GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC PHẬT GIÁO VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG ĐỐI VỚI XÃ HỘI

Thứ năm - 05/12/2019 10:09
 GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC PHẬT GIÁO SỰ ẢNH HƯỞNG ĐỐI VỚI HỘI
TS.TT. Thích Nguyên Thành
Ủy viên HĐTS
Phó trưởng ban Giáo dục Phật giáo
Phó Viện trưởng Học viện PGVN tại Huế
 
  1. KHÁI QUÁT
Bàn về giáo dục đạo đức Phật giáo thì cần xác định ý nghĩa của nhng từ ngđo đức, đo đức Pht giáovà giáo dục đo đức Pht giáo.
“Đạo đức” từ miêu tả những giá trị đặc biệt về tính tình, thái độ ứng xử, hành vi của một người hay một nhóm người, đồng thời đánh giá hành động của họ đúng hay sai, lợi hay hại đối với họ đối với những người khác. Ngôn ngữ phương Tây, dụ Anh ngữ, thường lấy gốc tiếng Hy Lạp, theo đó, hai từ chỉ đạo đức ethics (gốc ethikos) morals (gốc mos), thường được dùng lẫn lộn nhau nhưng cũng phần khác nhau. Ethics quan điểm tiêu chuẩn về phẩm chất đạo đức của một người do hội đề ra. Morals đạo đức của một cá nhân, thường được gọi tính nết, tính chất của mỗi người. Ethics nêu những thái độ, hành vi đúng hay sai theo quan điểm hội, morals nêu những thái độ, hành vi tốt hay xấu của một người. Cả hai từ ngữ này đều được gọi chung đạo đức thể 
được xem một môn khoa học, gọi đạo đức học - môn học hệ thống hóa các tiêu chuẩn đạo đức, đánh giá hành động, thái độ đúng sai, tốt xấu của con người, đồng thời phổ biến những đúng, sai, nên làm hay không nên làm, lợi hay hại đối với nhân hội.
Sau khi thành đạo dưới cội bồ đề, đức Phật quyết định không nhập Niết-bàn, Ngàilại thế gian để mang giáodạy cho mọi người sự diệt khổ, giải thoát khỏi khổ, tu tập để tiến đến mục đích tối hậu, cứu cánh Niết-bàn. Do vậy, nhiều học giả Phật học đã tôn xưng đức Phật nhà giáo dục đại.
 
  1. ĐẠO ĐỨC HỌC PHẬT GIÁO
Đức Phật dạy “Pháp Luật của ta chỉ một vị, đó vị giải thoát” (kinh Phật tự thuyết và kinh Tăng chi bộ, chương 8). Những nội dung giáo lý của Ngài chính nội dung của đạo đức học, đạo đức học Phật giáo. thể nói, toàn bộ giáo lý của Đức Phật, hay Phật học đạo đức học, nêu những thiện, bất thiện, nên làm, không nên làm tu tập thế nào để không rơi vào bất thiện, nhằm phát triển thiện để được an vui, diệt dần khổ đau, tiến đến mục đích tối hậu - Niết-bàn.
Đạo đức học Phật giáo nêu những nguyêncăn bản, khoa học được Ngài dùng trí tuệ siêu việtphát hiện ra, không phải do Ngài hay vị Thần tối cao nào đặt để, tạo dựng. Mọi người tu học đạo đức Phật giáo nhằm tạo hạnh phúc cho mình tìm cách truyền Phật pháp, giúp người khác được an vui trong tinh thần tự lực, tự do, tự quyết định kết quả những hành vi của mình. Tự do, tự tạo, nhân văn, nhân bản đặc tính của đạo đức học Phật giáo.
    1. Nguyên nhân quả, nghiệp, luân hồi: Nhân quả nghĩa nguyên nhân (hay nhân duyên) sẽ kết quả, nhân nào quả ấy. Làm ác thì kết quả xấu, làm lành thì kết quả tốt. Hànhđộng tạo ranăng lực đưa đến kết quả phù hợp với hành động, gọi nghiệp lực cũng như định luật bảo toàn năng lượng, nghiệp lực đưa đẩy con người đến nghiệp quả cứ mãi như thế từ đời này đến đời sau, chết đi rồi tái sinh mãi, gọi luân hồi.
    1. Chân Tứ đế: Sự thật căn bản, công nhận đời khổ, nguyên nhân của khổ, sự diệt khổ con đường diệt khổ. Đây xét ra cũng nội dung các môn đạo đức đều đề cập tới; khổ đau, hạnh phúc.
    2. Ngã, vô ngã: Do chấp tôivà của tôi, người ta bị tham ái, sân hận si mê bao vây dẫn đến khổ, hành động sai trái, đó thái độ chấp ngã. Không chứng minh rằng một cái ngã trường tồnnên phân tích con người chỉ nên dựa vào ngũ uẩn, chịu luật biến đổi, thường như mọi sự vật trên đời. Cho nên chấp ngã khổ đau, thực hiện ngã thì an vui.
    3. Bất thiện thiện: Đạo đức học Phật giáo nêu những hành vi bất thiện thiện để khuyên những không nên làm, nhng gì nên làm. Kinh Chánh tri kiến, (Trung bộ kinh, số 9) ghi lời Tôn giả Xá-lợi-phất giảng cho các Tỳ-kheo: “Chư hiền, thế nào bất thiện? Chư hiền, sát sanh bất thiện, lấy của không cho bất thiện, hạnh trong các dục bất thiện, tham dục bất thiện, sân hận bất thiện, si muội bất thiện. Chư hiền, như vậy bất thiện… này Chư hiền, thế nào thiện? từ bỏ sát sanh thiện, từ bỏ lấy của không cho thiện, từ bỏ hạnh trong các dục thiện, từ bỏ nói dối thiện, từ bỏ nói hai lưỡi thiện, từ bỏ ác khẩu thiện, không tham dục thiện, không sân hận thiện, chánh kiến thiện.”
Trong kinh Giáo giới La-hầu-la (Trung bộ kinh, số 61), Đức Phật dạy về kết quả bất thiện hay thiện theo ba loại nghiệp: Hành động, nói năng ý nghĩ. “Thân nghiệp này ta đang làm. Thân nghiệp này đưa đến tự tại, hoặc đưa đến hại người, hoặc đưa đến tự hại hại người; thì thân nghiệp này bất thiện, đưa đến đau khổ, đưa đến quả báo đau khổ...” “Thân nghiệp này của ta đang làm. Thân nghiệp này của ta không đưa đến tự tại, hoặc không đưa đến hại người, hoặc không đưa đến tự hại hại người; thì thân nghiệp này thiện, đưa đến an lạc, đưa đến quả báo an lạc.” Đó về hành động (thân). Về lời nói (khẩu), về ý nghĩ (ý) cũng như vậy…
Trong kinh Thp thiện nghiệp đạo (Hán tạng), Đức Pht ging hơn về ba loại nghiệp thân, khẩu, ý này cho Long Vương. Ngài nêu mười bất thiện nghiệp việc loại trừ bất thiện nghiệp này là 
mười thiện nghiệp, gồm: 3 thiện nghiệp về thân không sát sanh, không trộm cắp, không dâm; 4 thiện nghiệp về khẩu không nói dối, không nói thiêu dệt, không nói hai chiều, không nói lời hung ác; 3 thiện nghiệp về ý không tham lam, không sân hận, không si mê. Một người các hành động thiện nghiệp như thế gọi người đạo hạnh, người đạo đức cá nhân (theo nghĩa morals nói trên) cũng người đạo đức theo tiêu chuẩn hội (theo nghĩa ethics nói trên).
    1. Các giới điều: Khi được nhận Phật tử, người phải quy y Tam bảo (Phật, Pháp, Tăng) phải thọ năm giới cấm. Năm giới ấy là: Không sát sanh, không trộm cắp, không dâm, không nói điều sai trái không dùng rượu hay chất gây nghiện, gây mê muội. Đây năm giới điều căn bản về đạo đức của một Phật tử ta thấy các kinh vừa nêu nhiều kinh khác cũng đề cập tới. Đó những điều thiện, thiện nghiệp, không làm các điều ấy bất thiện nghiệp. Năm giới này cũng năm giới đầu trong mười giới Sa-di trong nội dung trong các giới điều của Tỳ-kheo.
    2. Bổn phận trách nhiệm: Bổn phận trách nhiệm một đề tài của môn đạo đức học nói chung, đạo đức học Phật giáo cũng vậy. Điều này được thể hiện trong khá nhiều kinh. Kinh Thiện sanh nói đến bổn phận trách nhiệm của mỗi người đối với cha mẹ, thầy dạy, vợ, bạn thân thích, trưởng, người giúp việc. Kinh Báo ân cha mẹ, kinh Vu-lan bồn nêu cao chữ hiếu bổn phận đối với cha m. Kinh Tăng chi b, chương 7, 7 pp nêu by loại vvà bổn phận của vợ đối với chồng. Kinh Chuyển luân Thánh vương tử hng (Trường bộ kinh, số 26), kinh Cánh cửa bi vong (Kinh tập), kinh Thập vương pháp (trong Jataka) nhiều kinh khác, nêu các đức tính, bổn phận, trách nhiệm của người lãnh đạo đất nước… Tứ trọng ân (ơn cha mẹ, ơn Tam Bảo, ơn đất nước, ơn chúng sanh) một tóm tắt của nhiều kinh về bổn phận làm người.
    3. Tu tập theo đạo đức Phật giáo: Tu tập thể hiện tâm quyết theo thiện nghiệp, theo những điều nên làm, tránh điều không nên làm. rất nhiều phương pháp tu tập: Tám vạn bốn ngàn pháp môn. Do khuôn khổ hạn chế của bài viết, chúng tôi xin liệt vài pháp môn thường được áp dụng. dụ: Tu ngã, các Ba-la-mật, ba mươi bảy phẩm trợ đạo gồm 4 niệm trụ, 4 chánh cần, 4 thần túc, 5 căn, 5 lực, 7 giác chi 8 chánh đạo…
 
  1. GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO ẢNH HƯỞNG ĐỐI VỚI HỘI
Phổ biến, giải thích, bàn luận, khuyến khích… đạo đức Phật giáo nghĩa giáo dục Phật giáo. Chư Tăng Ni hoằng pháp nhân tố chủ lực để giảng dạy đạo đức Phật giáo.
Các tự viện, các khóa tu, lễ lạc, các buổi giảng pháp… những nơi quần chúng Phật tử tụ tập, dựa vào đó, việc giáo dục đạo đức Phật giáo hoàn cảnh tốt để được thực hiện. Các sở giáo dục Phật giáo đào tạo Tăng Ni chính đào tạo những người kiến thức, đạo đức trình độ chuyên môn để thực hiện giáo dục đạo đức Pht giáo. Trong thời đại mới, Pht giáo đang trên đà phát trin, theo thống chưa đầy đủ, hiện nay trên thế giới trên 500 triệu tín đồ Phật giáo, nhiều tự viện Phật giáo được thành lập. Các vị Tây Tng, Sri Lanka, Nht Bn, n Đ… thường xuyên mang đo đức Phật giáo giảng dạy tại nhiều nơi trên thế giới. Tại Việt Nam, hiện khoảng 17.000 tự viện Phật giáo với khoảng 40.000 Tăng Ni, qua đó, thể tạo hiệu năng giáo dục đạo đức Phật giáo. Trang web Thư viện Hoa Sen ngày 26/10/2010 liệt được 200 ngôi tự viện Việt Nam với đầy đủ địa chỉ tại hải ngoại.
Hãy lấy việc tuân giữ năm giới để xem ảnh hưởng giáo dục đạo đức Phật giáo đối với hội:
Không sát sinh: Tôn trọng đời sống của mọi sinh vật, sự sống của mình người khác. Nếu mọi người đều thủ trì giới này,hội sẽ an lành, không bạo lực, giết chóc, thế giới sẽ không chiến tranh. Con người hay muôn thú đều quyền tồn tại, môi trường sinh thái được ổn định.
Không trộm cắp: Không tham, tôn trọng những của người khác, tri túc, tự bằng lòng với những mình có.
Không dâm: Giữ ý nghĩ trong sáng, hiền thiện, tôn trọng phụ 
nữ, tôn trọng gia đình, hạnh phúc gia đình, không quan hệ lang chạ;, quan hệ nam nữ chính đáng, bình đẳng…
Không vọng ngữ: Không xuyên tạc sự thật, tạo sự nhu hòa, thân thiết, thành thật trong giao tiếp.
Không dùng chất say, gây nghiện tránh được sự u mê, mấttrí nếu phạm giới điều này, thể phạm đến cả bốn giới điều trước.
Như vậy, nếu năm giới cấm trên được mọi người tuân giữ thì hội được an lành. Cho nên, giáo dục đạo đức Phật giáo cần đặt căn bản trên đối tượng một người bình thường. Đạo đức cá nhân đạo đức hội thể căn cứ vào việc thủ trì năm giới cấm này.
  1. THAY LỜI KẾT: MỤC ĐÍCH TỐI HẬU CỦA ĐẠO ĐỨC HỌC PHẬT GIÁO
Những nhà đạo đức học phương Tây (như Epicurus, Socrates, Plato, Aristotle, Kant, Max Scheler, Sartres…) thường đề cập đến hạnh phúc. Nhưng ý nghĩa của hạnh phúc không dễ xác định. Người ta thường bảo hạnh phúc sự thỏa mãn vật chất tinh thần. Thật ra, chỉ sự thỏa mãn những đòi hỏi của ham muốn vốn cứ tăng lên mãi. Do đó, không bao giờ đáp ứng được. Đạo đức học Phật giáo dạy người ta diệt tham, sân, si bằng cách thực hiện ngã, không cái gì gi là tôi, của tôi. Cái tôi chỉ là skết hợp của m un vốn thường như mọi sự vật. Cho nên tu ngã thì dần loại bớt khổ đau, tức: Tham, sân, si. Kinh nghiệm cho thấy mỗi khi thực hiện ngã (bố thí, từ bi, giúp người, không giận hờn…) thì niềm vui, đó biểu hiện của hạnh phúc,sự giảm thiểu khổ đau. cứ thế, tu tập, thực hành cho đến khi thoát khỏi khổ đau ràng buộc, tiến đến hạnh phúc miên viễn, cứu cánh Niết-bàn. Đó mục đích giáo dục của đức Phật khi Ngài dạy: “Này các Tỳ-kheo, xưa cũng như nay, ta chỉ nói lên Khvà Diệt kh(Kinh Xà d, Trung bộ kinh, số 23).
 
***
 
 
Tài liệu tham khảo
Kinh: Trường bộ kinh (Chuyn luân Thánh vương sư tử hống), Trung bộ kinh (Chánh kiến, Giáo giới La-hu-la, Xà-d), Tăng chi bộ kinh (Chương Bảy, Bảy pháp), Tiểu bộ kinh (Phật tự thuyết, Cánh cửa bại vong, Thập vương pháp), Hán tạng (Thập thiện nghiệp đạo, Vu-lan-bồn, Báo ơn cha mẹ)
Đạo đức học Phật giáo, Nhiều tác giả, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, 1995.
Địa chỉ các ngôi chùa Việt Nam hải ngoại (thuvienhoasen.org) Buddhist ethics (Buddhanet.net)
Difference between morals and ethics for Freedom and Happiness (resaunders.liberty.me)
Ken Fones, Buddhism and social action (accesstoinsight.org)

 
  
 
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây