8. PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC CỦA ĐỨC PHẬT TRONG KINH PĀLI

Thứ sáu - 06/12/2019 05:40
PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC CỦA ĐỨC PHẬT TRONG KINH PĀLI
 
TSĐ. Thích Trung Định
 
Kinh tạng Nikāya cho chúng ta một bức tranh sinh động về nghệ thuật thuyết giảng của đức Phật. Bức tranh đó mô tả chi tiết về những sinh hoạt thường nhật lời dạy của Ngài hàm chứa một triết lý giáo dục đại. Hầu hết trong lời dạy của đức Phật được tìm thấyđây đều mang hình thức của các cuộc đối thoại hội thoại. Thỉnh thoảng cũng những bài kinh đức Phật tự nói ra còn được gi là Vô vn tự thuyết. Nhng bài ging đó được thuyết ging tại những địa điểm khác nhau, cho những đối tượng khác nhau, tùy theo căn trình độ của Thính chúng. Nói chung, trong mỗi bài thuyết pháp đều nguyên nhân điều kiện để đức Phật nói pháp.
Một số bài kinh đức Phật tuyên thuyết để chấn chỉnh một vài quan điểm sai lầm từ các đệ tử của mình hoặc của người khác. cũng những bài pháp đức Phật thuyết như để thách thức đối với các phái ngoại đạo. Nói chung rất nhiều do để đức Phật thuyết pháp. Tt cđu nhằm một mc đích là đưa chúng sanh xa lìa tà kiến cchấp, phiền não khổ đau đạt đến chánh kiến, giải thoát, niết bàn.
rất nhiều phương thức được đức Phật sử dụng trong khi thuyết pháp. Ở đây, chúng tôi trình bày một số phương pháp Ngài thường xuyên sử dụng được tìm thấy trong kinh tạng như sau.
 
 
  1. ĐỨC PHẬT GIẢNG PHÁP THEO YÊU CẦU
Hầu hết các bài thuyết pháp của đức Phật đều thực hiện theo sự yêu cầu của tứ chúng đệ tử, hoặc cho người khác. Nghĩa đức Phật luôn sẵn sàng giải thích những vướng mắc cho các hàng đệ tử cũng như người khác khi họ yêu cầu.
Chúng ta thể tìm thấy trong kinh tạng Pāli rất nhiều câu như: “Nó là tốt cho các Tkheo, bạch Đức Thế Tôn, nó là hữu ích cho các Tkheo, bạch Đức Thế Tôn! Nếu Thế Tôn giải thích vn đề đó vì lòng bi mẫn.Trong nhng trường hợp như vy, đức Pht sn sàng giải thích để làm sáng tỏ các quan điểm của mình để chấm dứt những phán đoán mờ của chúng đệ tử.
Đạo Phật luôn khuyến khích mọi người ‘đến để thấy chứ không phải đến để tin.Do vy, đức Pht luôn đáp ứng nhng nhu cu nếu một ai đó cần hỏi đến Ngài về những kiến thức giáo lý: “Nếu kiến thức của bn là kng đy đ, Tôi sẽ hoàn tnh nó cho bn.1 Ngài luôn đấng Đạo cởi mở, thân thiện gần gủi với chúng sinh. Ngài đã giảng giải chánh pháp không phân biệt sang, hn, thấp, cao: “Đối với các pháp Như Lai không bao giờ đấng Đạo với bàn tay nắm li.2 Nhng gì cn thiết để giải quyết vn đề giải thoát khổ đau sinh tử thì Ngài đã thuyết giảng.
Vài phút trước khi nhập Niết bàn, đức Phật yêu cầu các Tỷ kheo nêu ra những thắc mắc nếu đối với lời dạy của Ngài. “Này các Tỷ kheo, nếu Tỷ kheo nào nghi nghờ hay phân vân về đức Phật, Pháp, chúng Tăng, đạo hay phương pháp, thời này các Tỷ kheo, các người hãy hi đi. Sau chcó hi tiếc.3 Nhưng kng ai trong s500 Tkheo mặt tại đêm đức Phật Niết bàn thắc mắc hay nghi nghờ về giáo phápca Ngài. Bởigiáophápy đức Phtđã dùng nhiều phương tiện giải thích một cách ràng từ thiện, trung thiện, đến hậu thiện, với văn nghĩa đầy đủ, trình bày phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, thanh tịnh.


    1. See F. L. Woodward, The Book of the Gradual Sayings, Vol. I, Motilal Banarsidass, Delhi, 2005 (reprints), p.168.
    2. Th      Minh Châu(dịch), Trường BKinh, Tp 1, NXB Tôn giáo, Hà Ni, 2005, tr. 583. 3. Sđd, tr. 664.
 

Những yêu cầu như vậy thỉnh thoảng đức Phật cũng đưa ra đối với ng Cư sĩ Pht tử. Trong con mt của người Pht tử tại gia, đức Phật bậc Giác ngộ hoàn toàn giải thoát. Ngài không chỉ cụ túc về từ bi trí tuệ còn khả năng siêu nhiên. vậy, tìm kiếm lời khuyên hoặc quy y với Ngài một hội may mắn, hạnh phúc suốt đời.
Trong quá trình vân du thuyết pp, đức Pht thường gn gũi với người dân thường để tạo hội thuận lợi cho mọi người những thắc mắc, nghi vấn về đời sống đạo đức đều được đức Phật khuyên bảo, chỉ dy. Trong một trường hợp khi con gái của Anga Menidaika sắp đi lấy chồng, ông đã thỉnh cầu đức Phật cho những lời khuyên. ‘Bạch Đức Thế Tôn! Các cô con gái của tôi sp đi đến nhà chồng. Xin Ngài từ bi cho chúng một vài lời khuyên, để đời sống của chúng được tốt đẹp hơn hạnh phúc trong hiện tại tương lai.’ Đức Pht đã hướng dn như sau: Cô dâu mới về nhà chồng thể gặp những khó khăn, thế nàng dâu phải tuân thủ những nguyên tắc sống trong gia đình nhà chồng, phải kính trọng bố mẹ chồng, phục vụ bố mẹ chồng một cách chu đáo như bố mẹ ruột của mình, phải tôn trọng kính mến những người thân bạn hữu bên nhà chồng, như vậy dâu mới đã tạo nên một bầu không khí an vui hòa hợp trong gia đình chồng. Đồng thời cần phải tìm hiểu những bản tánh của chồng, biết những hành động, tính khí của chồng cộng sự với chồng ở mọi lúc mọi nơi trong nhà mới của chồng. Phải lịch sự, tử tế biết những thu nhập của chồng, quản lý chi tiêu một cách hợp lý.”4 Lời khuyên cùng hợp lý không chỉ cho những con gái sắp đi lấy chồng còn thể áp dụng cho mọi thành viên trong một gia đình để thiết lập một đời sống an lạc hạnh phúc giữa đời thường.
Giảng pháp theo yêu cầu phương pháp mang lại hiệu quả thiết thực. Dựa trên những thắc mắc, ưu tư, đức Phật giải thích khuyến khích bằng tình thương trí tuệ của mình, làm cho đối tượng nghe




4. E. M. Hare, The Book of the Gradual Sayings, Vol.III, pp.29-30.
 

pháp tiếp thu một cách trực tiếp, trọn vẹn, đem lại lợi ích thật sự ngay trong cuộc sống hiện tại tương lai.
2. ĐỨC PHẬT THUYẾT PHÁP ĐỂ XÓA BỎ CÁC NGHI VẤN, THẮC MẮC
Đôi khi đức Phật thuyết pháp để làm nhẹ đi trong tâm trí các môn đệ các truy vấn, nghi ngờ của người khác. Do không hiểu nên sinh tâm nghi ngờ. Mỗi khi các nghi vấn thắc mắc được giải quyết thì vấn đề trở nên sáng tỏ hơn. những nghi ngờ đã xảy ra trong tâm trí của nhà Mālunkyaputta về ý tưởng tại sao đức Phật không bao giờ làm sáng tỏ nguồn gốc bản chất của trụ. Ngay lập tức ông đến gặp đức Phật yêu cầu Ngài giải thích lý do đó. Thế giới thường hay thường? Thế giới hữu biên hay biên? Như Lai tồn tại sau khi chết? v.v... Một loạt câu nghi vấn được đt ra đi với đức Pht. Trong trường hợp này, Đức Thế Tôn im lặng. Ngài nói cho Màlunkyaputta nghe câu chuyện một người bị mũi tên độc bắn trúng. Vấn đề cấp thiết giải phẩu mũi tên độc ngay, chứ không phải mất công ích để tìm cho ra ngọn ngành mũi tên người bắn mũi tên trước khi chịu giải phẩu. Cũng thế, vấn đề cấp thiết của con người nhổ mũi tên ‘khổ đau’ chứ không phải đi tìm những câu trả lời cho các vấn đề siêu hình không thiết thực.
Trường B, kinh Sa môn quả mô tả câu chuyn Vua A Xà Thế (Ajatasattu) một thắc mắc lớn trong lòng về quả vị của bậc Sa môn. Ông đã lần lượt đi hỏi hết Lục ngoại đạo đương thời, nhưng vua hoàn toàn thất vọng với câu trả lời chiếu lệ của các bậc thầy hiện tại. Cuối cùng ông đã tìm đến gặp đức Phật mong lý giải những thắc mắc ấy, đã được Ngài giải thích thỏa đáng những nghi vấn trong lòng, khiến vua phát tâm quy y Tam bảo, trở thành vị vua Phật tử công lao hộ trì Phật pháp lớn lao sau này.
Một dịp Kālāmā của Kesaputta quá nhiều thắc mắc, nghi vấn trong đầu những luận điểm xuyên tạc nhau giữa các Sa môn, la môn. “họ chỉ làm sáng tỏ, họ làm chói sáng quan điểm của mình, nhưng họ bài xích quan điểm người khác, khinh miệt, chê bai, xuyên tc. Đi với h, bạch Thế Tôn, chúng con có nhng nghi
 

ngờ, pn vân.5
Đức Phật đã giúp Kālāmā ra khỏi bối rối bởi những lời khuyên rất nổi tiếng: “Đương nhiên, này các Kālāmā, các Ông những nghi ngờ! Đương nhiên, này các Kālāmā các Ông những phân vân! Trong nhng trường hợp đáng nghi ngờ, các Ông đương nhiên khởi lên phân vân. Này các Kālāmā, chớtin nghe báo cáo, chớ tin nghe truyền thuyết; chớ tin theo truyền thống; chớ tin được kinh điển truyền tụng; chớ tin luận suy diễn; chớ tin diễn giải tương tự; chớ tin đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ tin phù hợp với định kiến; chớ tin phát xuất từ nơi uy quyền, chớ tin vị Sa-môn bậc đạo của mình. Nhưng này các Kālāmā, khi nào tự mình biếtnhư sau: ‘Các pháp này bất thiện; Các pháp này đáng chê; Các pháp này bị các người trí chỉ trích; Các pháp này nếu thực hiện chấp nhận đưa đến bt hạnh khổ đau, thời này Kālāmā, hãy từ bỏ chúng!”6
Đức Phật tiếp tục tư vấn cho Kālāmā bằng cách chỉ ra rằng tham lam, thù hận si mê gốc rễ của tất cả các hành vi ác. Do đó, nếu bất cứ hành động nào nhìn thấy được kết nối với một trong ba độc, (tham, sân, si), hành động như vậy tội, ta nên từ bỏ chúng. Ngược lại, nếu bất cứ hành động nào được xem từ bỏ tham, từ bỏ sân và từ bỏ si, hành động đó là tốt, có lợi ích, thì ta nên cố gắng phát triển nó.
Lời giải thích trên thực sự một phương pháp xác minh tính thực nghiệm hợp lý, khoa học dưới nhãn quan của Phật giáo. Như một vấn đề của thực tế, đạo đức Phật giáo không dựa trên bất kỳ quan niệm thông thường. một nền luânphổ quát vượt ra khỏi các định kiến về niềm tin Tôn giáo hay kỳ thị phân biệt. Lời dạy của đức Phật một phương tiện đại diện cho sự thật. được tuyên bố cho mọi người đến thấy biết, chứ không phải để thờ phượng hay tin tưởng đơn thuần.




5. Th     Minh Châu(dịch), Tăng Chi BKinh, tập 1, NXB Tôn Giáo, Hà Ni, 2005, tr. 338. 6. Sđd, tr. 338.
 
 
  1. GIẢNG PHÁP ĐỂ AN ỦI KHUYẾN KHÍCH NGƯỜI KHÁC
Trong một sbài ging của mình, đức Pht tuyên thuyết để làm an ủi khuyến khích người khác khi họ gặp phải những điều bất như ý, khổ đau xảy ra. thể nói dòng chảy của cuộc đời dòng chảy của nước mắt tận. Những nỗi khổ niềm đau luôn thường trực xảy ra đối với con người trên thế giới đầy bất toàn, biến động thường này. Ch những người đã đoạn tận lậu hoặc, giải thoát hoàn toàn mới thể sống an nhiên tự tại. Còn những chúng sinh thường tình thì cuộc sống này thực sự bể khổ họ chưa thể thoát ra được. Nên những lời khuyên, an ủi sẽ trở nên hữu ích thực sự trong một số trường hợp đặc biệt.
Đức Phật người biết thế giới, đấng Thiện thệ..., do đó ngài trở thành nơi nương tựa vững chắc cho những tâm thức đau khổ muốn trở về nương tựa. Vài phút trước khi nhập Niết Bàn, khi biết Ananda buồn khóc biết sẽ sắp lìa xa đức Thế Tôn mãi mãi. Đức Phật an ủi: “Thôi vừa rồi, Ananda, chớ buồn rầu, chớ khóc than. Này Ananda, Ta đã tuyên bố trước với người rằng mọi vật luyến ái, tốt đẹp đều phải sanh biệt, tử biệt dị biệt. Này Anan- da làm sao được sự kiện này: ‘Các pháp sanh, trú, hữu vi, biến hoại đừng bị tiêu diệt?’ Không thể sự kiện như thế được. Này Ananda, đã lâu ngày, Ngươi đối với Như Lai, với thân nghiệp đầy lòng từ ái, lợi ích an lạc một không hai, lượng với khẩu nghiệp đầy lòng từ ái, lợi ích an lạc một không hai, với ý nghiệp đầy lòng từ ái, lợi ích an lạc một không hai, lượng. Này Ananda, Ngươi là người tác thành công đức. Hãy cố gắng tinh tấn lên, người sẽ chng bậc vô lu, kng bao lâu.7 Lời an ủi của đức Pht đã trthành một động lực lớn lao đối với Ananda. Một thời gian sau khi đức Phật nhập niết bàn, trước đêm diễn ra đại hội kết tập kinh điển lần thứ nhất tại hang động Thất diệp, Ananda đã chứng được thánh quả A-la-hán.
Lời an ủi của đức Phật trở nên quá hữu ích khi một mẹ ôm



7. Th     Minh Châu(dịch), Trường Bkinh, tập 1, NXB Tôn giáo, Hà Ni, 2005, tr. 649.
 

xác đứa con vừa mới chết với tâm trạng suy sụp tinh thần, đau buồn, thương tiếc kinh khủng. đến gặp đức Phật mang theo xác đứa con trai thỉnh cầu thuốc phục sinh cho nó. Đức Phật đã nói với rằng: hãy đi xin một số hạt cải trong một ngôi nhà chưa từng người nào chết. đã đi từ nhà này đến nhà kia nhưng không thể tìm ra một ngôi nhà nào chưa từng sự chết trải qua. Từ đó, trong dần dần phát sinh nội quán tỉnh thức ý nghĩa của sự chết. nhận ra sự chết một hiện tượng phổ biến, không ai tránh khỏi. Từ đó bớt đau khổ.
  1. ĐỨC PHẬT THUYẾT PHÁP ĐỂ TRỊ LIỆU THÂN, TÂM BỆNH
Một số bài thuyết giảng của đức Phật không những nhằm mục đích để trị liệu tâm bệnh còn cả thân bệnh. Vấn đề chăm sóc sức khỏe thể thất tinh thần luôn được đức Phật chú trọng thuyết ging. Trong thời Pht tại thế, bnh tt là một hin tượng phổ biến trong cuộc đời của chư vị Tỳ kheo. thân thì bệnh, đó quy lut tự nhiên. Trong Trung Bộ kinh chúng ta thy khá rõ ở bài kinh Giáo giới Channa bài kinh Giáo giới Cấp Độctả về tình trạng đau ốm bệnh tật. Các quy định liên tục về quy tắc tu viện liên quan đến chế độ sinh hoạt của các Tỷ kheo mà chúng ta có thể thấy trong Luật tạng chứng minh cho điều đó. Đức Phật không xem nhẹ vấn đề chăm sóc sức khỏe thể chất Ngài cũng luôn nhấn mạnh vào việc chữa trị tâm bệnh. Hai vấn đề này mối liên hệ mật thiết với nhau. Theo Ngài, tâm trí không thể tập trung trong trường hợp thể bị xáo trộn bởi những cảm xúc đau đớn, bệnh tật. Ngài đã từng tuyên bố một câu nói đầy minh triết khi quyết định rời bỏ năm anh em Kiều Trần Như tại Khổ Hạnh Lâm rằng: ‘Không thể có một trí tuệ minh mẫn trong một thể xác tiu tụy héo mòn.Vic chăm sóc sức khỏe cần thiết, nhưng đừng hưởng thụ thái quá gây chướng ngại cho quá trình tu tập thin định. Trong tứ sự cúng dường vị Tỷ kheo thọ nhận, thì thuốc chữa bệnh một. Thời Phật tại thế cũng một vị Y sỹ nổi tiếng đó Y sĩ Jivāka luôn chăm sóc sức khỏe cho đức Phật Tăng đoàn.
Ngoài hiệu quả của thuốc chữa bệnh, đức Phật thường dạy các vị
 

Tỷ kheo hãy chăm sóc lẫn nhau để làm dịu cơn đau bằng cách nhắc lại pháp Thất giác chi. Đó niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỹ, khinh an, định xã. Đức Phật đã từng bảo Tôn giả Mahā Cunda nhắc lại pháp này khi Ngài lâm trọng bệnh. Vâng lời Mahā Cunda nhắc lại pháp Thất giác chi Thế Tôn đã chơn chánh thuyết giảng để tu tập làm cho sung mãn. Sau đó đức Thế Tôn khỏi bệnh.8  một phương pháp để giúp người mang bệnh tật thực tập quán chiếu đó pháp Niệm xứ. Tức quán bất tịnh trên thân, quán ghê tởm đối với món ăn, tưởng không thích thú đối với tất cả thế giới, quán thường trong tất cả hành, nội tâm khéo an trú trong tưởng về chết. Nếu năm pháp này được người bệnh thường xuyên quán chiếu thì: ‘không bao lâu, do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, với thắng trí sẽ chứng ngộ, chứng đạt tâm an trú lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
Không chỉ thuyết pháp cho người bị bệnh đức Phật còn dạy cho người săn sóc bệnh đầy đủ kiến thức tốt để giúp cho người bệnh nhanh chống phục hồi an ổn, đó là: “Làm điều thích đáng; biết vừa phải trong khi chữa trị; sử dụng thuốc; với người săn sóc bnh có lợi ích cho mình; như tht biết rõ bnh hon.9 Đức Pht còn yêu cầu thiết yếu hơn đối với người săn sóc bệnh phải: “Có năng lực pha thuốc; biết cái thích đáng, cái không thích đáng; đưa cái thích đáng, không đưa cái không thích đáng, lòng từ săn sóc người bệnh, không lợi ích vật chất, không cảm thấy ghê tởm khi phải dọn phân, nước tiểu, đồ mửa ra, hay đờm; năng lực thỉnh thoảng với pháp thoại trình bày, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hngười bnh.10
Đức Phật còn cặn kẻ căn dặn các Tỷ kheo hãy tận tình chăm sóc cho nhau khi ốm đau. “Những người đồng phạm hạnh với các ông bị đau ốm, các ông không săn sóc cho nhau thì ai săn sóc? Các ông




8. Xem, Thích Minh Châu (dịch), Tương Ưng Bộ kinh, Phẩm về bệnh, NXB Tôn Giáo, Nội, tr. 127.
9. Sđd, tr. 127.
10. Sđd, tr. 127.
 

mỗi người đều khác họ, khác nhà, niềm tin bỏ nhà xuất gia, sống không nhà, đều cùng một họ Sa-môn Thích tử, đồng tu phạm hạnh, nếu không săn sóc lẫn nhau thì ai săn sóc?”
Trong một số trường hợp đức Pht đã trực tiếp đến tm các Tkheo bị bệnh, những lời khuyến tấn khích lệ bệnh nhân. “Này Kasaspa, Ông kham nhẫn được chăng? Ông chịu đựng được chăng? phải khổ thọ giảm thiểu, không tăng trưởng? phải triệu chứng giảm thiểu không tăng trưởng?”11 Sau đó đức Phật đã thuyết bài pháp thoại Thất giác chi, Tôn giả Mahā Kasaspa hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy khỏi bệnh.
Trường hợp các Tkheo quá đau đớn, vô vng khi bcơn đau hành hạ thể làm mất phương hướng tu tập giải thoát, đức Phật kịp thời những lời khuyên để động viên tinh thần: “Bạn nghi ngờ bất kỳ điều không, Tỷ kheo? Bạn hối hận bất cứ điều không, Tỷ kheo? Bạn khiển trách mình về đời sống đạo đức?” Sau đó, đức Phật thuyết một bài pháp thoại nhấn mạnh đến đặc tính không thật của các pháp cho đương sự nghe để thấu hiểu về sự yếm ly kiên định lý tưởng tu tập giải thoát.
Khi Tỷ kheo Channa mang bệnh nặng, không thể kham nhẫn, không thể chịu đựng phải cần đến con dao để chấm dứt mạng sống để khỏi bị cơn bệnh hành hạ. Tôn giả Lợi Phật đến thăm khu- yên Tỷ kheo Channa cố gắng kham nhẫn, chịu đựng cơn đau để duy trì mạng sống. Sau đó Tôn giả Lợi Phất nói cho Channa nghe về tự tính ngã của thân thể năm uẩn này.thức rằng: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải tôi, cái này không phải tự ngã của tôi,” để đoạn trừ đau khổ. Ngài nhắc lại lời dạy của đức Thế Tôn và khuyên Channa phải luôn thường trực tác ý: Ai có chấp trước dao động. Ai không chấp trước không dao động. Không dao động thời khinh an; khinh an thời không hy cầu; không hy cầu thời không khứ lai; không khứ lai thời không sanh tử; không sanh tử thời không đời này, không




11. Sđd, tr. 125.


có đời sau, kng có giữa hai đời. Như vy là sự đon tận khổ đau.12
Thật khó để khẳng định rằng một căn bệnh vậtnhất định thể được chữa khỏi bằng năng lượng chỉ đơn thuần tinh thần. Nhưngchắc chắn rằng các tu sĩ Phật giáo của nhiều thế hệ đã sử dụng phương thuốc này hiệu quả không chỉ để chữa bệnh thể chất còn cho tinh thần. Việc chiêm nghiệm phân tích về tự tính ngã của năm uẩn một chủ đề lớn của việc chữa bệnh trong Phật giáo. Bởi vì, nếu ai thực tập quán chiếu sâu về tính ngã của năm uẩn thì cảm thọ về khổ đau cũng được thuyên giảm.
Còn rất nhiều phương thức thuyết giảng của đức Phật được tìm thấy trong Kinh tạng, Luật tạng cũng như Luận tạng. Một bài viết ngắn khó thể trình bày đầy đủ. Tuy nhiên, với những phương pháp được trình bàytrên cũng đủ để thấy rằng đức Phật không chỉ một nhà giáo dục Ngài còn một nhà tâm lý, triết gia đại. Nơi Ngài, luôn tròn đầy lòng từ bi trí tuệ. Từ bi để thương yêu, che chở. Trí tuệ để dẫn dắt chúng sinh đoạn trừ phiền não khổ đau, chứng đạt Thánh trí, giải thoát.



***


 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây