9. TĂNG SĨ DƯỚI TRIỀU NGUYỄN VÀ YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC PHẬT GIÁO THỜI CẬN ĐẠI

Thứ sáu - 06/12/2019 21:04
TĂNG DƯỚI TRIỀU NGUYỄN YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC PHẬT GIÁO THỜI CẬN ĐẠI
 
TS. Nguyễn Duy Phương
 
Khi nói đến Phật giáo thời Nguyễn, nhiều nhà nghiên cứu nhận định đây thời kỳ khủng hoảng, suy vi của Phật giáo Việt Nam, một trong những căn nguyên đưa đến công cuộc chấn hưng Phật giáo đầu thế kỷ XX. Nhận định này còn nhiều điều cần xem xét thấu đáo hơn. Tuy nhiên, một thực tế ràng rằng, đội ngũ tăng sĩ giai đoạn này dưới tác động của các chính sách triều Nguyễn ngày càng biến chuyển mạnh mẽ, đặt ra yêu cầu phải nhìn nhận lại truyền thống giáo dục ng sĩ tại các tự vin. Trong nghiên cứu này, chúng tôi sẽ tập trung phân tích những ưu điểm hạn chế của đội ngũ Tăng sĩ dưới tác động của chính sách triều Nguyễn, những yêu cầu phải đổi mới giáo dục Phật giáo. Qua đó, bài viết góp phần khắc họa diện mạo của Phật giáo Việt Nam thế kỷ XIX, cũng như lí giải cho sự khởi nguồn của phong trào chấn hưng Phật giáo thời cận đại.
  1. ĐỘI NGŨ TĂNG DƯỚI THỜI NGUYỄN
Triu Nguyn được tnh lp sau hơn hai thế kđt nước ni chiến, chia cắt. Những cuộc chiến tranh dai dẳng giữa quân Tây Sơn với lực lượng Nguyễn Ánh trong suốt thế kỷ XVIII đã làm cho đất nước nói chung Phật giáo nói riêng sa sút nghiêm trọng, phần lớn chùa chin bhư hi, ng sĩ tản mát khắp nơi. Trong lúc lon lc, không ít kẻ hung đồ tìm đến cửa chùa làm nơi trú ngụ. Nhằm nhanh chóng ổn định tình hình đất nước sau chiến tranh, chấn chỉnh lại hoạt động của Phật giáo – một trong những tôn giáo chính lúc bấy giờ, triều Nguyễn đã dành nhiều quan tâm cho đội ngũ tăng sĩ – lực lượng vai trò quyết định trong truyền phát triển Phật giáo.
Cũng như các giai đoạn trước, dưới triều Nguyễn, độ điệp vẫn công cụ chính để nhà nước quản lý lực lượng tu 1. Ngay khi lên ngôi, Gia Long đã quy định trong Hoàng Việt luật lệ: Nếu tăng đạo không được cấp độ điệp, tự ý cạo tóc thì phạt 100 trượng, nếu do gia trưởng thì gia trưởng phải chịu tội, nếu do trụ trì ở tự quán thầy dạy riêng độ thì đồng tội, buộc hồi tục, vào sổ đương sai1. Tuy nhiên, lúc này triều đình chưa tổ chức sát hạchtăng. Đến thời Minh Mạng, điều luật trên vẫn được thực hiện, nhưng muốn được cấp độ điệp, tăng phải vân tập đến kinh đô, được Bộ Lễ sát hạch ghi nhận bậc chơn tu, giữ gìn giới luật, am hiểu đạo pháp. Sau khi nhận được độ điệp, tăng được tự do hành đạo, được miễn hoàn toàn các thứ thuế lao dịch, cử làm tăng cang, trụ trì. Nhưng, nếu tăng không chuyên tâm trì giới, phạm tội sẽ bị triều đình tịch thu lại độ điệp đã cấp, buộc phải hoàn tục. Độ điệp Bộ Lễ cấp cho thiền sư Tánh Thiên Nht Định đã ghi rõ: Lâu nay tăng sĩ đến kinh đô, Bộ phải xét ai người chơn tu, giữ đúng giới luật, am tường khoa phạm, thời cấp một Độ điệp để được yên tâm tu trì, hầu chứng đạo thiền, còn như binh nhiêu, thuế thân hết thảy đều tha hết. Nếu sau khi nhận điệp rồi nợ trần chưa dứt sạch, nghiệp chướng vẫn còn, có tỳ tích xấu, các quan lại hay dân quân ta bắt được, giải ngay cho quan địa phương chiếu luật trừng trị, bắt phải về tục, thâu lại độ điệp để Bộ tiêu hủy2. Cùng với việc được cấp độ điệp, các tăngcòn được triều đình ban Giới đao. Đó con dao nhỏ hình bán nguyệt dùng để cắt áo, cạo tóc, cắt móng tay, 1 trong 18 vật thường dùng của Tỳ kheo3. Ngoài ra, Giới đao còn hàm ý để cắt hết mọi dục vọng an tâm trì giáo.
Riêng dưới thời Minh Mạng, trong 20 năm triều đình đã 3 lần tổ chức sát hạch cấp độ điệp cho tăng sĩ. Số lượng tăng sĩ được cấp độ điệp với số lượng tăngthực tế chắc chắn còn khá khiêm tốn. Điều đó cho thấy điều luật người xuất gia phải độ điệp của Hoàng Việt luật lệ khó lòng thực hiện được triệt để. Nhưngsaocũng đã góp phần chấn chỉnh lại lực lượng này, loại trừ những người núpng Pht với mưu tính trốn vic quan đi ở chùa, quy củ lại vic tu tập, nâng cao trình độ của giới xuất gia, tác động tích cực đến sinh hoạt Phật giáo lúc bấy giờ.
Không chỉ yêu cầu khắt khe về phẩm hạnh trình độ đối với các chức sắc Phật giáo (tăng cang, trụ trì), đạo đức, lối sống của ng ni cũng rt được triu đình chú ý. Trong Hoàng Vit lut lệ có hẳn những điều luật quy định chặt chẽ, nghiêm ngặt về lối sống của các tu sĩ, tuy được ban hành dưới thời Gia Long nhưng những quy định này vẫn được thực hiện đối với các triều vua sau. Về y phục của tăng, “Y phục của tăng, đạo chỉ cho phép dùng lụa thô, vải, không được dùng lụa thứ láng mịn đẹp, thêu bông hoa. Ai trái lệnh phạt 50 roi, buộc hồi tục, y phục gom về nhà quan. sa, đạo phục thì khôngtrong luật lệ này4. Không chấp nhận việc tăng vợ con, hoặc tăng đoạn tuyệt hoàn toàn với cha mẹ, luật pháp quy định Phàm 
tăng, đạo cưới thê thiếp thì phạt 80 trượng, hồi tục… Trụ trì chùa chiền biết không báo lên thì cùng tội, liên lụy vì người, không buộc hồi tục5  tăng ni, đạo sĩ, nữ quan đều ra lệnh họ phải cúng tế cha mẹ, tổ tiên và thứ lớp để tang… làm giống như bao nhiêu người. Ai trái lệnh, phạt 100 trượng, buộc hồi tục6. Đối với trường hợp tăng vi phạm đạo đức, lối sống của người xuất gia, luật Gia Long xử nặng: “Tăng đạo quan, tăng nhân, đạo sĩ phm vào kĩ n(gái điếm), rượu thịt thì đều phạt trăm trượng, trả về làm dân7. Khi tăng phạm tội, triều đình xử tội nặng hơn dân thường. Hoàng Việt luật lệ quy định Phàm để tang cha mẹ chồng chết, nếu tăng, đạo sĩ, nữ quan phạm gian thì tăng hai bực tội người thường phạm gian, xử tội ấy theo người thường phạm gian8. Những quy định này đã thể hiện yêu cầu của triều Nguyễn đối với tăng sĩ, không chỉ thông hiểu Phật pháp họ phải những người phẩm hạnh hơn người, lối sống thanh bạch, giản dị, chấp nhận từ bỏ những ham muốn trần tục để làm gương cho người đời, từ đó mới cảm hóa được giáo chúng.
Bên cạnh những đòi hỏi dành cho giới xuất gia thì triều đình cũng ban cho đội ngũ này nhiều hậu đãi. Chức sắc tăng chúng các chùa công đều được cấp lương bổng hằng tháng để chi dùng, cấp pháp phục, gạo muối… Theo từng cấp bậc sự phân chia cũng nhiều ít khác nhau. tăng trong mỗi chùa được phân cấp thành 3 bậc: trưởng cao nhất, đó thể tăng cang hoặc trụ trì chùa, tiếp đến các nam, nữ (các tăng đã thọ Tỳ Kheo), nhỏ nhất các chú tiểu - những người mới vào chùa. Lệ phân cấp như sau: phàm tăng cang ở đền chùa của nhà nước, mỗi người tháng cấp cho 3 quan tiền, 1 phương gạo trng, tăng chúng mỗi người 1 quan tiền, 1 phương gạo trng, đạo đồng mỗi người 6 tiền, 1 phương gạo9. Theo lệ này, Bộ Hộ tùy theo số lượng chư tăng của mỗi chùa cấp phát số tiền lương thực tương ứng. Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ chép: Minh Mạng năm thứ 3 (1822) có chỉ rằng các chùa Thiên Mụ mỗi tháng cấp cho tiền 60 quan, gạo 55 phương, gạo trắng 5 phương, muối 6 thưng. Lạichỉ rằng: chùa Long Quang mỗi tháng cấp tiền 15 quan, gạo 21 phương. Năm thứ 15 (1835), chuẩn y lời tâu đền chùa Linh Hựu, một trưởng cấp cho mỗi tháng tiền 2 quan, gạo trắng 01 phương. Các khác mỗi người mỗi tháng tiền 1 quan gạo 1 phương. Năm thứ 17 (1836), có chỉ rằng: trưởng chùa Thánh Duyên, mỗi tháng cấp cho tiền 2 quan, gạo trắng 01 phương. Các nam nữ, mỗi người mỗi tháng đều tiền 01 quan, gạo 01 phương, chú tiểu mỗi tháng tiền 5 tiền, gạo 15 đấu. Năm thứ 20 (1839), có chỉ rằng:trưởng chùa Giác Hoàng mỗi tháng cấp tiền 3 quan, gạo trắng 1 phương, c sư đều mi tháng mi người tiền 1 quan, go 1 phương.10
  1. TỪ TÌNH HÌNH TĂNG DƯỚI TRIỀU NGUYỄN ĐÃ ĐẶT RA YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC PHẬT GIÁO ĐẦU THẾ KỶ XX
nhiều ý kiến cho rằng chính sách đối với tăng, đặc biệt việc cấp độ điệp sát hạch tăng sĩ của triều Nguyễn một trong những biện pháp nhằm hạn chế sự phát triển của Phật giáo của triều đại này nhưng theo chúng tôi, việc làm này không hề làm cho Phật giáo suy giảm chính sự tham gia quản lý của triều đình đã giúp khôi phục được một đội ngũ tăng tổ chức, trình độ giáo đức độ, hạn chế được những kẻ trốn tránh lao dịch, lợi dụng cửa thiền làm nơi chống đối triều đình, góp phần đưa sinh hoạt Phật giáo đi vào nề nếp. Đây một việc làm hữu ích đối với Phật giáo, giúp cho tôn giáo này ngày càng phát triển vững chắc hơn. Chính nhà nghiên cứu Trần Hồng Liên cũng khẳng định Trong một bối cảnhhội đầy rẫy phức tạp, đạo đức suy đồi, tăng chúng sa sút về giáo lý, một số người trốn bắt lính, trốn lao dịch vào chùa… Nắm lại số chân tu (thi tăng, kiểm tra giáo lý), tạo điều kiện cho số này ít ỏi tiếp tục con đường đạo pháp việc làm hợp điều đó phần nào làm sáng tỏ chánh pháp nhà Phật, chứ không phải hành động bài xích11. Tuy nhiên, việc tổ chức sát hạch tăng sĩ do bộ Lễ chủ trì theo lối từ chương của Nho giáo cũng chỉ những người hay chữ mới được công nhận tu hành chân chính, còn những người khác, dù mộ đạo tâm thành đến mấy không diễn tả được đức tin kiến thức của mình bằng văn chương thì cho không phải tu hành chân chính, điều này khiến cho nhiều tăng tài đức khó lòng được triều đình công nhận. Đồng thời, từ hoạt động sát hạch tăng sĩ của triều đình cũng cho thấy điểm hạn chế trong phương cách giáo dục đào tạo của Pht giáo. Trước thế kXX, vic đào to ng sĩ phần lớn được thực hiện theo phương pháp truyền tâm ấn, bất lập văn tự, “thầy” dạy “trò” trong phạm vi của từng chùa, không một sở chứng nhận nào cho trình độ của tăng nên rất khó kiểm soát được chất lượng, số lượng tăng sĩ được đào tạo cũng khá khiêm tốn, nhiều tăngthông hiểu Phật Pháp nhưng không diễn đạt được bằng văn tự cũng không được nhà nước thừa nhận…
Cùng với việc sát hạch trình độ Phật học, những quy định chặt chẽ của triều Nguyễn về đạo đức, lối sống của người xuất gia cũng đã phần nào phản ảnh một thực tế đáng buồn của đội ngũ tăngđương thời. Đồng thời, những hậu đãi triều đình ưu ái dành cho các chức sắc Phật giáo tại các chùa quốc tự cũng đã làm cho giới thiền môn không ít xáo trộn, gây chia rẽ trong hàng ngũ tăng sĩ, không ít chư tăng vẫn chưa bỏ được lòng tham tìm cách chạy theo chức vị, danh tước để được hưởng bổng lộc của triều đình quên đi cốt cách của người xuất gia. Nhận xét của Thượng tọa Thích Mật Thể trong Việt Nam Phật giáo sử lược tuy chỗ còn phải luận bàn thêm nhưngcũng phần nào phản ảnh thực tế về sự suy đồi của một bộ phận tăng sĩ lúc bấy giờ: “Đến đây, từ trên vua quan cho đến thứ dân, ai ai cũng an trí đạo Phật sự cúng cấp cầu đảo chứ không biết khác nữa. phần đông họ chỉ trọng ông thầychỗ danh vọng chức tước, mặc ông thầy ấy thiếu học thiếu tu… phần đông Tăng đồ chnghĩ đến danh vọng chức tước: xin bng Tăng Cang, Trú trì, Sắc tứ…” 
Trong bi cnh đt nước bị thực dân xâm lược và thống trị thì những khiếm khuyết của đội ngũ tăngngày càng bị khoét sâu làm mục ruỗng Phật giáo từ bên trong, khiến cho nguy tự đánh mất mình ngày càng hiện hữu. Chính điều này một trong những động lực thôi thúc các bậc cao tăng thực hiện phong trào chấn hưng Phật giáo đầu thế kỷ XX nhằm đưa đến những thay đổi rất căn bản trong cách thức giáo dục đào tạo nhân tài cho đạo pháp.

***
Tài liệu tham khảo
Thích Minh Cảnh (2003), Từ điển Phật học Huệ Quang, tập 2, Nxb.
Tng hợp, Thành phố HCMinh.
Đng Vinh Dự (2011), Chuyn quốc tự ở Huế, tạp chí Huế Xưa
& Nay, số 103.
Hòa thượng Phúc Điền (1859), Đại Nam thiền uyển truyền đăng tập lục, Bản khắc in chữ Hán, lưu tại thư viện Hán Nôm, hiệu Vhv.9, tờ 45.
Kim Hoa (2003), Châu bản triều Nguyễn - liệu Phật giáo, Nxb.
Văn hóa Thông tin, Nội.
Trần Hồng Liên (1992), “Vài nét về Phật giáo thời Nguyễn” in trong
Những vấn đề văn hoáhội thời Nguyễn, Nxb. Khoa học hội.
Nội các triều Nguyễn (2009), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ,
Viện Sử học dịch, Nxb. Thuận Hóa, Huế.
Quốc sử quán triều Nguyễn (2004), Đại Nam thực lục chính biên, tập 3, 4,5, Nxb. Giáo dục, Nội.
Từ Trí (1916), Ngũ Hành Sơn lục, lưu tại chùa Linh Ứng - Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng.
Thích Mật Thể (1961), Việt Nam Phật giáo sử lược, Nxb. Minh Đức, Đà Nẵng.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây