9. PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC CỦA ĐỨC PHẬT

Thứ sáu - 06/12/2019 05:38
PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC CỦA ĐỨC PHẬT
 
NCS.SC. Thích Nữ Minh Hoa
 
 
  1. DN NHẬP
Phần lớn những ai kính ngưỡng niềm tin đối với đức Phật Ngài một đấng giác ngộ, một vị giáo chủ khai sáng ra đạo Phật với lòng từ bi trí tuệ siêu việt, nhưng ít ai nhận ra Ngài người làm nên một triết lý đạo đức, nhân bản để lại một kho tàng về văn hóa, giáo dục như lời nhận định của H.W. Schumann:Thật hiếm nhân vật trong lịch sửtưởng nhân loại từng ảnh hưởng rộng lớn lâu dài như đức Phật Siddhattha Gotama, cũng không ai từng để lại dấu ấn sâu đậm trên toàn châu Á như ngài. Ðạo giáo do ngài sáng lập không chỉ đem lại nguồn an ủi cho số người còn cung cấp nền tảng học thuyết nhân bản cao thượng một di sn văn hóa vô cùng tế nh.1
Dưới cái nhìn của một người nghiên cứu về giáo dục, với phương pháp nghiên cứu văn học sử, khi tìm hiểu về đạo Phật, chúng tôi khám phá ra một điều hết sức thú vị, đó Phật giáo,một tôn giáo rất khoa học, hẳn một hệ thống giáo dục đức Phật chính nhà giáo dục đại. Đức Phật không tự nhận mình nhà giáo dục,




*. Giảng viên HVPGVN tại TP.HCM.
    1. H.W. Schumann (1982), The Historical Buddha (Ðức Phật Lịch Sử), Trần Phương Lan (dịch) (1997), Nxb. Tp.HCM, tr.11.
 

nhưng tất cả những lời Phật dạy những bài học giá những ai thực hành đều đem lại lợi ích thiết thực cho hiện tại tương lai. Những cụm từ “định hướng, dẫn đường hay dẫn dắt” thường được sử dụng trong kinh tạng chính vai trò, trách nhiệm của người Thầy dành cho những học trò hay nói đúng hơn đó chức năng của giáo dục. Điều đặc biệt quan trọng, việc dẫn đường của đức Phật đem lại hiệu quả thiết thực lợi ích lớn cho học trò trong hiện tại tương lai chứ không phải đơn thuần chỉ trao truyền kiến thức. Quả thật, Ngài đã thiết lập nên một hệ thống giáo dục với nội dung, phương pháp cụ thể việc giáo dục của Ngài đi theo những nguyên tắc phạm phù hợp với mọi thời đại. Đây điều tất cả chúng ta cần quan tâm cái nhìn nghiêm túc về hệ thống giáo dục của đức Phật. Trong bài viết này, chúng tôi chbàn đến một sphương pháp giáo dục của đức Phtmà Ngài đãsdụng rất hiệu quả để dẫndtbao thế hệ học trò cũng đã làm nên nền giáo dục Phật giáo từ xưa đến nay.
  1. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC
Giáo dục của con người mặt ngay từ thời khai bằng việc chỉ dạy cho nhau cách “săn, bắn, hái, lượm” như một bản năng sinh tồn. hội loài người ngày một tiến bộ con người đã biết hướng dẫn, chỉ dạy những kinh nghiệm, kiến thức cho các thế hệ kế thừa dần dần nền giáo dục mặt những mục tiêu, nội dung phương pháp giáo dục cụ thể của từng giai đoạn lịch sử. thể nói, mỗi giai đoạn lịch sử đều nền giáo dục khác nhau với những nội dung, phương pháp giảng dạy phù hợp với thiết chế hội ấy.trong một ban ngành nào hay bất kỳ tổ chức nào muốn thực hiện được công việc, đều phải phương pháp làm việc thì công việc đó mới hiệu quả cao. Nếu đề ra phương pháp tốt, thích hợp thì hiệu quả thu hoạch sẽ tốt; còn phương pháp chưa cao tất nhiên không thể đòi hỏi một hiệu quả mỹ mãn. Phương pháp cách thức để giải quyết một vấn đề, hoặc con đường để thực hiện một nhiệm vụ, đạt tới một mục đích nào đó. Phương pháp giáo dục “cách thức hoạt động phối hợp thống nhất của nhà giáo dục người được giáo dục, được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của nhà giáo dục nhằm
 

thực hiện tốt các nhiệm vụ giáo dục, phù hợp với mục đích giáo dục”2. Hay nói cách khác, phương pháp giáo dục một nhân tố bản của hoạt động giáo dục, nó phản ánh cách thức tổ chức các hoạt động của nhà giáo dục người được giáo dục nhằm chuyển hóa những yêu cầu, chuẩn mực do hội quy định thành những phẩm chất, hành vi, thói quen của người được giáo dục.
Như vậy, phương pháp con đường vạch định để đạt đến mục đích cao nhất trong khoảng thời gian ngắn nhất. Nhưng phương pháp được thực hiện ra sao còn tùy thuộc rất nhiềucác nguyên lý, điều kiện thuận tiện, tùy chỗ, tùy thời để thích ứng vào hoàn cảnh hội thực tại.
nhiều phương pháp giáo dục được phân chia theo nhiều cách khác nhau. Ở đây, chúng ta tạm phân chia chúng thành ba nhóm chính3:
Nhóm phương php tc động vo ý thức c nhân: phương pháp giảng giải, đàm thoại, kể chuyện, nêu gương.
Nhóm phương php gio dục tổ chức hot động để hình thnh hnh vi v thói quen: giao việc, tập luyện thói quen, rn luyện.
Nhóm phương php gio dục kích thích hot động v điều chỉnh hnh vi ứng xử: thi đua, khen thưởng, trách phạt.
Giáo dục không nghĩa đơn thuần dạy bao gồm cả sự học, do vậy phương pháp giáo dục chính phương pháp dạy học, nghĩa bằng cách nào để truyền đạt tốt nhất, hiệu quả nhất bằng cách nào thể tiếp thu mau nhất, kết quả cao nhất.
  1. PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC CỦA ĐỨC PHẬT
thể nói những phương pháp giáo dục trên đều bao hàm trong phương pháp giáo dục Phật giáo, mặcmục tiêu khác nhau.


    1. Trần Thị Hương (chủ biên) (2009), Giáo trình Giáo dục học phổ thông, Nxb. Đại học phạm, tr. 29.
    2. Trần Thị Hương (chủ biên) (2009), Giáo trình Giáo dục học phổ thông, Nxb. Đại học phạm, tr. 30-42.
 

Đức Phật một bậc Đạo lão luyện, bằng nhiều phương pháp với kỹ năng giao tiếp tốt, Ngài thể thuyết phục đối tượng được giáo dục thay đổi cách sống, cách suy nghĩ, chấp nhận những giá trị mới tìm kiếm những mục đích mới bằng những lời thuyết pháp hùng hồn sinh động. Ðức Phật được mệnh danh bậc đạo sư, vậy phương pháp giáo dục của Ngài đã ứng dụng như thế nào trong suốt cuộc đời giáo hóa, độ sanh? đến nay phương pháp giáo dục đó còn hiệu quả không?
Ở đây, chúng ta chỉ phân tích một số những phương pháp tiêu biểu Ngài thường sử dụng cho việc giáo dục hàng đệ tử cũng như công tác hoằng pháp lợi sanh của Ngài.
      1. Nhóm phương pháp dùng lời
Đây nhóm những phương pháp nghiên về việc đức Phật sử dụng ngôn ngữ, lời nói để giảng dạy giáo pháp cho hàng đệ tử thính chúng. Nhóm phương pháp này bao gồm những phương pháp như: phương pháp nêu dụ cụ thể, phương pháp giảng giải, đàm thoại, kể chuyện, phương pháp học thuật, v.v… Đây những phương pháp đức Phật thường dùng để thuyết pháp hằng ngày với nhng nghệ thut dn dt và kng giao tiếp tốt. Trong khi đó, các vị đạo của các giáo phái khác đương thời thường dùng những hành vi ma thuật hoặc phép mầu để lôi kéo tín đồ về mình; riêng đức Phật Ngài chỉ sử dụng duy nhất đó giáo huấn.
Phương pháp giảng dạy, nêu thí dụ cụ thể được đức Thế Tôn sử dụng nhiều nhất, bởi lẽ giáo pháp của đức Phật thậm thâm vi diệu, dành cho “người thấy người biết”4. vậy, để vấn đề được sáng tỏ người nghe dễ dàng nhận ra, hiểu vấn đề, đức Phật thường nêu lên những dụ cụ thể, người nghe nhân dụ nắm bắt, thâm nhập và nhận được ý chỉ của Phật. Như kinh Pháp Hoa nêu lên dụ: “Cha biết các con đều vẫn lòng thích các đồ chơi trân báo lạ lùng, nếu chắc chúng ưa lắm bảo rằng: Đây những món ít có, khó đặng các con thể vui chơi, nếu các con không ra lấy


    1. Kinh Trung Bộ (2003), Tập I, Kinh số 2, [Tài liệu dịch], Nội: Nxb. Tôn giáo, tr.19.
 

sau chắc buồn ăn năn. Các thứ xe dê, xe hươu, xe trâu nayngoài cửa thể dùng dạo chơi, các con ở nơi nhà lửa nên mau ra đây, tùy ý các con muốn, cha đu sẽ cho các con.5
Qua đoạn kinh trên, chúng ta thấy rất nhiều hình ảnh lạ, khó hiểu nếu như không giải chúng, không nêu dụ thì chúng ta không dễ dàng để hiểu được cốt lõi của nó. Đoạn kinh này nằm trong Ví dụ nhà lửa6, kvề một Trưởng gigiàu có. Toà nhà của ông đang bốc cháy, các con ông vẫn không hề hay biết, mãi tung tăng vui đùa trong đó. “Ngôi nhà lửa” đang bị bốc cháy dụ cho chúng sanh bị sanh, già, bệnh, chết, lo buồn khổ não đốt cháy; xe dê, xe hươu, xe trâu chỉ cho ba Thừa: Thanh văn, Duyên giác Phật thừa; “Cha” hay “ông trưởng giả” chỉ cho đức Phật, bậc đã giác ngộ; “các người con” chỉ cho tất cả chúng sanh. Những người con đã ba xe này ra khỏi nhà lửa chỉ cho những bậc Thanh văn, Duyên giác và Btát. Nhưng cui cùng, Pht chđem cxe lớn, trang nghiêm nhất để ban cho chúng sanh, đó chính Phật thừa.
Tất cả chúng ta cũng đang chìm đắm trong ngũ dục, ấy vậy mấy ai tỉnh ngộ? Mấy ai xem đó những thứ rắn độc đangchung với chúng ta? Đức Thế Tôn dùng 10 dụ để chứng minh các dục vui ít khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hiểm lại càng nhiều hơn. Các dục, đức Thế Tôn như khúc xương, như miếng thịt, như bó đuốc cỏ khô, như hố than hừng, như cơn mộng, như vật dụng cho mượn, như trái cây, như lò thịt, như gậy nhọn... với 10 dụ trên, đức Phật đã chỉ cho chúng ta thấy được sự nguy hiểm của các dục.7
Ngoài ra, Ngài còn dùng nhiều dụ để nói về ‘ái dục’ sự nguy hại của nó:
Người say đắm ái dục Tự lao mình xuống dòng



 

116.
    1. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Thích Trí Tịnh (dịch) (2000), Nội: Nxb. Tôn giáo, tr.115-
 
    1. Xem thêm Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Sđd, tr.99-153.
    2. Kinh Trung Bộ (2003), Tập I, Kinh số 22 [Tài liệu dịch], Hà Nội: Nxb. Tôn giáo, tr.295.
 

Như nhện sa vào lưới.8
Sự “yêu thương” hay sự “luyến ái” của con người nhấn chìm con người trong vòng sanh tử luân hồi. Đây một vấn đề nhạy cảm rất trừu tượng, khó nói, khó diễn đạt đã được đức Phật dùng một hình ảnh cụ thể “con nhện sa lưới” để diễn tả chúng. Một dụ khác:
Người nhặt các loại hoa, Ý đắm say tham nhiễm, Bị thần chết mang đi,
Như lụt trôi ng ng.9
‘Người nhặt các hoa’ chính kẻ say, người minh; ‘các loại hoa’ ám chỉ cho những dục lạc của con người. Một người thamcác dục thì luôn đắm say trong đó bị trói buộc. vậy, họ sẽ bị tử thần, tức sự thường, già chết vây bắt kéo lôi. Giống như cơn dữ/ lụt cuốn trôi hết cả làng trong giấc ngủ say không ai hay biết.
Đức Phật còn ẩn dụ ’ái’ người làm nhà, với ’đòn tay’ thân kèo ctlà phin não. Nhng thy đã to nên cái nhà. Cái nhà y chính thân người đầy phiền não, khổ đau, chất chồng rối rắm.10
Từ một vài trưng dẫn trên, thông qua các từ ngữ dụ như: “đòn tay, kèo ct, cái nhà, ng sông ái, Chướng ngại vt, “Nhổ lên cột tr, “Đặt gánh nặng xuống, v.v... cho thy rằng, ngôn ngẩn dụ (một loại hình của dụ) một đặc trưng tiêu biểu rất phổ quát trong kinh tạng Phật giáo. nhiên, những dụ trên chỉ một trong số trường hợp được trình bày trong kinh, người nghe nhờ những dụ này dễ dàng nhận ra ý chỉ của Phật.
Với phương pháp giảng dạy - kể chuyện, đức Phật cũng thường xuyên sử dụng để dẫn dắt đệ tử mình nhận ra vấn đề một cách nhanh chóng câu chuyện thể lời nhắn nhủ để người nghe nhớ mãi tới bài pháp mỗi khi nhắc đến câu chuyện đó. Điển hình,



    1. Pháp 347.
    2. Pháp 47.
10. Pháp 153-154.
 

đức Phật đã kể hàng nghìn câu chuyện về: chuyện tiền thân của Ngài ( Jataka), chuyện Thiên cung sự, ngạ quỷ sự… cũng như các vị Phật, Bồ tát mỗi câu chuyện chứa đựng một bài học, một bài pháp nhằm giúp chuyển hóa người nghe. Như câu chuyện số 41 nói về quả báo do ngăn cản Phật tử cúng dường thức ăn cho một vị A-la-hán11, chuyện số 92 nói về Tôn giả Ananda12 đã hiến kế sách để vị vua tìm được viên ngọc bị mất cắp, v.v… Với những câu chuyện cùng với kỹ năng giao tiếp tốt nghệ thuật giảng dạy điêu luyện, đức Phật đã khéo giảng thuyết dẫn dắt người học, người nghe hiểu vấn đề thể giúp họ thay đổi tư duy từ tiêu cực sang tích cực, từ mê sang ngộ, v.v...
Đặc biệt, lối truyền đạttưởng ràng, dễ hiểu, dễ nắm bắt, kết hợp với việc nắm bắt tâm lý đối tượng giao tiếp, đức Phật dễ dàng thuyết phục người nghe, cho dù người ấy khó tính đến mấy cũng phải cúi đầu kính lễ thán phục Ngài.
Trong các cuộc đàm thoại cá nn hoặc đàm thoại với nhng đạo của các giáo phái khác, đức Phật thường sử dụng một vài phương pháp học thuật làm cho cuộc đàm thoại trở nên sinh động hấp dẫn. Thông thường, đức Phật không tiến hành cuộc thảo luận nếu như chưa hiểu quan điểm của đối phương. Ngài không bao giờ đưa ra quan điểm của mình để đối phương hay người tranh luận trình bàyquan điểm của họ. Sau đó, đức Phật mới bắt đầu đặt câu hỏi những câu hỏi được sắp xếp rất cẩn thận, luôn theo một trình tự nhằm chinh phục đối phương, giúp đối phương nhận ra những lý lẽ ngụy biện của mình. Điều đáng kính nể đức Phật không bao giờ chê bai hay bài bác ý tưởng của đối phương, luôn bình thản lắng nghe. Đây điểm khác biệt giữa đức Phật những người khác trong cuộc tranh luận. lẽ, đây một nghệ thuật để dẫn dắt thu phục lòng người trong các cuộc tranh luận của đức Phật. Chính vậy, các nhà nghiên cứu nhận định: “Nét độc



  1. Kinh Tiểu Bộ (2015), Tập IV, Chuyện Trưởng lão Losaka. Nội: Nxb. Tôn giáo, tr.283-298.
  2. Kinh Tiểu bộ (2015), Tập IV, Nội: Nxb. Tôn giáo, tr.597-610.
 

đáo nhất của đức Phật Ngài đã khéo sắp xếp lại tiến trình suy nghĩ của người tranh luận bằng cách đặt câu hỏi nhanh liên tục. Phép so sánh loại suy được sử dụng trong việc làm thêm chi tiết giải thích nhng câu hi này.13
những giáo phái thích đi tranh luận, họ nhóm người chuyên ngụy bin và được kinh đin mô tlại là bin lun như con lươn. Họ ngụy biện làm cho mọi thứ rối tung lên, nếu như đối phương thiếu kỹ năng thì sẽ dễ dàng thua cuộc. Với hạng người không biết đúng sai, tranh luận càng bướng này thì đức Phật đã chặn đứng họ lại bằng một câu trả lời dứt khoát, làm cho đối phương phải xấu hổ tự động bỏ đi. Điển hình như kinh Mật Hoàn14: Vị Bà-la-môn hỏi đức Phật “sa môn quan điểm thế nào, giảng thuyết những gì?” Câu hỏi này hàm nghĩa đợi chờ câu trả lời về triết nhân sinh trụ, sau đó ông ta sẽ tranh luận với đức Phật về quan điểm này. Nhưng đức Th Tôn đã trlời một cách rõ ràng dứt khoát kng có tranh lun với aiđời, các tưởng sẽ không ám ảnh một vị Bà-la-môn, vị ấy không bị dục triền phược, không nghi ngờ do dự, với mọi tha hối quá được đon dit, kng có tham ái vi hu và phi hu.(Bà-la-n ở đây là ch cho một bậc A-la-hán). Đây câu trả lời cứng rắn, dứt khoát về quan điểm không tranh luận của đức Phật. Điều này, đã khiến cho vị này lắc đầu nhanh chóng ra đi. Đây một phương pháp hết sức thú vị ch đức Phật sử dụng một cách hiệu quả.
Ngoài ra, Ngài còn sử dụng những phương pháp diễn đạt như: diễn dịch, quy nạp hay sử dụng các nghệ thuật của ngôn ngữ như so sánh, ẩn dụ kết hợp với kỹ năng phân tích, tổng hợp…. điều này đã giúp cho việc truyền đạt kiến thức càng hiệu quả, người học tiếp nhận một cách nhanh chóng đem lại lợi ích thiết thực trong hiện tại tương lai.




  1. Đoàn Minh Huấn & Nguyễn Quỳnh Trâm. (2001). Giáo dục minh triết Phật giáo với phát triển bền vững. Giáo dục Phật giáo trong thời hiện đại. Nội: NXB Tôn Giáo, tr.466
  2. Kinh Trung Bộ, (2003). Tập I. Kinh số 18 [Tài liệu dịch]. Nội: NXB Tôn Giáo, tr.247.
 
 
    1. Nhóm phương pháp tự tỉnh
Đây một phương pháp đặc biệt trong Phật giáo giúp cho người khác tự thức tỉnh bằng những câu nói, hành động hoặc một cử chỉ nào đó. Tuy nhiên, để phương pháp này mang kết quả tốt giúp đối tượng giao tiếp thức tỉnh, đòi hỏi người làm giáo dục phải nắm bắt được tâm lý đối phương, biết họ đang suy nghĩ điều gì? Họ cần gì?... Hơn nữa, người đó phải nhân cách đạo đức, được mọi người tôn trọng, cung kính. Đức Phật hội đủ tất cả các điều kiện cần thiết Ngài sử dụng rất thành công phương pháp đánh thức này. Trong thời đức Pht, bà Kisagotami15 có một đứa con và đứa con đó đã mang đến nguồn hạnh phúc cho bà, nhưng không may con đã chết khi vừa biết chạy. Đó nỗi bất hạnh lớn lao đã khiến bà đau khổ tột cùng. Trong nim đau xót y, bà chỉ biết ôm đứa con vào lòng và đi đến từng nhà, từng người để xin thuốc “Hãy cho con tôi thuốc. Nn duyên đã dn dt, bà đi đến tinh xá và cũng xin đức Pht như vy: “y cho con tôi thuốc. Đức Pht bảo: “Người hãy vào làng xin một nắm ht cải vđây ta sẽ cứu đứa trsng li.” Đức Phật còn dặn thêm: “Nhưng ngươi nhớ xin cho được hạt cải ở gia đình nào xưa nay chưa có người chết.
Chiều tối người đàn mệt lả ôm con trở lại, đức Phật còn chờ ở đấy. Người đàn sụt sùi thưa: “Thưa ngài, con đi khắp xóm làng nhưng kng có gia đình nào xưa nay chưa hề có người chết.Pht bảo: Cả thế gian này có cùng ni đau như con.Ngay sau câu nói đó, người đàn đã tỉnh ngộ đức Thế Tôn dạy thêm:
Tâm còn bị đắm say, Con cái súc vật, Tử thần bắt người ấy,
Như lụt trôi làng ngủ”.
(Pháp cú 287)



  1. Kinh Tiểu bộ. (2015). Tập IV. Trưởng Lão Ni Kệ. Kisà Gotamì. Nội: Nxb Tôn Giáo, tr.593
 

Sau khi đức Phật nói xong, chứng được quả, xin được xuất gia không bao lâu sau chứng quả A-la-hán.
Qua câu chuyện trên, chúng ta thấy, đức Phật đã làm cho người phụ nữ đau khổ tự thức tỉnh nhận ra được sự thật của cuộc đời, đó là ai cũng phải chết. Như vy, khi một đi tượng