công việc hay trách nhiệm, nên lễ phép, tử tế và ý tứ trong sự giao tế với người làm…
Một hình tượng khác đã trở nên quen thuộc đối với tất cả chúng ta là Bồ tát Quan Âm. Đáng nói ở đây là Bồ tát Quan Âm xuất hiện phần lớn với hình tượng nữ. Dù khởi nguyên ngài vốn là một “thiện nam tử” nhưng trong thực tế,hầu hết gương mặt ngài đều được thể hiện ở dạng nữ, với lòng từ bi, dịu dàng và kiên nhẫn, dù ở hóa thân nào. Điều đó cũng góp phần minh chứng cho địa vị của nữ giới trong Phật giáo, đồng thời là một sự khích lệ lớn lao của Phật giáo đối với nữ giới.
Trong Kinh tạng Pàli, những câu chuyện kể về các cuộc hội kiến giữa đức Phật và phụ nữ đều chứng tỏ Ngài xem họ bình đẳng với nam giới. Sự kiện một số nữ nhân ác hạnh, hay tranh cãi và một số nữ nhân có thể lôi cuốn các Tỳ kheo ra khỏi chính đạo, vẫn không cản trở ngài công nhận rằng nữ giới có khả năng đạt kiến thức cao và nhiều nữ nhân còn vượt hẳn nam nhi về lòng nhân từ và tận tụy hy sinh. Ngài cũng cho rằng, chính phụ nữ quyết định bầu không khí mộ đạo trong gia đình và dạy bảo con cháu các nguyên tắc đạo đức. Thực tế cho thấy, có nhiều phụ nữ trong số người hộ trì Phật Pháp phần lớn là do đức Phật - khác với các ngoại đạo sư đồng thời - đã công nhận nữ giới có ý thức trách nhiệm và đầy đủ khả năng đạt giải thoát.
II. Quan điểm của Đức Phật về nữ giới xuất gia
Không chỉ đề cao vị thế của người phụ nữ và khẳng định quyền bình đẳng cũng như trách nhiệm của nam giới và nữ giới ở tại gia, Ðức Phật còn cho phép phụ nữ  được gia nhập Tăng đoàn. Việc làm này là một đóng góp quan trọng và vô cùng thực tiễn của Đức Phật đối với xã hội và là minh chứng thuyết phục nhất cho những nhìn nhận, đánh giá của Ngài về nữ giới. Nó là bước cuối cùng để đi đến đích là công nhận hoàn toàn vị thế của phụ nữ trong xã hội.
Lúc ban đầu, Tăng đoàn gồm các đệ tử của Đức Phật chỉ toàn nam giới. Sau bài thuyết giảng đầu tiên cho năm người tu hành khổ hạnh từng chung sống với mình trước đây, Đức Phật thành lập một Tăng đoàn gồm những người từ bỏ [gia đình] (bhikkhu), và lúc đó có thể là chưa có ai nghĩ đến việc có nên cho phép (hoặc cả việc không chấp nhận) người phụ nữ gia nhập Tăng đoàn. Phải năm năm sau đó, nữ giới mới bắt đầu được gia nhập Tăng đoàn. Mọi Phật tử đều biết, việc được gia nhập này là do công của bà Maha Prajâpati Gotami (Bà-xà Ba-đề Kiều Đàm Ni)-người dì cũng đồng thời là kế mẫu của Đức Phật.
Việc đồng ý để nữ giới được gia nhập Tăng đoàn đã khiến Phật giáo trở thành tôn giáo đầu tiên cho phép thành lập Tăng đoàn nữ chúng. Chính việc chấp nhận nữ chúng tu hành, cho phép họ được hưởng các quyền tín ngưỡng tôn giáo, quyền giải thoát sinh mệnh đã là một minh chứng thuyết phục nhất về lòng từ bi của Đức Phật. Cũng bởi thế nên cho đến nay, trong các giáo hội Phật giáo, ni chúng chiếm một tỷ lệ đáng kể và có nhiều đóng góp cho Phật sự, góp phần quan trọng trong việc hoằng dương chính pháp và xây dựng giáo hội.
Tôn chỉ của giáo lý Phật giáo là hướng dẫn người tu tập đạt đến mục đích tối hậu - giác ngộ giải thoát. Phật giáo khẳng định: Mọi chúng sinh nếu phát tâm tu tập, hành trì chính pháp đều được đạt đến kết quả cứu cánh như nhau. Kết quả tốt đẹp cuối cùng (sự giải thoát) ấy không dành riêng cho một ai, kể cả đức Như Lai. Như khi công chúa Cundì đã đến bạch hỏi Phật về phương pháp và khả năng tu tập, khi nghe người anh của mình - hoàng tử Cunda nói rằng: “Nếu có người đàn bà hay đàn ông quy y Phật, quy y Pháp, quy y chúng Tăng, từ bỏ sát sinh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ say đắm rượu men, rượu nấu, người ấy sau khi thân hoại mạng chung, người ấy nhất định được sinh lên cõi lành, không vào cõi dữ", đã được Phật giảng giải: "Dầu cho các loại hữu tình nào, không chân hay hai chân, bốn chân hay nhiều chân, có sắc hay không sắc, có tưởng hay không tưởng, hay phi tưởng phi phi tưởng, Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chính Ðẳng Giác được xem là tối thượng. Những ai đặt lòng tin vào đức Phật, họ đặt lòng tin vào tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng… Với những ai làm cho đầy đủ trong các giới luật được các bậc Thánh ái kính, họ làm cho đầy đủ những gì tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng "[9].
Quan điểm trên cũng đã được Đức Phật khẳng định khi ngài Ananda hỏi liệu nữ nhân sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình... có thể chứng được các quả vị hay không?  Ngài đã nói: "Sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng, nữ nhân có thể chứng được Dự lưu quả, Nhất lai quả, Bất lai quả hay A la hán quả"[10].
Tương tự như vậy, khi du sĩ ngoại đạo Vacchagotta hỏi Ngài rằng, ngoài các Tỳ kheo Tăng, liệu có một vị Tỳ kheo ni nào đã đoạn trừ các lậu hoặc chứng đạt thắng trí ngay trong hiện tại không, thì đức Phật đã trả lời: "Không phải chỉ một trăm, hai trăm, ba trăm, bốn trăm, năm trăm mà còn nhiều hơn thế nữa là những Tỳ kheo ni, đệ tử của ta, đã đoạn trừ các lậu hoặc, với thượng trí tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại, vô lậu tâm giải thoát và tuệ giải thoát"[11].
Qua một vài đoạn kinh nói trên, ta có thể thấy vị thế của nữ giới trong giáo lý Phật giáo: người phụ nữ xứng đáng có một vị trí ngang hàng với nam giới về khả năng tu tập và đắc chứng giác ngộ.
Cũng có thể lấy một tuyên bố hết sức nổi tiếng về tư tưởng bình đẳng, đại đồng của Đức Phật và nếu nhìn tuyên bố đó từ góc độ bình đẳng giới sẽ thấy quan điểm của Ngài về sự bình đẳng nam nữ cũng như giải phóng phụ nữ: “Ví như, này Pàhàràda, phàm các con sông lớn nào, ví như sông Hằng, sông Yamuhà, sông Aciravatì, sông Sarabhù, sông Mahì, các con sông ấy khi chảy đến biển, liền bỏ tên họ trước, trở thành biển lớn. Cũng vậy, này Pahàràđa, có bốn giai cấp này: Sát đế lỵ, Bà la môn, Phệ xá, Thủ đà la, sau khi từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia trong pháp và luật được Như Lai tuyên bố này, chúng từ bỏ tên và họ của chúng trước, và chúng trở thành những Sa môn Thích tử”[12].
Như vậy, rõ ràng là trong Phật giáo, người nữ không những được bình đẳng trên phương diện giáo đoàn mà còn bình đẳng trong các phương diện giải thoát tâm linh. Ví như trường hợp của hoàng hậu Khemà đã đắc quả A la hán trước khi xuất gia, là trường hợp của Isidàsi, một người phụ nữ đau khổ có bốn đời chồng, sau khi xuất gia sống đời giải thoát đã diễn tả trong một bài thơ nỗi niềm sung sướng vì đã thoát khỏi một cách vinh quang ba điều khó chịu là cối, chày và người chống bất chính!Và vị này đã hân hoan tán thán pháp lạc tuyệt vời của người đắc quả Vô sanh: "Tôi đã giải thoát khỏi sống và chết/ Tôi đã cắt đứt sợi dây luân hồi"[13].
Nhưng điều quan trọng nhất đối với người phụ nữ trong việc đạt tới sự bình đẳng không chỉ là việc được hưởng những quyền lợi như nam giới, mà chính là sự ghi nhận khả năng đảm trách công việc như nam giới. Đó mới chính là biểu hiện rõ ràng nhất của sự bình đẳng nam nữ. Đọc trong kinh điển Phật giáo về vấn đề này, một lần nữa, chúng ta lại càng khâm phục tính “vượt trước” trong quan điểm và tư duy của Đức Thế Tôn. Ngài ghi nhận:
Trong các vị nữ đệ tử Tỷ-kheo-ni đã lâu ngày của Ta, tối thắng là Màhàpàjapati Gotamì.
Trong các vị nữ đệ tử... đại trí tuệ, tối thắng là Khemà.
Trong các vị nữ đệ tử... đầy đủ thần thông, tối thắng là Uppalavannà.
Trong các vị nữ đệ tử... trì Luật, tối thắng là Patàcàrà.
Trong các vị nữ đệ tử... thuyết pháp, tối thắng là Dhammadinnà.
Trong các vị nữ đệ tử... tu Thiền, tối thắng là Nandà.
Trong các vị nữ đệ tử... tinh cần tinh tấn, tối thắng là Sonà.
Trong các vị nữ đệ tử... thiên nhãn, tối thắng là Sakulà.
Trong các vị nữ đệ tử... có thắng trí mau lẹ, tối thắng là Bhaddà Kundalakesà.
Trong các vị nữ đệ tử... nhớ đến các thời quá khứ, tối thắng là Bhaddà Kapilànì.
Trong các vị nữ đệ tử... đã chứng đạt đại thắng trí, tối thắng là Bhaddà Kaccana.
Trong các vị nữ đệ tử... mang thô y, tối thắng là Kisàgotami.
Trong các vị nữ đệ tử Tỷ-kheo-ni của Ta, đầy đủ tin thắng giải, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Sigalàmàtà”[14].
Như vậy, có thể hiểu rằng, nếu bên Tỳ kheo Tăng có Sàriputta (Xá Lợi Phất), được mệnh danh là trí tuệ đệ nhất và Moggallàna (Mục Kiền Liên) được tôn là thần thông đệ nhất, để quán xuyến giáo hội Tỳ kheo Tăng, thì bên nữ giới cũng có Khema và Uppalavannà đều là những vị có trí tuệ vô song, thần thông vượt bậc... Và nếu mỗi chư vị Tăng là đại đệ tử của Đức Phật đều có sở trường riêng, thì các vị Tỳ kheo ni cũng hoàn toàn không thua kém. Trong Tăng Chi Bộ Kinh có phần liệt kê các đệ tử xuất chúng của cả hai giới: ngoài 41 Tỳ kheo và 11 nam cư sĩ, còn có tên 23 phụ nữ , gồm 13 Tỳ kheo ni và 10 nữ cư sĩ. Ở một đoạn khác của bộ kinh, ta thấy liệt kê danh tính của 27 nữ cư sĩ (upàsikàs) xuất chúng.
Còn về giáo phẩm, nếu bên nam giới có Hòa thượng, Đại đức thì phía nữ có Hòa thượng ni, Đại đức ni, mà chữ "ni" ở đây là chỉ dùng thêm cho mọi người biết đó thuộc nữ giới chứ hoàn toàn không có sự sai khác. 
Những minh chứng trên đây đã phần nào làm rõ quan điểm của Phật giáo về nữ giới nói chung, về vị trí, vai trò và khả năng của họ nói riêng. Hơn hai thiên nhiên kỷ rưỡi đã qua, kể từ ngày phụ nữ được chính thức gia nhập, Tăng đoàn ni chúng không ngừng lớn mạnh về mọi mặt. Hôm nay, chúng ta đang sống trong một thế giới phát triển, mỗi quốc gia (trong đó có Việt Nam) ngày càng quan tâm đến nhân quyền và quyền bình đẳng, quyền của nữ giới; vì thế Ni giới ở Việt Nam càng có cơ hội để phát triển và thể hiện vai trò, vị trí của mình trong xã hội và Giáo hội. Mong rằng toàn thể quý vị ni sẽ không ngừng trau dồi trí tuệ, công đức tu để góp phần cùng toàn thể Tăng chúng xây dựng Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày một ổn định và phát triển, xây dựng đất nước Việt Nam ngày một phồn vinh và hạnh phúc, để xứng đáng với sự tin tưởng, đánh giá của đức Thế Tôn./.
 
 
[1]Nguồn: thuvienhoasen.org/p80a22630/2/quan-diem-cua-phat-giao-ve-phu-nu#plist
[2]H.W. Schumann, Lịch sử Ðức Phật, Nguyên Tâm Trần Phương Lan dịch, Viện NCPHVN ấn hành, 1997.
[3] Trường Bộ Kinh, HT Thích Minh Châu dịch, VNCPHVN ấn hành.
[4]Tương Ưngbộ kinh (phẩm thứ Hai), HT Thích Minh Châu dịch, Viện NCPHVN, 1993, tr.194.
[5]Kinh Báo Ân, Kinh Tâm Địa Quán, HT.Phúc Điền dịch, THPGTPHCM, 1995, tr.93.
[6]Tăng Chi Bộ Kinh I (Phẩm Sứ giả của trời), HT Thích Minh Châu, Viện NCPHVN, 1988,  tr.147.
[7]Kinh Tăng nhất A-hàm, tập I, phẩm Thiện tri thức, VNCPHVNấn hành, 1997, tr.348.
[8]Kinh Trung A Hàm, quyển III,  HT Thích Thiện Siêu dịch, THPGTPHCM, tr. 266.
[9]Tăng Chi Bộ Kinh, Phẩm Sumana,  HT Thích Minh Châu dịch, Viện NCPHVN, 1988, tr.39.
[10] Tăng Chi Bộ Kinh III, Phẩm Gotamì, HT Thích Minh Châu dịch, Viện NCPHVN,1988, tr.114.
[11]Trung Bộ Kinh II, Đại kinh Vacchagotta, HT Thích Minh Châu dịch, Viện NCPHVN, 1988, tr..236
[12] Tăng Chi Bộ Kinh, tập III, HT Thích Minh Châu dịch, VNCPHVN, 1996, tr. 562
[13]Trưởng lão ni kệ, bài thứ 11
[14] Tăng Chi Bộ Kinh, Phẩm người Tối Thắng,  HT Thích Minh Châu dịch, Viện NCPHVN, 1988, tr.34.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây