9. TỪ GIÁO DỤC PHẬT GIÁO CỦA SRI LANKA ĐẾNHƯỚNGPHÁTTRIỂNCHOGIÁODỤCPHẬTGIÁO TẠI VIỆT NAM

Thứ sáu - 06/12/2019 03:34
TỪ GIÁO DỤC PHẬT GIÁO CỦA SRI LANKA
ĐẾNHƯỚNGPHÁTTRIỂNCHOGIÁODỤCPHTGIÁO TẠI VIỆT NAM
NCS.ĐĐ. Thích Thanh An

 
TÓM TẮT
Sri Lanka được biết đến đất nước c Phật giáo Quốc giáo cũng chính yếu tố này các lĩnh vực liên đới đều phát triển một cách chuẩn mực đi theo một quỹ đạo được định hướng từ lâu đời, mang đầy giá trị lịch sử bản sắc riêng của đất nước này. Một trong những thành tựu đặc trưng của Sri Lanka chính nền giáo dục Phật giáo đã c mặt từ rất lâu đời trải qua nhiều biến cố lịch sử của đất nước cũng như các công cuộc cải cách hệ thống này kng ngng Hòan thin và phát trin. Triết lý Pht học đã được các bậc học giả nghiên cứu, trình bày vận dụng vào tất cả các phương diện học thuật và thực tế một cách phổ quát và sâu sắc. Thời buổi khai của nền giáo dục Phật giáo tại Sri Lanka cũng chỉ những lớp học pirivena rồi dần dần mới phát triển nhân rộng lên thành hình thức, Vidya đến hôm nay các trường đại học, cao đẳng, hay Viện Cao học đào tạo về Phật học Pali, Sanskrit trong cả hai ngôn ngữ song song Sinhalese tiếng Anh. Bài viết này tập trung trình bày về tình hình hiện tại, phương pháp dạy các chính sách nổi bật của nền giáo dục Phật giáo trong các trường 
đại học, viện cao học chủ yếu từ cấp bậc cử nhân đến tiến Phật học qua các mô hình quản lý dựa trên phân chia chuyên ngành bố trí chương trình đào tạo, vận hành. Qua đ, đề xuất một số ý kiến cá nhân về hướng phát triển cho việc đào tạo Phật học tại nước nhà.
  1. GIỚI THIỆU
Đảo quốc tử Cylon (tên gọi trước đây của Sri Lanka) c một nền Phật giáo thấm nhuần từ tư tưởng đến phong hóa, lối sống tập tục, thơ ca tất cả các lĩnh vực liên đới như chính trị, văn hóa, hội. Theo Mahavamsa - Đại sử cũng như Đảo sử - Dipavamsa, Phật giáo được truyền vào Sri Lanka do Ngài Mahinda một vị A la hán từ Ấn Độ khoảng thế kỷ III trước Tây lịch. Đây vị con trai thứ 3 của Hòang đế Ashoka tại Ấn Độ thời đ. Ngài Mahinda đến Sri Lanka vào thời của vua Devanampiya Tissa trị Cylon lúc bấy giờ c cung điện đng tại kinh đô Anuradhapura. Thời kỳ này, tuy Phật giáo mới du nhập nhưng được sự ủng hộ cùng mạnh mẽ của vua dân chúng, các sở tự viện cũng bắt đầu được hình thành mở đầu cho thời kỳ hưng thịnh của Phật giáo tại Cylon. Một trong những mốc đánh dấu sự hình thành khang đại về cách thức giáo dục cổ điển đó giáo dục trong tự viện, theo đ, Mahavamsa chép rằng “Đức vua Devanampiya Tissa muốn cho toàn thể dân chúng cả nước đều được nghe Ngài Mahinda thuyết giảng nên đã cho xây dựng mội đại hội trường. Thật không may, số lượng quần chúng quá đông nên sức chứa của hội trường vẫn không đủ. Do đ, vua cho sửa chữa trại quản tượng để nới rộng phòng giảng hầu cho mọi người c đủ chỗ ngồi nghe giảng dạy”1. Thời kỳ này còn được biết đến với việc cây non của cây bồ đề Sri Maha được đưa đến Sri Lanka cũng khi các tu viện tượng đài Phật giáo đầu tiên được thành lập. Phật giáo đã hưng thịnh trong nhiều thế kỷCeylon. hình giáo dục Phật giáo trong tự viện đã manh nha từ đó dần phát triển thành những chỉnh thể hệ thống sẽ được trình bày trong phần khảo sát chi tiết.
Trên một bình diện khác, nền tảng của hệ thống giáo dục Phật giáo Sri Lanka sở dĩ được coi một trong những hệ thống c uy tín nhất của giới học thuật Phật giáo xuất phát từ những nguyên nhân chính yếu từ văn ha tín ngưỡng tôn sùng đạo Phật trên nền tảng thâm nhập giáo lý. Nguyên nhân thứ hai tiếp cận gần nhất với nguồn gốc Phật giáo từ Ấn Độ bao gồm cả trên phương diện địa lý, văn ha lẫn ngôn ngữ Pali Sanskrit. Nguyên nhân thứ ba được các bậc tu chứng ngộ đạo trực tiếp truyền trao giảng dạy từ Ấn độ sang. Nguyên nhân thứ tứ cùng quan trọng đó hệ thuống ngôn ngữ Sinhalese gần như tương đồng với Pali khoảng 80% về phương diện bảng chữ cái, cách phát âm ngữ pháp. Nguyên nhân thứ năm văn ha đọc sách vốn đã ăn sâu trong tiềm thức của người dân. Nguyên nhân quan trọng nhất xuất phát từ cấu trúc quảntheo khu vực làng bn của các vsư và mô thức ‘pirivena. Vy, do đâu mà trải qua biết bao nhiêu biến cố chính trị, đặc biệt sự thống trị của đế quốc Anh, nền giáo dục Phật giáo không những không bị mai một còn phát triển rầm rộ trên mọi lĩnh vực dựa trên một nền tảng cùng vững chắc để c thể duy trì lâu dài bền vững.
  1. GIÁO DỤC PHẬT GIÁO TẠI SRI LANKA
    1. Bối cảnh lịch sử, hội nền giáo dục Phật giáo Sri Lanka thời kỳ đầu
Bối cảnh lịch sử của Sri Lanka c tác động cùng lớn đối với nền giáo dục nói chung giáo dục Phật giáo nói riêng của nước này.đây, chỉ trình bày những vấn đề liên quan trực tiếp đến nền giáo dục Phật giáocác giai đoạn lịch sử bản cũng nhưng điểm qua đôi nét khái quát về bối cảnh lịch sử nơi đây. Sri Lanka, theo các biên niên sử phổ biến của đảo quốc này như Mahavamsa, Dipavamsa Culavamsa thì mối quan hệ giữa Cylon Ấn Độ, các nước vùng Ấn Độ Dương cùng mật thiết; bộ tộc Balangoda như tiền nhân của dân tộc Cylon. Nhà nước thời tiền sử đầu tiên được xác định vào khoảng thế kỷ VI trước Tây lịch dưới triều đại Tambapanni. Quốc đo này thời ksơ khai hình tnh các tiu quốc nhỏ được thống nhất dưới triều đại vua Chola trải qua 181 vị vua trị khác nhau từ Anuradhapura đến Kandy. Từ thế kỷ XVI đến 1972 sự thống trị của các nước châu Âu như Lan, Bồ Đào Nha Anh, đặc biệt Anh quốc cai trị lâu dài nhất ảnh hưởng sâu nặng nhất. Đến năm 1972, Sri Lanka đã Hòan toàn xa bỏ mọi ảnh hưởng từ Anh quốc.
Trong tiến trình tng trm như thế, Pht giáo vn luôn giữ một vai trò tối ưu quan trọng từ văn ha đến chính trị đời sống của người dân. Một trong những nét đặc trưng của nền giáo dục Pht giáo sơ khai của Cylon chính là hệ thống pirivena. Thut ngpirivena tiếng Sinhalese, nó được biến thể từ nguyên gốc Pali ‘parivena’; c nghĩa nơi cư ngụ, tự viện. Hệ thống giáo dục pirivena c thể được định nghĩa như một hệ thống giáo dục cổ điển dựa trên nền tảng căn bản những lời dạy của Đức Phật”2. Hệ thống này được coi như hệ thống giáo dục cùng chất lượng c những đng gp to lớn về mặt hội cấu thành phần Tăng c trình độ gp phần tạo nên những giá trị lịch sử lâu dài. Vào thời đại kinh đô Anuradhapura đã c khoảng 3.000 đến 5.000 tăngtheo học trong các tự viện thuộc hệ thống giáo dục này. Thời kỳ đầu tiên, hệ thống pirivena này chỉ dạng vừa nhỏ đặc biệt chỉ dành riêng cho cộng đồng tăng lữ. Tuy nhiên, về sau này, các tầng lớp tại gia cư sĩ cũng được tham dự theo học giáonhững kha như thế. C thể nói, hệ thống pirivena này thông qua sự bảo trợ của vua Hòang gia đã chú trọng đào tạo Tăng Phật tử không những mục đích truyền giảng dạy đáp ứng nhu cầu học tu của cộng đồng Phật giáo cốt yếu đào tạo các nhà truyền giáo xuất chúng để gánh vác trọng trách truyền đạo Phật ra các vùng chưa c ánh sáng Phật pháptrong nước nước ngoài.
Hệ thống này đã c những sự phát triển nhanh chng từ phạm vi mô hình đến sở hạ tầng. Như đã trình bàytrên, ban đầu chỉ c các phòng nhỏ trong các tự viện sau nhân rộng thành các sở hội trường lớn hơn c quy mô cũng như hệ thống chặt chẽ hơn.

Bên cạnh đó giáo trình khai hai tạng chính của Phật giáo đó King tạng Luật tạng. Đến thời đại của Ngài Buddhagosha, một bộ phần nòng cốt khác được hình thành phát triển trở thành nét đặc trưng của giáo dục Phật giáo Sri Lanka bộ Chú giải. Bộ Chú giải được xem ra đời tại Mahavihara3  được viết bằng tiếng Hela bởi Ngài Buddhagosha người chủ biên cùng với các vị học giả như Mahātthakatha, Mahāpaccari, Kurundi, Andhatthakathā, Sankhepatthakathā, Buddhadatta, Dhammapāla, Badaratittha Dhammapala, v.v…4 sau đó chuyển dịch sang tiếng Sinhalese Pali, đến nay các nguyên nhân chủ quan hay khách quan chỉ còn lại bản Pali.
Đến thế kỷ XII xuất hiện thêm một trung tâm giáo dục Phật giáo lớn nữa ở kinh đô Polonaruwa với tên gọi Alahana Pirivena. Như vậy c thể khái quát bộ nền giáo dục Phật giáo tại Sri Lanka thời kỳ đầu sự hình thành phát triển của hệ thống Pirivena với các trung tâm giáo dục đào tạo đội ngữ Tăng để truyền đạo khắp nơi c thể coi đây các đại học Phật giáo thời đ. Theo đ, c thể khái quát rằng c 3 trung tâm giáo dục chính yếu buổi đầu gồm Mahavihara (thế kỷ III trước Tây lịch), Abhayagiri Mahavihara (thế kỷ nhất trước Tây lịch) Jetawana Mahavihara (thế kỷ III sau Tây lịch). Các trung tâm này tập trung chủ yếu ở kinh đô Anuradhapura cho đến thế kỷ XI sau Tây lịch; trung tâm Alahana PirivenaPolonnaruwa từ thế kỷ XII sau Tây lịch. Về bộ phận các môn học, ngoài Phật học ra còn các bộ môn khác được phân chia làm 2 hệ thống với tên gi là Sutavà Sippa. Hệ thống Sutagồm các bộ môn như ngôn ngữ, tôn giáo, triết học, lịch sử, kinh tế địa lý. ‘Sippa’ bao gồm các kỹ năng như nông nghiệp, chiêm tinh, nghề mộc. Hai hệ thống này được tiêu chuẩn ha c phương pháp, phác thảo bởi các học giả trong nước các quốc gia như Thái Lan, Campuchia Miến Điện.


 
    1. Giai đoạn vương triều Kōttē
Sau thời khưng thịnh trong các triu đại Tambapanni, Anuradhapura, Polonnaruwa thì tình hình chính trị xảy ra nhiều xáo trộn dẫn đến hệ quả nền giáo dục Phật giáo cũng c nhiều thay đổi đáng kể. Mãi đến nửa sau thế kỷ XIV hội cũng như tình hình đào tạo mới dần lấy lại vị thế phát triển lên một cung bậc mới, thời kỳ này trong tiến trình lịch sử giáo dục Phật giáo Sri Lanka gọi thời kỳ Kōttē (1371 – 1579). Một loạt các chính sách bảo trợ giáo dục tối đa được ban hành dưới triều đại này đã kích ứng nên những thành tựu hiệu ứng vượt trội trong ngành giáo dục. Hệ thống giáo dục tự viện được đẩy mạnh bằng các sự sàng lọc tinh anh giữa đội ngũ Tăng lữ giảng dạy kết hợp với các thành phần trí thức thuộc giới nghiên cứu Hòang gia để điều chỉnh các công tác giảng dạy. Tài trợ kinh tế tất cả các tiện dụng tối đa cho các Tăngxuất chúng học giả để họ chuyên tâm vào việc nghiên cứu. Ngoài ra, nhà vua còn bổ sung các chức quan chuyên trách việc giáo dục. Chính bản thân nhà vua cũng một người đamnghiên cứu trước tác các tác phẩm thi phú ca ngâm để chuyển tải các thâm nhập từ giáoPhật đà. thật không quá khi giới học giả Tăng sĩ lúc đó vị vua này như vua Bhoja người c công lớn bảo trợ tuyệt vời cho công cuộc phát triển nền giáo dục Ấn Độ cổ xưa5. Thành công lớn nhất ở triều đại này việc biên tập lại tam tạng Pali trong đó việc sắp xếp cũng như in ấn một cách Hòan chnh bộ Chú giải Atthakatha quan trọng nhất. Hệ thống giáo dục Pirivena được tái cấu tổ chức đặt ra những chức vị quyền hạn cụ thể cho những vị đứng đầu với các điều luật nghiêm ngặt sít sao hơn. Có thể coi đây sở nền mng cho các mẫu thức điều hành đại học sau này. Các vị đứng đầu như viện trưởng các hệ thống. Nhà vua đã đặt ra hệ thống lương bổng để trả cho các vị giảng tài trợ các công trình nghiên cứu trước tác được in thành sách trên chất liệu vải như một cách khuyến khích nghiên cứu. Tổ chức cấp phát các giấy chứng nhận cho các học viên đã hòan thành các kha học chính thức như Phật học, Ngôn ngữ, Triết học, Logic học v.v…
Một yếu tố đặc thù của giáo dục thời kỳ này Tăngmuốn Hòan thành kha học bên cạnh sự thông suốt giáo điển ra bắt buộc phải Hòan thành một môn thế học phải c công trình nghiên cứu cụ thể6. Đặc biệt nhất sự liên kết giữa các hệ thống pirivena để tạo thành 2 khối hệ thống hùng mạnh đây những viên gạch đầu tiên tiền đề cho sự hình thành phát triển rực rỡ hai trường đại học Phật giáo danh tiếng sau này Kelaniya Sri Jayewardenepura. Hai hệ thống này bao gồm:
  1. Vịayabāhu Pirivena gồm: Sunētrāmahādēvi pirivena, Saptaratanapatirāja pirivena, Rājaratna pirirvena, Gatāra pirivena (Kelaniya) Lanka Senevirat pirivena.
  2. Kéragala Padmāvati Pirivena gồm: Dharmarāja pirivena, Pañcamūla pirivena Sirinivāsa pirivena. 7
Những vị chủ tọa của hai hệ thống này được gọi Tipiakavāgiśvarācārya8, vị này thông thạo 6 thứ tiếng như Sanskri, Prātrit, Māghadhi, Saūraséni, Apabramsa Paisaci. Thượng tọa Totagamuwa Sri Rahula và Hiu trưởng của hệ thống Vayabāhu Pirivena; còn hệ thống Vịayabāhu Pirivena do Thượng tọa Vanaratna Sangharāja làm Hiệu trưởng. Bên cạnh đ, các hệ thống nhỏ lẻ khác cũng được các vị Tăng sĩ lỗi lạc lãnh đạo. Chương trình giảng dạy thời kỳ này được đúc kết soạn thảo dựa trên các nghiên cứu của các học giả lỗi lạc bấy giờ c thể nói sự thống nhất chương trình giảng dạy một bước đột phá rất lớn thành công vang dội. Ngoài chương trình chính thống của hệ thứ nhất tương đối nghiêm ngặt thì hệ thứ hai c cách tiếp cận tương đối phng khang hơn. Nhìn một cách tổng thể, thời gian học tập của hệ thống lúc bây giờ phải trải qua 3 giai đoạn chính. Giai đoạn thứ nhất theo học với một vị thầy theo dạng đọc tụng thuộc, giai đoạn thứ hai giai đoạn nghiên cứu học hỏi vấn đáp trong giai đoạn này chia nhỏ thành các thời kỳ khác nhau tuỳ theo sức hấp thu, trình độ cũng như sự nhy bén của học viên. Trong giai đon 2 này chyếu là các quá trình nghiên cứu chi tiết các vấn đề trong Kinh Luật; kết hợp với các bài giảng chú giải phần Kinh tạng Pali tiểu bộ.
Giai đoạn cuối cùng dành cho các học viên trở thành Tỳ kheo giảng dạy hay làm việc. Việc nghiên cứu chi tiết tmcác chi phần của Luật Abhidhamma được rốt ráo thực hiện trong giai đoạn này.
Chúng ta c thể khái quát cấu trúc môn học trong thời kỳ này qua bảng sau:

Ngành học

Môn học

Khoa học
Toán Luật Kịch

Dược
Chiêm tinh
Triết học
hay Tôn giáo học
  Sáu trường phái của Ấn giáo  

Ngôn ngữ học
Pali
Sinhalese
Sanskrit Prakit

Tam tạng học
Kinh Luật
Luận
Chú giải Hậu chú giải
 
    1. Giáo dục Phật giáo Sri Lanka từ độc lập đến nay
      1. Đại học Cylon (Đại học Colombo)
Như đã đề cậpphần 1 của bài viết này, các lĩnh vực khảo sát trong bài viết chủ yếu tập trung ở cấp độ đại họcsau đại học của chuyên ngành Phật học. Nếu khảo sát về danh nghĩa độc lập thì vào năm 1948 Sri Lanka đã được công nhận nhà nước độc lập, tuy nhiên để tự chủ that mọi lệ thuộc một cách triệt để thì phải tính đến năm 1972. Tuy nhiên hệ thống giáo dục cấp đại học lại được hình thành khá sớm thậm chí trước cả những năm chưa độc lập đó sự ra đời của Đại học Cylon vào năm 1942, đây tiền thân của Đại học Colombo ngày nay. Chuyên ngành Phật học Pali một bộ phận thuộc Phân khoa Nghệ thuật của trường này.
Đại học Cylon ở buổi đầu thành lập với sự hạn chế về mọi mặt nhưng đây cũng bước đột phá giúp cho hệ thống này nở rộ về sau. Ban đầu thì chỉ c 4 Phân khoa chính thức của đại học này bao gồm khoa Y học, khoa Khoa học, khoa Đông Phương học và khoa Nghệ thut. Tng hệ thống nn sbao gồm bộ phận học thut và bộ phận hành chánh thời gian đầu cùng khiêm tốn. Số lượng giảng viên ban đầu chỉ c 15 giáo sư, 20 giảng viên trực thuộc, 08 trợ giảng, 12 giảng viên thỉnh giảng đội ngũ nhân viên hành chánh khiêm tốn chỉ có 10 nn sự. Trong khi đó, số lượng sinh viên của 4 khoa chỉ vỏn vẹn 904 sinh viên; trong đó khoa Nghệ thuật Đông phương học c 396 sinh viên, khoa Khoa học c 250 sinh viên khoa Y học c 258 sinh viên9.
Đến khoảng năm 1963, chuyên ngành Phật học Pali được thành lập kéo dài đến năm 1970 bị gián đoạn do các công cuộc cải cách giáo dục; thời kỳ này chuyên ngành này trực thuộc khoa Nghệ thuật. Mãi đến năm 1997, chuyên ngành này được tái thiết lập đt dưới sự điu nh của giáo sư Karunadasa là Trưởng khoa. Trải qua các nhiệm kỳ đặt dưới sự điều hành của các giáo nổi tiếng; đến nay, chuyên ngành này do Thượng tọa giáo sư M. Dhammajoti là Trưởng khoa với sự tham gia ging dy của đi nggiáo sư li lc và tiếng m. Trong số đó phải kể đến giáo sư Asanga Tilakaratne, Ông là vtiến sĩ Triết học vso sánh tôn giáo tại Đại học Hawai, Mỹ với luận án Tiến sĩ được bảo về vào năm 1992. Ngoài ra, chuyên ngành này còn c các giáo tiến Tăngcũng như cư sĩ tốt nghiệp trong nước quốc tế như: Thượng tọa tiếnUduhawaraA
nanda (Colombo)10, Tiến Wimal Hewamanage (Wahan), TiếnS. Vijitha Kumara (Sri Jayewardenepura). Bên cạnh đ các vị giáo thnh giảng được mời từ các Đại học như Kelaniya, Buddhist and Pali, Sri Jayewardenepura, Hongkong, Taiwan, Myanmar và Thái Lan.
Số lượng sinh viên hiện tại cho lớp Sinhalese hệ cử nhân 145 sinh viên gồm Tăng ni sinh viên thế tục tất cả đều người dân trong nước; lớp tiếng Anh hệ cử nhân 98 sinh viên bao gồm sinh viên quốc tế trong nước. Thành phần sinh viên quốc tế chủ yếu đến từ các nước như Trung Quốc, Myanmar, Nepal, Banglades vào Lào. Chương trình đào tạo của hệ Cử nhân c thể phân làm hai loại. Th nhất hệ giáo dục phổ thông với 3 năm tính cả thời gian dự bị 1 năm bao gồm 6 học kỳ. Năm đầu tiên được xem năm nhẹ nhàng nht và áp dụng cho cả hai hệ thống phổ thông và đt bit. Trong năm này chia làm 2 học kỳ với 4 môn học gồm Giới thiệu tổng quan về nghiên cứu Phật học, văn học Pali, Giáocăn bản của Phật giáo kỳ tổng quan về cấu thành văn bản Pali. Cấu trúc môn học cho năm 2 3 của hệ phổ thông bao gồm 7 môn cho học kỳ 3, 4 môn cho học kỳ 4, 9 môn cho học kỳ 5 8 môn cho học kỳ 6. Chủ yếu các môn học về giáo lý của Theravada như Luật, Vi diệu pháp, Triết học Xã hi Pht giáo, Tư tưởng Pht giáo n Đ, Lịch sPht giáo Ấn Độ Sri Lanka, Đạo đức học Phật giáo, Kiến trúc Nghệ thuật Phật giáo, Sự truyền giáo pháp, đặc biệt bộ môn Phật giáo Trung Hoa thời hin đại xut hin. Bộ môn duy nht liên quan đến Mahayana kỳ cuối năm cuối của hệ phổ thông tưởng Tánh kng.
Đối với cấp bậc cử nhân hệ Đặc biệt thì đòi hỏi phải cần đến 4 năm với luận án tốt nghiệp kỳ thi cuối kha. Sởgọi đặc biệt, nó c những yếu tố ‘đặc biệt’ sau:
    • Sau khi được tốt nghiệp hệ này với văn bằng bình thường c thể bắt tay vào viết luận án thạcngay không cần học các môn học của năm đầu hệ thạc sĩ.
    • Nếu đạt được văn bằng xuất sắc của hệ đặc biệt này thì được đặc cách thông qua thạc trực tiếp bắt tay vào những bước đu tiên của khóa thc sĩ Triết học (tạm gọi là Phó Tiến sĩ theo hệ giáo dục bên này).
  • Hệ thống môn học của hệ này nhiều hơn hệ phổ thông 1 năm với các môn học chủ yếu các môn ở hệ phổ thông cộng thêm các môn như Phương pháp nghiên cứu, tưởng Phật giáo Mahayana, Duy thức, Tánh kng, Logic học Pht giáo, tâm lý học Phật giáo, Nhận thức luận Phật giáo; sinh viên phải đảm bảo 2 trong 4 yêu cầu ngôn ngữ Pali, Sanskrit, Prakit, Tibetan.
Đối với cấp độ thạc sĩ, Đại học Colombo mở ra cho sinh viên lựa chọn theo hai hướng gồm một năm hai năm. Tuy nhiên, các bước này phải đảm bảo những tiêu chí riêng biệt bước mở đầu chương trình dự bị thạc với thời lượng 1 năm gồm 6 môn học bắt buộc. Tiêu chuẩn đầu vào của lớp này gồm các tiêu chí như Hòan tất ít nhất 3 năm cử nhân c văn bằng của chuyên ngành Phật học Pali tại trường hoặc các trường khác; hoặc đã thạc sĩ, tiếncác ngành khác như Luật, Kỹ sư, Kiến trúc hay Bác sĩ; hoặc quan cảnh sát quân đội trở lên c kinh nghiệm trên 10 năm; hoặc được sự chấp thuận của Hội đồng học thuật nếu không thuộc 3 tiêu chí trên. Về chương trình giảng dạy lớp dự bị này, sau môn học bắt buộc gồm: Nguồn gốc, Lịch sử sự phát triển của Phật giáo, Thiền học Phật giáo, Nền tảng giáoPhật học, Phân tích các học thuyết của các Truyn thống Pht học, Kiến trúc – Nghệ thut và Văn ha Phật giáo, Ứng dụng hội của đạo Phật. Sau khi Hòan thành kha học này, học viên được tham dự lớp chính thức thạcvới 8 môn học chính trong 1 năm luận án trong một năm. Tám môn học bt buộc là Phương pp nghiên cứu Pht học, Truyn thống Theravada – Lịch sử, đức tin và thực nh; Triết học Pht giáo của Giáo dục, Tâm lý học Phật giáo trị liệu, Phật giáo Luật học-công bằng, dân chủ nhân quyền, Phật giáo Kinh tế, chính trị hội, Phật giáo và Văn ha Kiến trúc Nghệ thuật.
 

Về tiêu chí của luận án, mỗi luận án phải đảm bảo ít nhất 2 lần bảo vệ phải trên 60 ngàn từ.
Thành phần giáo giảng dạy chịu trách nhiệm hướng dẫn cho thc sĩ, phó tiến sĩ (Thạc sĩ Triết học) và tiến sĩ ngoài nhng vđã nêu trên còn c các vị giáo Oliver Abyenayake, Karunadasa,
P. D. Pramasiri, Anura Manatunga, Maringa Aramasinghe. Nếu 2 năm Hòan thành kha học viết luận án c thể trực tiếp vào luận án tiếnvới một đề tài mới không cần thông qua cấp ph tiến sĩ trung gian thời lượng tối đa 4 năm. Đối với sinh viên chỉ học Hòan thành tín chỉ 1 năm của thạc sĩ thì bắt buộc phải qua bước ph tiến trải qua ít nhất 2 lần bảo vệ trước khi tiến hành bảo vệ tiến thời lượng tổng cộng tối đa cho 2 cấp độ 5 năm.
Hiện nay, chuyên ngành Phật học Pali của Đại học Colombo vẫn giữ vị thế ở mức trung. Số lượng thạc tiếnđang trong quá trình nghiên cứu tốt nghiệp hàng năm vẫn còn chưa đáng kể.
      1. Đại học Vidyalankara (Đại học Kelaniya)
Như đã trình bàyphần 2.2, hệ thống giáo dục Phật giáo Pirivena dần chuyển sang các hệ thống đại học trực thuộc quyền quản lý của Bộ Giáo dục Sri Lanka. Viên đá đầu tiên của nền mng trường này được đặt vào năm 1875 tức sự hợp nhất của nhiều hệ thống pirivena nhỏ lẻ thành hệ thống lớn dưới tên gọi Vidyalankara pirivena. Cùng với phong trào tự chủ ha đất nước sau khi giành được độc lập thì hệ thống giáo dục được cụ thể ha bằng việc thành lập các trường đại học như đã trình bàyphần 2.3.1. Sau Đại học Cylon (1942), Vidyalankara Pirivena trở thành Đại học Vidyalankara vào năm 1959; sáp nhập như một sở Vidyalankara của Đại học Ceylon vào năm 1972, rồi đến năm 1978 trở lại một đại học lấy tên Đại học Kelaniya. Ngày nay, Đại học Kelaniya một trong những trường đại học quốc gia lớn. N nằm ngay bên ngoài thủ đô Colombo, thuộc vùng đất cổ kính c giá trị lịch sử cao đó vùng Kelaniya mạn bắc của sông Kelani. Duy trì bản sắc cội nguồn căn nguyên vốn c của trường, Đại học Kelaniya luôn một trung tâm nổi bật bậc nhất Sri Lanka về nghiên cứu Pali và Phật học. Chuyên ngành Phật học Pali ngày nay trực thuộc khoa Nhân văn. Bên cạnh đào tạo nghiên cứu về Phật học Pali, các chuyên ngành khác như Sanskrit va Đông phương học cũng c bề dày lịch sử ảnh hưởng nhất định về danh tiếng cũng như đội ngũ giảng dạy chất lượng đào tạo. Chính duy trì được bản sắc của trường nên hiệu trưởng của trường đã qua bao nhiệm kỳ luôn một vị Hòa thượng với trí tuệ oai đức xuất chúng đảm nhiệm. Ngài Hiệu trưởng đương nhiệm Hòa thượng Viện chủ chùa Kelaniya (Thánh địa Phật giáo Sri Lanka), một trong ba vị Tăng thống của Giáo hội Tăng già Sri Lanka hiệu Welamitiyawe Dharmakirthi Sri Kusala Dhamma.
Đội ngũ hội đồng khoa học, giảng dạy hành chánh hiện nay của trường gồm c 1.461 vị thường trực, 260 vị không thường trực. Hội đồng học thuật c620 vị 806 vị phụ trách hành chánh. Tng số lượng sinh viên mi m của trường gồm có 11.055 hệ cử nhân 2.667 hệ cao học, trong đó ra trường mỗi năm của hệ cử nhân 6.031 sinh viên hệ cao học 1.306 sinh viên. Khoa Phật học Pāli học một khoa tiên phong tại Đại học Kelaniya đây cũng một khoa lâu đời nhất của trường. Mục đích đào tạo đẩy mạnh phong trào học thuật nghiên cứu tư tưởng triết lý Phật học Pali, Sanskrit. Cấu trúc đào tạo bản cũng giống với khoa Phật học của Đại học Colombo, tuy nhiêncấp độ cử nhân thì hệ phổ thông phải cần 4 năm hệ đặc biệt phải mất 5 năm để Hòan thành. Hiện tại số lượng sinh viên quốc tế theo học cử nhân thạctại đây vào khoảng 120-140 sinh viên, còn sinh viên bản địa khoảng 150 mỗi năm cho cử nhân. Chương trình đào tạo lớp dự bị đại học gồm 11 môn như bối cảnh lịch sử của Phật giáo, Pali căn bản, Giáocăn bản của Phật giáo kỳ, Anh văn Phật pháp, Văn ha Kiến trúc Phật giáo châu Á, Mahayana Theravada, Sanskrit bản, Đạo đức học Phật giáo Thiền, Tuyển chọn Kinh điển hệ Trung Quốc và Pali. Cp cử nn hệ phổ thông với 3 m trong vòng 6 học kphổ biến ở cả 4 chuyên ngành Pali, Triết học Pht giáo, Văn ha Phật giáo, Tâm lý học Phật giáo.

Chuyên ngành Pali chia làm 3 cấp độ mỗi cấp độ dao động từ 7 đến 8 môn chi tiết. Ở cấp độ 1 của chuyên ngành Pali gồm c các tín chỉ như: Nghiên cứu khái quát Tam tạng Pali, Lịch sử văn học Pali, Phê bình, Nguồn, Tâmtrị liệu trong văn hệ Pali, Những tranh luận Tình hình dịch thuật. Cấp độ 2 bao gồm Ngữ pháp Pali cấp độ 2, khảo cứu văn bản, Nguồn Pali trong lịch sử Sri Lanka, Phê bình văn học Pali, Xu hướng khái niệm trong Phật giáo kỳ. Cấp độ 3 gồm các tín chỉ liên quan đến Ngữ pháp Pali cấp độ 3, Triết học Abhidhamma, Kng thuyết pp, Pbình văn học Pali, Triết lý và Đo đức trong Tam tạng.
Chuyên ngành Triết học Pht giáo cũng y như thế. Ở cp độ 1 với các bộ môn như Bối cảnh triết học của Phật giáo kỳ, Nguyên tắc bản của Phật giáo kỳ, Phân tích Tâm lý học Phật giáo, Phật giáo Tâm thần học, Phật giáo các vấn đề hội, Sự phát triển của tư tưởng Phật giáo, Nghiên cứu về nguồnliệu. Cấp độ 2 bao gồm các bộ môn như Đạo đức học Phật giáo, Phân tích về Tâm, Triết học xã hi Pht giáo, Khái nim vCng đồng, Thái độ của Phật giáo về Luật pháp phán xử. Cấp độ cuối cùng gắn liền với các bộ môn như Thiền học Phật giáo, Nghiên cứu về Abhidhamma, Phật giáo Tây phương, Nhận thức luận Logic học Phật giáo, Phật giáo Kinh tế, hội Môi trường.
Chuyên ngành thứ ba Văn ha Phật giáo với tuần tự mỗi cấp độ từ 7 đến 9 môn theo các chủ đề Bối cảnh văn ha Phật giáo Ấn Độ, Các công trình kiến trúc Phật giáo cổ đại Sri Lanka, Phê bình văn học Phật giáo, Nguyên tắc bản của văn ha Phật giáo. Các môn như Nghi lễ Phật giáo, Chiêm tinh, tưởng hội, Khảo cổ học, Trị liệu trong Phật giáo, cấu tổ chức Tăng đoàn, Khái niệm về Quảntrong Phật giáo.
Chuyên ngành thứ Tâm lý học Phật giáo chuyên ngành ít tín chỉ nhất, chỉ c 9 tín chỉ cho 3 cấp độ gồm Khái niệm tâm lý học hiện đại, Tâmứng dụng, Tâm cái chết, Tâm rối loạn, Tâm stress, Quảnchánh niệm v.v…
Về cấp bậc cử nhân hệ Đặc biệt thì sinh viên phải đảm bảo các bộ 
môn thêm 1 năm so với hệ phổ thông các quyền lợi của cấp độ này cũng tương đồng với cấu trúc của Đại học Colombo.
Đối với chương trình thạc sĩ ở chuyên ngành Phật học Pali của Đại học Kelaniya thì c khác rất nhiền với Đại học Colombo ở chỗ sinh viên học trực tiếp với 5 môn học quy định trong vòng một năm Hòan thành kỳ thi cuối kha sau đó tiến hành luận án trong 1 năm với tối thiểu 40 ngàn từ cho mỗi luận án. Chương trình học nhẹ nhàng với 5 bộ môn như Phương pháp nghiên cứu, Tâm lý học Phật giáo trị liệu, Giáocăn bản các xu hướng khác nhau trong Triết học Pht giáo, Pht giáo và Khoa học xã hội, Xã hi hóa văn ha Phật giáo.
Đội ngũ giảng dạy điều hành trong khoa bao gồm các giáo sư, tiến các giảng viên trong ngoài nước. Thượng tọa giáo Tharele Dhammaratana (Delhi), Giáo Udita Garusinha (Nhật Bản), Thượng tọa giáo Nabirittankadawara Gnanaratana (Delhi), Thượng tọa giáo Makuruppe Dhammananda (Delhi), Thượng tọa giáo Naotunne Wimalagnana (Kelaniya), Đại đức tiếnDodamkumbure Dhammadassi (Kelaniya), Tiến sĩ Rajitha PushpaKumara (Trung Quốc), Đại đức phó tiến sĩ Alubomulle Dhammalankara (Kelaniya), Đại đức tiếnDeniyaye Pgnanalok (Kelaniya), TiếnGamini Wijayasinghe (Kelaniya), Đại đức tiếnWelimadagama Kusaladhamma (Mỹ).
      1. Viện Cao học chuyên ngành Phật học Pali của Đại học Kelaniya
Viện cao học chuyên ngành Phật học Pali của trường Đại học Kelaniya (PGIPBS) trước đây Viện Nghiên cứu Phật học Vidyalankara ra đời vào ngày 23 tháng 11 năm 1975.
Viện Nghiên cứu Phật học Vidyalankara được giữ nguyên trạng đến 30 tháng 12 năm 1979. Sau đ, Viện này sáp nhập với Đại học Kelaniya c tên như hiện nay PGIPBS. Xét về mặt danh xưng, đây một phân viện trực thuộc Đại học Kelaniya người đứng đầu Viện này thường một Phhiệu trưởng của Đại học Kelaniya. Tuy chịu sự kiểm soát chỉ đạo từ Hội đồng Quản trị trên mọi 
phương diện của Đại học Kelaniya, nhưng PGIPBS vẫn c những quy cách hoạt động riêng thức quản tương đối độc lập. Mặc dù, trên danh nghĩa, tất cả các vấn đề liên quan đến phát triển chương trình giảng dạy, các kha học, giảng dạy, nghiên cứu thực hiện các kỳ thi đều thuộc phạm vi điều hành của Hội đồng Khoa học phải được sự chấp thuận của Hội đồng Quản trị Thượng viện Đại học.
Hiện tại, PGIPBS c ba phân khoa chính gồm Dữ liệu Phật giáo, Tư tưởng Pht giáo và Văn hóa Pht giáo. Trưởng pn khoa slà người chịu trách nhiệm đưa ra định hướng chung cho các giáo trình nghiên cứu trong lĩnh vực tương ứng. Công tác giảng dạy giám sát cùng các bộ phận quảnkhông thuộc phạm vi học thuật được điều từ Khoa học hội Nhân văn của các trường đại học trong ngoài nước. Các kha học nghiên cứu được dạy bằng hai thứ tiếng Sinhala hoặc bằng tiếng Anh dành cho tất cả các sinh viên trong ngoài nước. chế đào tạo của PGIPBS gồm các hệ học thuật từ thấp đến cao như: Tín chỉ Pali sau đại học, Dự bị ThạcPali, ThạcPali, Dự bị thạcPhật học, ThạcPhật học, Dự bị thạcTâmPhật giáo trị liệu, ThạcTâmPhật giáo trị liệu, ph tiến tiến sĩ.
Hiện nay, sự phát triển của PGIPBS cùng to lớn khi đã Hòan thành khai mở các chi nhánh chấp nhận lời mời liên kết đào to từ các nước như M, Singapore, Trung Quốc và Hongkong. Chương trình đào tạo hệ thống giáo từ giảng dạy đến hướng dẫncác chi nhánh trường liên kết đa phần theo khung sườnPGIPBS các bộ môn chính thì các giáo trưởng ph phân khoa sẽ trực tiếp giảng dạy.
Mỗi năm, số lượng Thạc Phật học đầu vào dao động từ 300 đến 400 đầu ra từ 200 đến 300 với tỷ lệ ¾. Số lượng ThạcPali còn hạn chế kể cả số lượng vào lẫn ra trong khi đầu ra chiếm khoảng 1/5 số luợng. Số lượng nghiên cứu sinh ph tiến tiếntương đối đông với mức đầu vào khoảng 60 sinh viên cấp ph tiến 20 nghiên cứu tiến sĩ. Tuy nhiên, số lượng đầu racấp độ tiến sĩ thì tầm 1 đến 3 vị đạt chuẩn tốt nghiệp mỗi năm. Qua đ, chúng ta có 
thể thấy được sự kiểm duyệt về chất lượng tiến ph tiến sĩ ở đây cùng nghiêm khắt.
Thời gian để cho sinh viên theo học thạc sĩ chỉ trong vòng 1 m với 2 môn học bt buộc là Phương pp nghiên cứu và Triết học Phật giáo trong Phật giáo kỳ cộng thêm 4 môn học tự chọn trong số 37 môn học hiện c. C thể thấy rằng, chương trình đào tạo của PGIPBS rất phong phú đa dạng, mở ra các cánh cửa tiếp cận đến tất cả các khía cạnh của học thuật Phật giáo từ Mahayana đến Theravada cả Mật giáo.
Chất lượng đào tạo của PGIPBS được đánh giá rất cao không những bởi đội ngũ giảng viên hùng hậu uy tín đến từ trong ngoài nước (sẽ được đề cập ngay phần kế tiếp) còn do các đời Viện trưởng đều những vị giáo lừng danh qua từng thời kỳ. Hòa thượng giáo tiếnTiếnHavanpola Rathanasara người khai sáng PGIPBS (1975-1979), Giáo sư L.P.N. Perera (1979- 1984), Thượng tọa giáo Dhammavihari, (1984-1990), Giáo
Y. Karunadasa (1991-2000), Giáo Thilak Kariyawasam (2000- 2003), Giáo Asanga Thilakarathne (2003-2007), Giáo Sumanapala Galmangoda (2007-2013), hiện tại Hòa thượng giáo tiếnKotapitiye Rahula. Đây đều những vị giáo tầm cỡ trong giới học thuật c rất nhiều đng gp về công trình nghiên cứu Pht học, Triết học và ngôn ngữ cho nn học thut thế giới; đc biệt hơn cả tầm ảnh hưởng của họ lên Bộ Giáo dục giới nghiên cứu học thuật cùng sâu rộng.
Hội đồng khoa học đội ngũ giảng dạy gồm c 26 giáo hữu 12 giáo thỉnh giảng đến từ các trường đại học trong nước nước ngoài như Anh quốc, Mỹ, Hongkong, Miến Điện; 17 tiếnging dy thường trc. Trong số các vgiáo sư tham gia ging dy và hướngdncócácvnổitiếngnhưgiáosư Dhammajoti(Hongkong), Giáo Ratna Wijetunge, Giáo Oliver Abeynayake, Giáo P. D. Premasiri, Giáo G.D. Sunamapala, Giáo Asanga Tilakaratne, Giáo Udhitha Garusinghe, Giáo Devalegama Medhananda, Giáo Karunadasa, v.v…
 

Nhìn chung, Đại học Kelaniya PGIPBS nơi đáp ứng nhu cầu triệt trể về tham cứu học tập của chuyên ngành Phật học Pali ngoài bề dày lịch sử ra còn bởi đội ngũ đào tạo hơn nữa những sinh viên ưu tú xuất thân từ đây ra đã hiện những nhà nghiên cứu Phật học khắp nơi trên thế giới.
      1. Đại học CylonĐại học Peradeniya
Đây trường đại học cổ kính gần như đẹp nhất về khuôn viên, khí hậuchất lượng đào tạo cũngbậc nhất về tổng thể. Ra đời vào năm 1942 với tên gọi Đại học Cylon (chung với Cylon của Đại học Colombo), năm 1978 đổi tên thành Đại học Peradeniya đến bây giờ. Năm 2013, 2016 2018 được xếp hạng bậc nhất của Sri Lanka về tổng thể. vị trí nhất nhì xét về tổng thể thì ch c Đại học Colombo Peradeniya luân phiên nhau chiếm giữ. Đại học này c tổng cộng 9 khoa hai viện cao học, 10 trung tâm 73 phân khoa c số lượng tổng sinh viên lến đến 11 ngàn người. Phân khoa Phật học Phân khoa Pali, Phân khoa Sanskrit những phân khoa độc lập nhau đều chi nhánh của khoa Nghệ thuật. Khoa Nghệ thuật của Đại học Peradeniya được ra đời năm 1942 đến năm 1943 Phân khoa Pali Sanskrit mới được thành lập rimãi đến năm 1964 Phânkhoa Phật học mới được ra đời dưới tên gi chuyên khoa Triết học Pht giáo.
Điểm ấn tượng nhất khi đến với chuyên khoa Phật học Pali của Đại học Peradeniya châm ngôn của khoa trích dẫn từ những lời dạy của Đức Phật: “Giáo Pháp Đức Như Lai thuyết như chiếcdùng để qua sông chứ không bám mắc vào đ11. Đây nỗ lực của đội ngũ trong khoa tạo ra duy trì một môi trường học tập thân thiện, nơi giảng viên sinh viên đều c thể trao đổi chuyên môn quan điểm, nhận xét về các lĩnh vực liên quan đến Phật giáo Pali. Tất cả chương trình đều được dạy bằng tiếng Anh. Khoa đã liên kết với các trường đại học khác để nghiên cứu về Phật giáo Nguyên thy, Triết học Pht giáo, Đo đức Pht giáo, Tâm lý học Phật giáo Lịch sử Văn ha Phật giáo.



Chương trình đào tạo cũng gồm đầy đủ các hệ như cử nhân, thạc sĩ, ph tiến và tiến sĩ. Về chương trình cử nhân không phân chia thành 2 hệ thống như của Đại học Colombo Đại học Kelaniya chỉ c 1 hệ 4 năm với 7 học kỳ thôi. Nhìn chung các bộ môn thì cũng không khác bao so với 2 trường đại học trước. Chương trình dự bị thạc sĩ của Phân khoa Pali gồm 5 môn như Ngữ pháp Văn phong Pali, Phiên dịch, Phật giáo trong văn hệ Pali, văn bản học Phương pháp nghiên cứu. Chương trình dự bị cho ThạcPhật học gồm c 7 bộ môn như Phương pháp nghiên cứu, Nền tảng của Phật giáo kỳ, Phật giáo trong văn hệ Pali, Sự phát triển của các học thuyết Phật giáo, Phật giáo Sri Lanka xưa nay, Văn ha Tôn giáo châu Á.
Chương trình thạc sĩ của Phân khoa PaliPhân khoa Phật học thì chỉ c 6 đến 7 môn cho mỗi phân khoa. Các bộ môn này cũng chỉ xoay quanh các vn đề Triết học, Tâm lý học, Xã hội, ngpp Pali Sanskrit, Phật giáo Sri Lanka lịch sử tưởng v.v…
Chương trình ph tiến tiến sĩ thì như của PGIPBS chất lượng về đào tạo nghiên cứu chuyên ngành Phật học PaliSri Lanka thì đều cùng nghiêm ngặt như nhau. Thành phần giảng dạy của chuyên khoa Phật học Paliđây những vị giáo ưu tú của Sri Lanka. Trong đó phải kể đến giáo sư P.D. Premasiri, giáo sư tiến sĩ Kotapitiye Rahula, giáo R.G.D. Jayawwardena (Peradeniya), Giáo   Bamunugama Shanthawimala  (Peradeniya), Giáo Muwaetagam Gnanananda (Delhi), Giáo Magaskumbara, TiếnMahinda Herath (peradeniya), v.v…
      1. Đại học VidyodayaĐại học Sri Jayewardenepura.
Cũng giống như Đại học Kelaniya, Đại học Sri Jayewardenepura hậu thân của một trong hai hệ thống pirivena cổ xưa với tên gọi Vidyodaya pirivena được thành lập vào năm 1873. Năm 1959 đổi tên thành Đại học Vidyodaya năm 1972 được đổi tên thành Đại học Sri Jayewardenepura. Ban đầu, Phật học Pali chính chuyên ngành nòng cốt của trường này, trải qua thời gian phát triển, đến hôm nay, trường đã c 7 khoa lớn chính với 22 phân khoa chi nhánh  một viện sau đại học. Chuyên khoa Phật học Pali trực thuộc Khoa hội Nhân văn.
Khoa này chuyên nghiên cứu Pali, Phật giáo kỳ truyền thống Phật giáo Nguyên thủy, đặc biệt các văn bản viết bằng tiếng Pali bao gồm Tam tạng (Canon Pali), Atthakatha (chú giải), Tika (hậu chú giải), Biên niên sử, v.v... Chuyên ngành chú trọng đào tạo kiến thức chuyên sâu hiểu biết về cả ngôn ngữ văn học Pali, thông qua các phương pp nghiên cứu lịch sử, triết học. VTriết học Phật giáo, chuyên khoa chú trọng nghiên cứu giáoPhật giáo như một hệ thống triết học, một hệ thống đạo đức, với cách tiếp cận m lý học v.v... Ngoài ra, khoa còn có các bộ Lịch sTriết học Pht giáo, Triết học Pht giáo hin nay và mi liên quan giữa các tôn giáo triết học thế giới, các vấn đề cá nhân hội đương đại.
Chương trình giảng dạy chủ yếu cấp bậc cử nhân với 3 chuyên ngành chính là Pali, Văn minh Pht giáo và Triết học Pht giáo. Cđào tạo hệ thạcnhưng vìnhững điều kiện chủ quan nên công tác tuyển sinh hầu như không c biến chuyển. Tuy nói đây cái nôi của giáo dục Phật giáo tuy nhiên những đang diễn ra ở thời điểm hiện tại Hòan toàn trái ngược với Đại học Kelaniya, nguyên nhân chủ yếu đến từ bên trong, nơi đội ngũ giảng dạy đang thiếu người lãnh đạo tuy c thẩm quyền học thuật nhưng lại bị chi phối quá nhiều bởi các công tác chính trị nhà nước. Song,cấp độ cử nhân vẫn đang được duy trì một cách chậm chạp thụ động.
      1. Đại học Phật giáo Pali (BPU)
Đây trường đại học duy nhất tại Sri Lanka được thành lập theo Đạo Luật Giáo dục nước này năm 1982 với tính chuyên nhất Pht học và Pali. Trường này được tnh lp vào m 1985 do một vị Tăng cùng nổi tiếng Ngài Walpola Rahula sáng lập. Mục tiêu của trường đại học này truyền Phật giáo, phát triển Nghiên cứu Pali Phật học ở Sri Lanka nước ngoài. BPU đã được cấu lại theo cu trúc của các trường đại học khác của Sri Lanka. Trường gồm c 2 khoa lớn đó khoa Phật học khoa Nghiên cứu ngôn ngữ. Khoa Pht học gồm có các pn khoa nhỏ như Triết học Phgiáo, Nghiên cứu Tôn giáo so sánh, Khảo cổ học Văn ha Phật giáo. Khoa Ngôn ngữ gồm c phân khoa Pali, Sankrit, Sinhalese, tiếng Anh, Trung, Nht.
Chương trình đào tạo tín chỉ bản nâng cao với các ngôn ngAnh, Đức, Nht, Hàn, Hindi, Talmil, Trung và Pháp. Chương trình dự bị dự bị nâng cao cho thạc sĩ chỉ bao gồm Phật học, Pali, Sanskrit Anh văn.
Chương trình Cử nhân với thời gian 4 năm với 6 môn mỗi học kỳ Chính phủ tài trợ ký túc ăn ở cho toàn bộ sinh viên Tăng lữ nam giới. Chương trình thạccũng chỉ bao gồm 6 môn cho cả hai hệ Anh văn và Sinhalese là Triết học Pht giáo sơ k, So sánh tôn giáo, hội học Phật giáo v.v...
Chươngtrìnhphótiếnsĩvàtiếnsĩnhưmộtmôthccủa PGIPBS. Hiện nay, đội ngữ giảng viên gồm c 41 vị bao gồm các giáo tiếntrong nước, 120 nhân viên hành chánh, 1.050 sinh viên cử nhân, 560 sinh viên thạc sĩ cả Sinhalese tiếng Anh 36 nghiên cứu sinh ph tiến tiến sĩ.
2.3.7. Đại học Buddhaasravka BhikshuĐihọc Anuradhapura Bhikshu
Đây trường đại học chỉ dành riêng cho chư Tăng ni Phật giáo, được thành lập vào ngày 01 tháng 07 năm 1997 tại công viên MahameunaAnuradhapura. Ban đầu c tên Đại học Buddhaasravka Bhikshu, đến năm 2012 đổi tên thành Đại học Anuradhapura Bhikshu. Trường này bao gồm hai khoa chính là khoa Nghiên cứu Phật giáo khoa Ngôn ngữ Văn ha. Các mục tiêu chính của Hội đồng đào tạo đề ra khi thành lập trường này đạo tạo Tỳ kheo chuyên sâu về tam tạng Pali Th n để truyền xiển dương đạo Phật. Chung quy các mục tiêu của trường bao gồm:
        1. Đào tạo Tỳ kheo theo lời dạy Đức Phật.
        2. Thúc đẩy nghiên cứu về Thiền.
        3. Đào tạo Tỳ kheo truyền Phật giáo TheravadaSri Lanka nước ngoài.
        1. Khuyến khích chuyên sâu nghiên cứu Phật học.
        2. Quảng Văn ha giá trị Văn ha Phật giáo.
        3. Liên quan đến 1 trong 5 điều trên để nỗ lực tự thân.
Chương trình chỉ đang đào tạo hệ cử nhân phổ thông với cấu trúc môn học như của BPU còn chương trình thạcđã đang có những bước chuẩn bị cho tương lai gần. Thành phần giảng dạy chủ yếu là các Tăngtrong nước. Tăngsinh viên thì được sống tập trung cùng học tu tại trường với hệ thống chi phí được bảo hộ bởi Chính phủ Giáo hội Tăng già Sri Lanka.
      1. Đại học Ruhunu
Đại học này gồm c 16.337 sinh viên chia làm 10 phân khoa chính với 57 khoa phụ thuộc. Trường được tnh lp vào ngày 01 tháng 09 năm 1978 được coi một trong những trường thơ mộng c một phía giáp bờ biển xanh ngát. Khoa Phật học Pali thuộc Phân khoa hội nhân văn của trường chỉ chú trọng đào tạo cử nhân với hệ phổ thông hệ đặc biệt. Hệ phổ thông gồm 3 năm với 6 học kỳ hệ đặc biệt với 4 năm 8 học kỳ. Chương trình học tương tự như của Kelaniya đội ngũ giảng dạy Tăngtrong nước, chỉ c 1 vị giáo duy nhất còn lại tiến ph tiếntốt nghiệp trong nước. Đặc biệt nhất đó sự tham gia giảng dạy của 1 vị Tỳ kheo ni duy nhất trên Sri Lanka; đó Tỳ kheo ni Dhammadheera cử nhân Ruhuna. Tại đây chưa c chương trình sau đại học số lượng sinh viên quốc tế của trường này trường Anuradhapura Bhikshu bằng 0.
      1. Học viện Phật giáo Quốc tế Sri LankaSIBA
SIBA ngôi trường nằm vùng cao của Kandy được thành lập vào tháng 02 năm 2009 dưới sự bảo hộ của ngôi chùa nổi tiếng Sri Dalada Maliawa. Trường được 08 khoa chính và khoa Pht học là một trong số đ. Chương trình đào tạo cũng bao gồm các cấp bậc như cp bậc Tín chỉ (Thin Yoga, Pali, Nghiên cứu Kinh), chương trình dự bị cho Pali, Thin Yoga, Nghiên cứu Kinh đin và dự bnâng cao cho Pali.
 

Chương trình cử nhân cũng c chia thành những hệ thống như Lãnh đạo Phật giáo hệ đặc biệt trong vòng 4 năm với 8 môn; hệ Pali đặc biệt 12 môn như Thiền Phật giáo, Giới thiệu ngành nghiên cứu Pali, Pali căn bản, Lịch sử ngữ pháp Pali, nghiên cứu Tam tạng, nghiên cứu Chú giải hậu chú giải v.v... Chương trình Cử nhân phổ thông gồm 7 bộ môn.
Chương trình thạc sĩ ở đây gồm 2 năm. Cấu trúc môn học gồm 13 môn chính trong 4 kỳ mỗi kỳ c một thời kha Thiền thực tập. Các môn học như Phật giáo Mahayana, Đạo đức Phật giáo, Nghiên cứu Tam tạng, Giới thiệu Pali, Phương pháp nghiên cứu, Phật giáo Theravada, Luật học Phật giáo, Phật giáo Sri Lanka hay Tahis land, v.v... một m dành cho vic viết lun án và bảo v. Bởi hệ thống học 2 năm này nên khi đăng các trường khác đăng trực tiếp lên tiến sĩ. Còn với chương trình tiếnphải đảm bảo 1 trong 2 kế hoạch bao gồm các môn bắt buộc, lựa chọn tham gia các kha thiền bắt buộc kèm luận án.
Đội ngũ giảng viên SIBA khá phong phú, ngoài các giảng viên hữu ra thì bộ phận thỉnh giảng đại đa số từ các trường nổi tiếng như Peradeniya, Colombo, v.v... với số lượng 25 giảng viên hữu, 20 giảng viên thỉnh giảng trong đó c 4 giáo 10 tiến sĩ. Bộ phận văn png nh cnh 37 nn viên. Trong tng 5 m 2019 lễ tốt nghiệp với 6 tiến sĩ, 10 cử nhân khoa học, 24 cử nhân hệ phổ thông, 500 dự bị các ngành. Số lượng sinh viên hiện tại gồm 200 theo học cử nhân các ngành, 15 sinh viên thạc sĩ, 1.280 dự bị các ngành.
Nhìn chung, đúng như tên gọi, đây nơi phần lớn sinh viên của trường đc bit là khoa Pht học, đến từ Vit Nam, Trung Quốc, Miến Điện, Thái Lan, Banglades, v.v… sở vật chất môi trường sinh hoạtđây tốt, khí hậu trong lành.
      1. Viện Nghiên cứu Phật học Quốc tế Nāgānanda – NIIBS12
NIIBS được thành lập vào tháng 08 năm 2013 được Bộ Giáo dục công nhận vào tháng 12 năm 2015. NIIBS được đặt dưới sự bảo trợ của Hòa thượng Tịnh Không đồng thời cũng viện trưởng danh dự của trường này. NIIBS c tổng cộng 5 khoa với các cấp độ đào to từ tín chỉ lên đến tiến sĩ. Trong đó, các pn khoa liên quan đến Phật học chiếm 4/5 trên tổng số, bao gồm khoa liệu Phật giáo sơ k, Triết học Pht giáo, Pht học ứng dụng và Tâm lý trị liu Phật giáo. Các kha tín chỉ được mở liên tục dày đặt bao gồm tín chỉ Kỹ năng viết luận án, tín chỉ Pali, Sanskrit tổng quát, Tín chỉ đàm thoại Pali, tín chỉ Tâmv.v… các kha này kéo dài trong 1 năm với số lượng sinh viên trên dưới 20 người. Lớp dự bị đại học dự bị thạc sĩ thì nhiều hơn dao động từ 30 đến 60 sinh viên. Chương trình cử nhân còn thưa thớt chủ yếu đào tạo chư ni. Thành phần thạc tiến sĩ thì tương đối nhiều bởi 3 lí do chính:
1. Chtịchhiđồngkhoahọclàgiáosưnitiếng Sunamapala, đồngthờinglàcsĩmlý; Ôngđãtừnglàm Vintrưởng của PGIPBS, ph Hiệu trưởng Kelaniya giảng dạy hầu hết các trường nổi tiếng tại Sri Lanka. Ông cũng người c thẩm quyền bậc nhất về bộ môn Tâm Abhidhamma cũng như Pali. Thời gian ông làm việc giảng dạy các trường khác nhiều nên khi ông chuyển về làm chủ tịch hội đồng khoa học kiêm luôn công tác hướng dẫn các trường khác đi theo ông rất đông.
    1. Tại đây, một vị giáo tầm cỡ thông thạo 4 kỹ năng nghe nói đọc viết ngôn ngữ Pali Sanskrit giáo Ratna Wijetunge cũng thành viên thường trực giảng dạy cũng nhiều nơi nên xin quay về dưới sự hướng dẫn của ông rất đông cũng người uyên thâm Kinh Luật tạng chú giải.
    2. Tiến sĩ Ratna Siri nhà giáo ưu tú được nhà nước phong tặng giải thưởng Hòa bình năm 2014, người chịu trách nhiệm hướng dẫn kỹ năng viết luận án tại NIIBS các trường Phật học nên sinh viên cũng theo ông tương đối đông.
Bên cạnh những yếu tố đó thì điều kiện ăn ở sinh hoạt học tập đang trên đường chuẩn ha. Được tài trợ mạnh mẽ từ Đài Loan nên  sở hạ tầng túc cho chư Ni, chư Tăng, Nghiên cứu sinh được đánh giá tầm cỡ.
Ch c một hạn chế duy nhất đó c quá ít giáo giảng viên nên sự chồng chéo và khả năng đứng lớp đầy đủbao quát là không cao. Nên nhìn về bản thì NIIBS cũng chỉ bước đầu đi vào hoạt động quảng bá.
    1. Phương pháp giảng dạy trong Giáo dục Phật giáo Srilanka
Một điều dễ nhận thấy trong cách truyền đạt của các giáo giảng viên tại các lớp học ở Sri Lanka tính linh hoạt không giáo điều, không áp đặt. Tính kỹ thuật của cả người dạy người học ở chỗ tự do trình bày quan điểm về các vấn đề giảng viên đưa ra. Khả năng thích ứng giải quyết các tình huống trong lớp học được rèn luyện từ những phản xạ đơn giản cho đến những hướng kích thích tư duy của học viên. Tuy nhiên điều này cũng dựa trên nền tảng học thuộc tại các lớp gia giáo lúc còn nhỏ. Điều chính yếu của người đứng lớp phát hiện ra những kỹ năng riêng biệt của học trò kích thích chúng biểu lộ bằng những câu hỏi hay gợi ý cả những phản biện. Đây phương pháp thảo luận tạo kích ứng cho lớp học cũng c thể chia thành nhóm nhỏ hoặc từngnhân đơn lẽ. Một điều khá thú vị Sri Lanka nếu một học sinh trong lớp ngủ gật trên bàn thì đó một việc tự nhiên không c bất kỳ một thái độ gắt gỏng nào từ bất cứ ai cả. Bởi lẽ, c hai lí do hình thành nên nết đ. Th nhất học suy luận rằng học sinh làm việc quá sức không đủ thời gian ngh ngơi. Th hai, giảng viên truyền đạt chưa đủ thu hút tạo cảm giác nhàm chán cho học viên.
Không khí sôi nổi trong hội trường cần được phát huy bằng các tính cạnh tranh lành mạnh chính giảng viên người khơi nguồn cho các vấn đề tranh luận ấy người kết luận cuối cùng vẫn giảng viên. Kết luận ấy không phải kết luận đng kết luận mở cho mọi vấn đề cấp độ đại học cao học thì vấn đề sáng tạo kích thích sáng tạo được khuyến khích.
Chú trọng tạo nên một môi trường học thuật chủ động. Môi 
trường chủ động gì? Đ sự tương tác gần gũi giữa giảng viên sinh viên. Thảo luận các vấn đề theo từng nhóm chủ đề tự nghiên cứu, khuyến khích sinh viên bày tỏ các luận điểm trái chiều với giảng viên tìm cách bảo vệ luận điểm đ. Từ đ, giảng viên sẽ giúp sinh viên Hòan thiện các lỗ hổng kiến thức cũng như suy luận của mình.
cấu điểm nên linh động, c khi bài kiểm tra tại lớp c khi thuyết trình để tranh luận và c khichất vấn đối diện để kích thích tư duy cho sinh viên tránh nhàm chán hay rơi vào lớp học thụ động. Cần phải khách quan trong công tác đánh giá chất lượng giảng dạy của giáo viên, bên cạnh đó cũng cần phải nghiêm khắc với các nhân tố hội của sinh viên. Hướng ra đề thi thường các hệ thốngSri lanka đề nhiều lựa chọn với 8 chủ đề sinh viên chỉ giải đáp 4 chủ đề tự chọn trong 8 chủ đề đó thôi. Điều này tránh tình trạng học khuôn khơi nguồn cho sự tự lập sáng tạo trong cách tiếp cận giải quyết vấn đề dựa trên nền tảng đã nắm bắt của môn học.
Vấn đề cần khuyến khích đó tích cực tham gia các hội thảo trong nước quốc tế. Cụ thể các tín chỉ bài nghiên cứu c thể tính như một trong những tiêu chí để tốt nghiệp. Các vấn đề trình bày ở hội thảo nên được khuyến khích cho sinh viên nghiên cứu những vấn đề yêu thích hoặc một trong những luận điểm nhỏ của đề tài cuối kha hoặc luận án thạc sĩ, tiến sĩ. Một trong những mô hình thành công của giáo dục Sri Lanka việc chủ động khuyến khích cho sinh viên đứng ra tổ chức các Hội thảo khoa học mang tầm vc Quốc tế duới sự hướng dẫn giám sát của Hội đồng Khoa học tại trường. C những lợi ích cao cả đó là, thứ nhất huấn luyện kỹ năng làm việc cọ sát thực tế nhất với cương vị tổ chức. Th hai huấn luyện tinh thần trách nhiệm cho bản thân cộng đồng. Th ba tôi luyện được kiến thức thông qua việc tham dự các hội thảo này. Th đ chính gp phnmgiàukho ngnghiên cứu cho chính trường mình lưu giữ mai sau đồng thời khám phá ra những điều mới mẻ cũng từ hội thảo. Cuối cùng quảng hình ảnh ra khắp nơi.
 
 
    1. Hướng đi mới cho Giáo dục Phật giáo tại Việt Nam
Từ những điều phân tích ở trên, người viết mạnh dạn đề xuất những hướng đi nhằm nâng cao chất lượng giáo dục chất lượng đầu ra của sinh viên Phật học Việt Nam đặc biệt Tăng ni – lực lượng nòng cốt trong tương lai.
Th nhất ngay chính trong môi trường Học viện cần tạo môi trường chủ động tránh tình trạng thụ động ru ngủ giáo điều.
Đề cao chất lượng hơn điểm số hay chỉ tiêu hiệu quả một cách khiên cưỡng.
Kích thích tính sáng tạo mạnh dạn một cách chủ động bằng cách tạo môi trường khoa học qua các hội thảo trong nước quốc tế. Thậm chí tạo mọi điều kiện thuận lợi để sinh viên tham gia thuyết trình các hội thảo quốc tế nên ưu tiên các chủ đề về Phật giáo trong nước giá trị văn hóa, lịch sử.
Định hướng bảo trợ cho các Tăng ni c năng lực chủ động tham học các lĩnh vực còn khan hiếm trong môi trường học thuật Phật giáo nước nhà.
Kiểm duyệt chất lượng đội ngũ giảng dạy một cách nghiêm khắc.
Đưa tiếng Anh và tiếng Trung trở tnh một ngôn ngbt buộc được đào tạo nghiêm túc mạnh dạn xoá bỏ hệ thống chấp nhận tín chỉ bên ngoài.
Thúc đẩy đưa tiếng Anh trở thành hệ thống song hành trong giảng dạy như tiếng Việt tại các Học viện.
  1. TỔNG KẾT
Sri Lanka thừa hưởng những giá trị tinh hoa về giáo dục Phật giáo từ lâu đời may mắn c một hệ thống chặt chẽ xuyên suốt như vậy. Cho nên những đng gp to lớn thành tựu vượt bật của nền học thuật này cho riêng đất nước Sri Lanka cho toàn thế giới nói chung một hệ quả tất yếu. Song, cũng cần phải nói thêm chính nhờ văn ha truyền thống của đảo quốc này gp phần tô điểm thêm cho thành tựu ấy được lung linh. Tuy nhiên, điều này đã mở ra hướng đi cũng như những bài học kinh nghiệm cho chúng ta ứng dụng biến tấu phù hợp với phong ha bản sắc nước nhà. May mắn cho hệ thống giáo dục Phật giáo Việt Nam được sự quan m rt mực của Chư Tôn Trưởng lão Hòa thượng trong Hi đồng Chứng minh Hội đồng Trị sự nên những đẹp đẽ nằm trong tầm tay. Ch còn duy nhất áp dụng con đường phù hợp sự quyến tâm chung tay của những người con Phật nơi đất Mẹ yêu thương. Không không thể, cứ đi ắt sẽ c con đường.


 
***
 



Tài liệu tham khảo
Kinh Trung Bộ I.
Mahavamsa Sri Lanka, Đại sử Tích Lan. Dipavamsa Sri Lanka, Đảo sử Tích Lan.
GS. TT. Dhammavihari, Buddhism in Sri Lanka. (Đo Pht ở Sri Lanka), nxb. Buddhist Cultural Centre, Colombo, 2003.
S.  Tilakaratna  biên  tập  ,  University  Education  since  Independence
(Giáo Dục Đại Học từ khi Độc lập), nxb Colombo, 2000.
Ven. Naimbala Dhammadassi, Buddhist Contribution to Education (Đóng góp của Phật giáo cho Giáo dục), nxb Đại Học Sri Jayewardenepura, Colombo, 2009.
A. Adikari, The Classical Education and The Community of Mahasangha in Sri Lanka ( Nền Giáo Dục Cổ Điển và Cộng Đồng Tng Già ở Tích Lan), nxb. Godage International Publishers, Colombo, 2006.
K. Piytane, Teaching methodology anStrategies  Highlingtein Buddhism (Phương pháp dạy các Chính sách nổi bậc trong Phật giáo), Nxb. Pubudu zprinter Maloka, Colombo, 2002.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây