6. Vai trò giáo dục đạo đức của Phật giáo ở Việt Nam - TS. Lê Đức Hạnh

Thứ sáu - 06/12/2019 09:42
VAI TRÒ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM
TS. Đức Hạnh
 

Phật giáo truyền vào Việt Nam hơn 2.000 năm ngày càngnhiều đóng góp tích cực trong lĩnh vực y tế, thiện nguyệnhội, văn hóa
- nghệ thuật, giáo dục… Trong lĩnh vực giáo dục, Phật giáovai trò đặc biệt quan trọng trong việc giáo dục đạo đức, lối sống cho con người Việt Nam, định hình bản sắc đạo đức Phật giáo Việt Nam. Bài viết trình bày về những nội dung, mục tiêubản trong giáo dục đạo đức của Phật giáo, đồng thời chỉ ra vai trò quan trọng của giáo dục đạo đức Phật giáo. Phật giáo đã góp phần quan trọng vào sự ổn định phát triển củahội Việt Nam.
  1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Phật giáo hiện nay tôn giáo lớn thứ 3 trên thế giới (sau Kitô giáo và Hi giáo) đã du nhập vào Vit Nam hơn 2.000 m. Trong suốt quá trình hình thành phát triển, Phật giáo Việt Nam đã nhiều đóng góp trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, góp phần thúc đy xã hi phát trin. Trong tiến trình lịch sử của dân tộc, Phật giáo đã đóng góp nhiều trong lĩnh vực nghệ thuật, thiện nguyn xã hội, văn hóa, y tế, giáo dục. Trong lĩnh vực giáo dục, Pht giáo đóng góp lớn về giáo dục đạo đức, lối sống cho con người Việt Nam, góp phần quan trọng trong việc định hình các quan niệm,
 

chuẩn mực hệ giá trị đạo đức trong hội. Từ khi du nhập đến nay,tưởng về đạo đức nhân sinh của Phật giáo một tư tưởng xuyên suốt ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của con người Vit Nam. Trong bi cnh hin đại hóa ngày càng mạnh m, tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, sự mất cân bằng sinh thái, tình trạng đói nghèo, thất học bạo lực tràn lan… thì đạo đức Phật giáo vai trò quan trọng trong việc góp phần giảm thiểu những vấn đề đó. Phật giáo giúp con người thay đổi cáchduy, lời nói, hành vi theo con đường chánh đạo trong mối quan hệ hài hòa giữa người với người với môi trường tự nhiên. Với mục tiêu tối thượnghạnh phúc an lạc cho nhân sinh, Phật giáo luôn trách nhiệm chia sẻ, giải quyết những vấn nạn hội sự ổn định phát triển của hội. Đánh giá ý nghĩa, vai trò của giáo dục đạo đức Phật giáo sẽ giúp cho chúng ta nhận thức hơn, đúng hơn những đóng góp to lớn của Phật trong vấn đề này để từ đó những chính sách phù hợp thúc đẩy phát huy hơn nữa những giá trị trân quý của Phật giáo Việt Nam.
  1. NỘI DUNG
    1. Một số định nghĩa liên quan
* Định nghĩa giáo dục
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa “giáo dục” là: “Giáo dục 1. (động từ). Hoạt động nhằm tác động một cách hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần được những phẩm chất năng lực như yêu cầu đề ra. 2. (danh từ). Hệ thống các biện pháp quan giảng dạy giáo dục của một nước.1 Dù ở xã hi nào, quốc gia nào thì giáo dục cũng đều lấy con người làm đối tượng, nhằm phát triển ba phương diện trí tuệ, tình cảm, thể chất, mặc những cấp độ/mức độ khác nhau. Giáo dục bao gồm việc dạy học, với việc truyền thụ, phổ biến tri thức qua các thế hệ, nhằm đánh thức trau dồi khả năng, năng lực tiềm ẩn, trí tuệ của mỗi người. 3 môi trường


      1. Viện Ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt, Nxb. Từ điển Bách Khoa, Nội, 2010, tr.379.
 

để giáo dục tồn tại phát triển qua các thời đại là: gia đình, nhà trường hội.2
  • Khái niệm đạo đức
“Đạo đức” bắt nguồn từ tiếng Latinh mos (moris) - lề thói, đạo nghĩa. Khái nim đo đức ở Trung Quốc xut hin vào đời nhà Chu, dùng để nói đến nhân đức, đức tính, đạo nghĩa, nguyên tắc luân lý. Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa “đạo đức một trong những hình thái sớm nhất của ý thức hội bao gồm những chuẩn mực hội điều chỉnh hành vi của con người trong quan hệ với người khác với cộng đồng (gia đình, làng xóm, giai cấp, dân tộc hoặc toàn hội). Căn cứ vào những chuẩn mực ấy, người ta đánh giá hành vi của mỗi người theo các quan niệm về thiện ác, về cái không được làm (vô đạo đức) về nghĩa vụ phải làm”3. Và, đạo đức cũng được định nghĩa “là một hình thái ý thức hội, tập hợp những nguyên tắc, qui tắc, chuẩn mực hội, nhằm điều chỉnh cách đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau quan hệ với hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi sức mạnh của truyền thống sức mạnh của dư luận hội”4.
  • Khái niệm đạo đức Phật giáo
thể thấy toàn bộ giáo lý của Đức Phật một giáođạo đức, được xây dựng trêntưởng của giải thoát luận. Theo Phật giáo Đạo chánh pháp, đức đắc đạo, không làm sai lệch nền chánh pháp”, hay “Các chân tính, các nguyên tự nhiên đạo; vào được lòng người, cảm ứng với người đức. Đạo đức nền pháp giáo người ta nên theo”5. Từ chánh pháp về giải thoát của Phật giáo cho thấy mọi giá trị đạo đức Phật giáo nhằm giúp con người đạt đến cảnh

      1. Trần Thị Hoài Hương, Giáo dục Phật giáo ý nghĩa của đối với giáo dục đạo đức thanh niên Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ, Nội, 2016, tr. 17.
      2. Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam (2000), Từ điển Bách khoa Việt Nam 1 (A-Đ), Nxb. Từ điển Bách khoa, tr. 738.
      3. Học viện Chính trị Quốc gia, Giáo trình đạo đức học, Nxb. Chính trị Quốc gia, Nội, 2000, tr. 816.
      4. Đoàn Trung Còn, Phật học từ điển, quyển 2, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1997, tr.
524.
 

giới Niết bàn,trở thành những nguyên tắc đạo đức căn bản của hội. Đạo đức của Phật giáo được thể hiện qua các phạm trù phổ biến như: thiện - ác, tứ lượng tâm, bình đẳng, hiếu đạo v.v… Đạo đức Phật giáo lấytưởng duyên khởi ngã làm chủ đạo. Đó những giới điều Phật dạy nhằm ngăn chặn những điều ác, hướng con người tới những điều thiện nhằm đem đến sự an vui cho hội, hạnh phúc cho con người.
  1. Những nội dung bản của giáo dục Phật giáo
Qua lời dạy của Đức Phật thì trách nhiệm đạo đức của mỗi cá nhân, nên lựa chọn đi theo con đường của sự bố thí, xả bỏ, bao dung, để được bình yên, thịnh vượng    hạnh  phúc. Phật giáo chú trọng vào giáo dục luật nhân  quả  dựa  trên  sự hoạt động  của  đồng  duyên  khởi.  Xuất  phát  từ quan điểm tâm được giải phóng khỏi tham,  sân    si,  thì  con  người  sẽ  buông xả, bình an hạnh phúc. Để được hạnh phúc thực sự, mỗi người cần phải tu dưỡng bản thân mình đem sự tốt lành đến với người khác.
Từ giáo đến thực tiễn,    thể  dễ  dàng  nhận  thấy  những nội dung bản, nổi bật của giáo dục Phật giáo như  dạy  các chuẩn mực hội, các điều cấm kỵ về văn hóa hội cho con người mong muốn mỗi người trở thành những công dân tốt cho xã hội. Trong chùa, có nhiu lớp  học  về  cnh  pp  để  ging dy cho con người về nhng giá trm linh. Trong một xã hi với đầy rẫy những tệ nạn như nghiện hút, cờ bạc, tha hóa đạo đức, suy hoại phẩm chất,cách thì Phật giáo với giáo lý của mình hướng con người tránh xa những điều xấu, điều “ác” đó. Khi nói đến đạo đức Phật giáo tức đề cập đến Bát chánh đạo, Tứ lượng tâm, giáo pháp của Đức Phật.
Bát chánh đạo. Toàn bộ kỷ lut Pht giáo theo đo lộ có thể được chia thành ba uẩn: Trí tuệ, Giới luật Định tâm (thực hành thể cht, tinh thần và trí tu). Trong nhim vđo đức và tnh tựu triết học của Phật giáo, ba khái niệm trên chiếm vị trí rất quan trọng. Th nhất, Trí tuệ đề cập đến ‘Chánhduy’ (Suy nghĩ đúng)
 

‘Chánh kiến’ (Quan điểm đúng). Phật giáo nhấn mạnh về quan điểm đúng hay tầm nhìn đúng cho thấy các chuẩn mực đạo đức nên được dựa trên việc hiện thực hóa các sự thật bản. ‘Chánh duy’ (Suy nghĩ đúng) ý nghĩa hội quan trọng cần thiết cho sự tăng trưởng của cảm giác về lòng nhân từ lòng từ bi đối với tất cả chúng sinh. Th hai, Giới luật quy tắc đạo đức toàn diện với Chánh ngữ (Lời nói chân thật), Chánh nghiệp (Hành động đúng), Chánh mạng (Sinh kế đúng đắn) Chánh tinh tấn (Nỗ lực đúng đắn). Th ba, Định bao gồm Chánh niệm Chánh định. Chánh niệm quá trình rèn luyện tinh thần, liên tục giúp loại bỏ mọi vọng niệm, mong cầu. Với sự luyện tập thể tâm trí dẻo dai được đào tạo đến mức không ham muốn hay sự từ chối nào thể len lỏi vào người khao khát xây dựng nhân cách đạo đức mạnh mẽ bằng cách trở nên hăng hái, cảnh giác, tự chủ im lặng với Chánh định (Suy ngẫm đúng) của quá trình đạo đức tâm trí trở nên bình tĩnh thanh thản.
Tvô lượng tâm. Trong giáo lý Pht giáo đó là Tvô lượng: m lành hướng về mọi chúng sinh; Bi lượng: xót thương cứu giúp tất cả chúng sinh; Hỷ lượng: tâm thức vui mừng hân hoan khi nhận thấy những điều lành của chúng sinh; Xả lượng: buông xả không chỉ cho việc thiết lập còn duy trì phát triển một hội tốt đẹp. Từ lượng một trong những khái niệm quan trọng nhất trong đạo đức Phật giáo ý nghĩa hội to lớn. Đó một trong những nguyên tắc của giới luật cầu mong hạnh phúc của tất cả các sinh vật trong trụ, duyên hoặc duyên, sinh ra hoặc chưa được sinh ra. Từ lượng còn nghĩa không làm hại, chê bai, nói xấu người khác. Tâm bi biểu thị sự tu luyện của một cảm giác thương xót cứu khổ cho hết thảy chúng sinh. Phật tử không chỉ suy nghĩ từ bi còn phải tích cực hành động không ngừng ngh cho đến khi giúp hết người khác thoát khỏi cảnh khổ. Đặc điểm chính của tâm bi dứt trừ đau khổ cho người khác. dạy con người tự nguyện phục vụ những người khác nhằm loại bỏ những đau khổ của họ với tấm lòng vị tha không bất kỳ sự mong cầu đền ơn. Đó điều kiện mang lại hòa bình cho hội. Tâm bi cũng
 

nền tảng để giải quyết tất cả các xung đột trong hội. Tâm hỷ phạm trù đạo đức quan trọng bao gồm thực hành để cảm giác vui sướng trước hạnh phúc của người khác, kể cả kẻ thù. nghĩa là nh động đo đức vì lợi ích của nn loi. Trong xã hội, đố kỵ chính nguyên nhân của những hành vi xấu xa. Tâm bi dạy người ta cảm thấy hạnh phúc tự do trong sự thịnh vượng khác. Tâm xả trạng thái siêu phàm, nơi không sự phân biệt giữa giàu nghèo, thấp cao. Đức tính công bằng được ghi nhận trong giáoPhật giáo. Những người tu tập theo Tâm xả loại bỏ sự đeo bám ác cảm mong muốn hoặc cùng một thái độ đối với cả người tốt người xấu, người làm ác người làm tốt v.v... Điều kiện như vậy hoàn toàn hiệu hóa giải quyết tất cả các xung đột.
thể thấy ‘Tứ lượng tâm’ hiển thị phương pháp rèn luyện khía cạnh cảm xúc. Tâm bi (lòng trắc ẩn) hướng đến những sinh mệnh bị ảnh hưởng, nó trái ngược với sự tàn nhẫn. Tâm hỷ (cùng vui với người khác) niềm vui được trải nghiệm khi nhìn thấy một người lý do nào đó để hạnh phúc,trái ngược với sự đố kị ghen tị. Tâm từ (từ lượng) lòng tốt yêu thương, mong muốn tốt cho tất cả chúng sinh, trái ngược với hờn oán, căm thù. Tâm xả được thực hành bình đẳng đối với tất cả chúng sinh, nó trái ngược với thiên kiến thiên lệch một phần. Tất cả các trạng thái siêu phàm này được gọi chung Tứ lượng tâm, tạo nền tảng tốt cho việc thành lập các hội bền vững. Phật giáo đề cao con người, giá trị của con người, không cao hơn cao quý hơn con người. Triết lý của Pht giáo được quan m với Sgiải thoát con người khỏi đau khổ. “Sau đó, người ta đối xử với mọi người như bình đẳng công nhận phẩm giá của con người con người, không đẳng cấp, không bất bình đẳng, không ưu thế; tất cả đều bình đẳng, triết lý của Đạo Phật”6. Phật giáo thừa nhận thực tế rằng con người đại diện cho giá trị cao nhất trên thế giới. Con người trung tâm của mọi tư tưởng hành động. Phật giáo quan niệm Đạo pháp nghĩa một trật tự đúng đắn trong quan hệ của con người. Trên


    1. Ambedkar, B.R; Te Buddha and his Dhamma, PES (Bombay) 1957, p.301.
 

thực tế, giáo pháp, sự công bình, nghĩa mối quan hệ đúng đắn giữa con người con người trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống.7 Hơn nữa, đạo đức bản chất của Pháp. Đạo đức trong Đạo pháp phát sinh từ sự cần thiết trực tiếp của con người để yêu con người, lợi ích của mình con người phải yêu con người8. Pháp cũng bao gồm Trí tuệ Từ bi.
Phật giáo không chỉ giáo dục những giáonhư nêutrên, Phật giáo còn chú trọng giáo dục những nội dung phù hợp với đạo đức hội. Phật giáo qui định những nhiệm vụ, bổn phận của cư sĩ nhằm đề cao đạo đức hội, trách nhiệm của con người trong các mối quan hệ giữa chồng vợ; cha mẹ con cái; thầy trò; bạn đồng nghiệp… Các mối quan hệ này được dựa trên đạo đức chân nghĩa của đồng loại, tinh thần côngcao quý tinh thần hợp tác đạo đức của con người. Theo Phật giáo, tám khái niệm hình thành con đường (bát chính đạo) tầm quan trọng lớn về mặt hội học. Tinh thần đạo đức được rao giảng thông qua điều này định hướng hành động năng động. Sự kết thúc cuối cùng của cuộc sống chính sự giải thoát, nghĩa chấm dứt khỏi những đau khổ, nhưng ý nghĩa sâu xa trong sự giáo dục này không bao giờ cho phép một người từ bỏ trách nhiệm nghĩa vụ hội của mình. Điều dễ dàng nhận thấy Phật giáo đặt cuộc sống của con người trong toàn bộ hội, điều này được minh chứng qua hầu hết các bài pháp thoại của Đức Phật. Đức Phật thuyết pháp nhằm mục đích để giải phóng nhân loại khỏi đau khổ. Pháp không chấp nhận sự thờ ơ đối với trách nhiệm nghĩa vụ hội. Trái lại, Pháp luôn giáo dục con người đi theo con đường đúng đắn khắc sâu những giá trị đức tính tốt đẹp của con người vào chính họ. Từ giáoPhật giáo, mỗi cá nhân phải tu tập Từ, Bi, Hỷ, Xả nhằm phục vụ đồng loại và xã hội. Pht giáo dy con người phải ‘Hành xử đúng đn, Trí Tu, Giới Hnh, và Chánh Định. Từ đó, con người có thể dễ dàng


    1. Kanchan Saxena, Phương pháp tiếp cận đạo đức Phật giáo đối với cáchội bền vững, in trong “Đại lễ Phật đản Liên Hiệp Quốc 2019: Phật giáo Giáo dục đạo đức toàn cầu”, Nxb. Hồng Đức, 2019, tr. 82.
    2. Kanchan Saxena, tr. 82.
 

chấm dứt những đau khổ, được giải thoát được tới Niết bàn. Lối sống của Phật giáo tập trung toàn bộ vào đạo đức hội kỷ luật tâm linh”9.
Mục tiêu giáo dục của Phật giáo giáo dục con người. Phật giáo chủ trương ba tính thiện, bất thiện, ký, bản chất con người duyên khởi ngã. Con người một hữu thể đặc tính như vậy. Phật giáo là một hệ thống giáo dục rất đặc biệt, nhắm đến mục tiêu đặc biệt. Giáo dục Phật giáo muốn giúp con người hạnh phúc đích thực, biết tu tập, chuyển hóa tham, sân, si; biết thanh lọc các pháp tham, sân, si thành thiện pháp tham, sân, si; biết chuyển hóa phiền não thành bồ đề; biết vun trồng chăm bón những hạt giống chính niệmtrong tâm thức của mỗi con người. Mục tiêu giáo dục Phật giáo hướng đến giúp tất cả các Tăng ni, Phật tử tại gia theo Phật để đạt được thanh tịnh tâm ý, để đạt đến trạng thái giải thoát, trạng thái niết bàn. Đức Phật đã nêu “Cũng như nước biển chỉ một vị vị mặn, này Paharada, Pháp Luật của ta chỉ một vị, vị giải thoát”10. Phật giáo quan niệm hạnh phúc chỉ đến thật sự khi giải thoát đồng nghĩa với tinh thần ngã, tâm linh con người thoát khỏi tham, sân, si… bỏ qua tất cả phiền não an vui trong cảnh giới Niết bàn. “Mục tiêu của giáo dục vẫn mưu cầu hạnh phúc. Hạnh phúc, theo Phật giáo, chính sự giải thoát ti hu. Giải thoát đồng nghĩa với vô ngã, vô tham, vô sân, vô si, thoát khỏi luân hồi, tuyệt đối an tịnh Niết bàn. Giúp con người cái nhìn chính kiến lậu, giải thoát, cái nhìn duyên khởi, ngã, Đức Phật dạy: “Đây khổ đau, đây nguyên nhân của khổ đau, đây là sự dit khổ và đây là con đường đưa đến sự dit kh. con người, nếu cái nhìn đúng đắn thì chúng ta phải tự tu tập để thể chuyển hóa tham, sân, si thành tham, sân, si, chuyển hóa khổ đau thành hạnh phúc đích thực ngay trong cuộc sống này. Hạnh phúc của giải thoát nhiều cấp độ, cũng như giải



    1. Kanchan Saxena, tr. 84.
    2. Trần Thị Hoài Hương, Giáo dục Phật giáo ý nghĩa của đối với giáo dục đạo đức thanh niên Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ, Nội, 2016, tr. 23.
 

thoát nhiều cấp độ người ta thể kinh nghiệm được trong đời sống hằng ngày. Nếu một người xóa bỏ được sự chấp ngã, tham, sân, si, giữ tâm an tịnh được chừng nào thì người ấy sẽ cảm nhận được hạnh phúc chừng ấy. Đây một thực tế một người thể kiểm chứng qua việc hồi tưởng lại những kinh nghiệm giải thoát từng phần hoặc từng lúc của mình trong đời sống hằng ngày. Đó thể coi một ý hướng về hạnh phúc trong hiện tại trong tương lai. Giải thoát khổ đau nhiều cấp độ như: giải thoát khỏi sự ngu muội, lòng thù hận, sự nghèo khó, một cơn bệnh, một sự bất công, áp bức, nô lệ... Giải thoátđây sự giải thoát từng phần, tương đối, đồng nghĩa với sự giải phóng, sự cải thiện, phát triển... Từ đó, tiến đến sgiải thoát ti hu là Niết bàn. Trong ý nghĩa này, mục tiêu của giáo dục Phật giáo cũng bao gồm nhiều cấp độ: Nhân thừa, Thiên thừa, Thanh văn thừa, Duyên giác thừa, Bồ tát thừa; đấy đi từ các mục tiêu trước mắt đến mục tiêu tối hậu, tức giải thoát trọn vẹn. Giáo dục Phật giáo không phải phương tiện để thực hiện địa vị quyền thế cũng không phải nghề nghiệp để mưu cầu sinh sống, phải cứu cánh để thực hiện chí nguyện độ sanh để giải thoát khổ đau. Giải thoátđây thể hiểu nhiều khía cạnh, giải thoát từng phần, giải thoát từng cấp độ như giải thoát con người ra khỏi sự thù hằn, ngu dốt, bất công, nghèo đói, bệnh tật,lệ, áp bức,... giải thoát cao nhất vẫn giải thoát khổ đau. Thượng tọa Thích Chơn Thiện nói về mục tiêu giáo dục Phật giáo “một đường hướng giáo dục tốt luôn luôn nhắm đến hai mục tiêu đó đào tạo con người hội con người chính nó. Nếu thiếu đi một trong hai mục tiêu ấy một nền giáo dục không hoàn chn- h”11. Giáo dục con người hội trong mối tương quan biện chứng hai chiều giữa cá nhân hội, tạo thành động lực giữa hội hỗ tương phát triển. Tức nền giáo dục trong đó bao gồm sự phát triển tâm linh, sự quan hệ huyết thống sự quan hệ hội trong những chuẩn mực nhất định. Giáo dục con ngườinhân nhắm


    1. Trần Thị Hoài Hương, Giáo dục Phật giáo ý nghĩa của đối với giáo dục đạo đức thanh niên Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ, Nội, 2016, tr. 25.
 

vào các đặc tính sẵn đánh thức những tiềm ẩn trong con người trỗi dậy. Giáo dục Phật giáo hướng đến giúp con người biết phát triển tâm linh cao thượng, biết nuôi dưỡng tinh thần độc lập tự do, tự chủ tự do sáng tạo. Tự do nghĩa thân tâm không bị ràng buộc bởi các tà kiến,duy, tà ngữ, tà nghiệp,mạng, tinh tấn, niệm, định. Các phiền não này những khổ đau. Giáo dục Phật giáo còn giúp con người niềm tin vững chãi, không sợ hãi, không sợ kẹt vào các thành kiến, định kiến, các tín điều giáo điều, tin vào ý nghĩa thiện, lời nói thiện và việc làm thiện của chính bản thân mình. Mục tiêu của giáo dục Phật giáo còn xây dựng con người hữu ích, hạnh phúc, nhân cách tốt, con người chân thiện m, một đời sống trọn vẹn hạnh đức, tâm đức tuệ đức để con người đó thể góp phần xây dựng một nếp sống tốt đạo, đẹp đời xây dựng một nền văn hóa văn minh cho nhân loại. Đào tạo những con người kiến thức sống động, những tâm tư mới lạ, sáng suốt, tính sáng tạo, biết khơi dậy đánh thức những hạt giống hạnh phúc giác ngộ nơi tự thân, những con người tấm lòng tương trợ, tương thân, tương ái, tương kính, tình yêu nhân loại. Giá trị của giáo dục Phật giáo hướng đến sự phát triển toàn diện của con người qua các mặt của đời sống, đặc biệt tâm thức, nhằm kiến tạo một đời sống trí tuệ hạnh phúc thật sự trong cuộc đời này.12
  1. Vai trò giáo dục đạo đức của Phật giáo
Qua hàng thiên niên kỷ, Phật giáo bề dày lịch sử trong việc xây dựngtưởng hành động theo chuẩn mực đạo đức Phật giáo. Mặc điều kiện kinh tế, chính trị, hội ngày nay khác xa với thời Phật còn tại thế, nhưng đạo đức Phật giáo vẫn công cụ hữu ích để mọi người tham gia vào các thách thức thời đại.
Giáo dục Phật giáo vai trò quan trọng trong việc nhắm đến việc chuyển hóa bản chất con người trở thành một hình thức cao



    1. Trần Thị Hoài Hương, Giáo dục Phật giáo ý nghĩa của đối với giáo dục đạo đức thanh niên Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ, Nội, 2016, tr. 24-31.
 

nhất thông qua sự hoàn thiện về mặt đạo đức, trí tuệ tinh thần. Ba năng lực hoàn hảo của cuộc sống chắc chắn dẫn dắt con người vượt qua hạnh phúc trần tục chính điều đó thành tựu cao nhất tất cả chúng ta đều tìm kiếm. Do đó, giáo dục Phật giáo dựa trên nhu cầu tâm lý chính của tất cả chúng sinh (Rahula, 2015).13
Giáo lý của Đức Phật không phải một triết lý suông được thiết kế chỉ để sắp xếp lại các khái niệm trongtưởng con người, chúng một hành vi sinh động của lòng từ bi nhằm mục đích chỉ cho chúng ta cách mở rộng tâm hồn của chúng ta với sự nhiệm màu của nhận thức - nhận thức của chính chúng ta giữa nhận thức của những người khác thông qua sự suy nghĩ và kinh nghiệm tu tập giống nhau. Mục đích cuối cùng của các lời dạy trong kinh sách Phật giáo về giáo dục hoạt động như một quá trình nhận thức. Phật giáo dẫn khởi quan điểm đúng đắn (Chánh kiến); suy nghĩ đúng đắn (Chánhduy), lời nói đúng đắn (Chánh ngữ), hành động đúng đắn (Chánh nghiệp), sinh kế đúng đắn (Chánh mạng), nỗ lực đúng đắn (Chánh tinh tấn), chánh niệm tập trung tinh thần đúng đắn (Chánh định) những công cụ quan trọng để phát triển nhân cách. Tám hình thức này cũng thể được hiểu những bước chuyển hóa hành vi những bước này sẽ góp phần nuôi dưỡng lối sống giáo dục tốt trong đời sống hội của con người. Phật giáo thể hiện những ý tưởng rằng kiến thức năng lực của con người phải được sử dụng cho sự thịnh vượng của nhân loại, cho sự ổn định phát triển củahội. Từ quan điểm giáo dục đạo đức, Phật giáo chủ trương tầm quan trọng của bình đẳng dân chủ theo Phẩm cấp. Các thành viên của Tăng đoàn thể được coi một hình mẫu mẫu mực trong trật tự hội cũng như biểu tượng của nền dân chủ trong Phật giáo. Đối tượng cuối cùng của giáo dục Phật giáo nhằm đạt được tự do: Tự do tư duy, tự do ý chí, tự do ngôn ngữ, tự do tư tưởng tôn giáo, v.v... Đức Phật khẳng định rằng sự tôn trọng


    1. Edi Ramawijaya Putra, Nhìn lại những giá trị giáo dục Phật giáo nâng cao nhận thức toàn cầu hiện nay như những hiểu biết sâu sắc tự định hướng của các nhà phạm đối với thực tiễn phạm, in trong “Đại lễ Phật đản Liên Hiệp Quốc 2019: Phật giáo Giáo dục đạo đức toàn cầu”, Nxb. Hồng Đức, 2019, tr. 222.
 

tôn kính trong hội sẽ được trao tặng dựa trên sở những phẩm chất hành vi đạo đức luân lý của một người. Sự phát triển của nhân cách một yếu tố chính của hệ thống giáo dục. Điều này thể được thực hiện thông qua việc trau dồi sự tự tin, tự lực, tự quyết, tự trọng tự kiểm soát. Các nguyên tắc giáo dục của Phật giáo dạy thực tế rằng một vị A la hán người trình độ học vấn cao nhất vị ấy không bị phiền não được hưởng hạnh phúc tinh thần cao nhất. Phật giáo thúc đẩy mỗi người trên trái đất nên đạt được mục tiêu này. Phật giáo đã khuyên khi ai đó tham gia vào việc thực hành giáo dục, hành giả không nên bám víu vào quan điểm giáo điều người thực hành giáo dục nên tư duy phê phán suy nghĩ phê phán về toàn bộ vòng đời.14
* Giáo dên bám víu vào quan điểm giáo điều người thực hành giáo dục nên có tư duy phê phá
Đạo Phật dạy con người làm lành tránh dữ. Mọi việc mang tính thiện thì dốc sức thực hành, trong đó điều cốt yếu giữ tâm ý trong sạch để không bị những phiền não quấy nhiễu. Bản chất của giáoPhật giáo chỉ ra cái khổ, nguyên nhân của nỗi khổ, niềm vui khi đoạn diệt khổ con đường đoạn tận khổ đau. Một mặt, Phật giáo chỉ con đường khổ đau của con người để giúp con người tránh khổ, mặt khác Phật giáo răn dạy, khích lệ con người hành thiện để giảm bớt khổ đau. Đồng thời, Phật giáo dạy con người sống ý thức, trách nhiệm, không ỷ lại, không chạy trốn, không đổ lỗi, không quỵ lụy van xin. Đức Phật dạy con người chủ nhân của chính mình, hòn đảo của chính mình. vậy khổ đau hay hạnh phúc do chính mình quyết định. “Hãy sống tự mình làm hòn đảo của chính mình, này các Tỷ kheo, hãy nương tựa nơi chính mình, không nương tựa một ai khác. Hãy lấy pháp làm hòn đảo, hãy lấy pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một ai khác”15. Đây


    1. Dissanayake Mudiyanselage Kasun Dharmasiri, Vai trò của đạo đức Phật giáo trong giáo dục, in trong “Đại lễ Phật đản Liên Hiệp Quốc 2019: Phật giáo Giáo dục đạo đức toàn cầu”, Nxb. Hồng Đức, 2019, tr. 49-51.
    2. Thích Minh Châu, Đại tạng kinh Việt Nam Nam truyền, Kinh Tương Ưng bộ, Phẩm Tự mình làm hòn đảo, tập 1, Nxb. Tôn giáo, 2013, tr. 673.
 

tinh thần giáo dục rất lành mạnh tích cực đối với việc giáo dục một con người tốt cả mặtnhân mặt hội. Trên nền tảng giáođó, tính thiện trong đạo đức Phật giáo xuất hiện. Thiện (akusa), như được định nghĩa trong kinh sách, lành, tốt, đạo đức; thuận theo đạo lý, ích cho mình cho người; trạng thái tiêu diệt ác pháp. “Từ bỏ sát sinh thiện, từ bỏ lấy của không cho thiện, từ bỏ nói láo thiện, từ bỏ nói hai lưỡi thiện, từ bỏ ác khẩu thiện, từ bỏ nói phù phiếm thiện, không tham dục thiện, không sân thiện, chánh tri kiên thiện”16. Quả của thiện là sự an lạc thân tâm. Ngược với thiện ác, bất thiện (akusala) chính ác pháp. “Sát sinh bất thiện, lấy của không cho bất thiện, nói láo bất thiện, nói hai lưỡi bất thiện, ác khẩu bất thiện, nói phù phiếm bất thiện, tham dục bất thiện, sân bất thiện, kiến bất thiện”17. Quả báo của bất thiện sự khổ đau trong tâm hồn. Với quan niệm như vậy, thể thấy xuyên suốt toàn bộ giáo lý tư tưởng Phật giáo chính là hướng con người thực nh thiện, thể hin rõ nét nht ở trong giới luật Phật giáo.
  • Vai trò của giáo dục đạo đức Phật giáo trong việc giáo dục lòng từ bi cho con người
Lòng từ bi, bác ái điểm nổi bật của giáoPhật giáo khuyên con người sống đạo đức, tình thương yêu, không phân biệt đối với mọi người mọi loài. Theo Phật giáo thì Từ nghĩa hiền lành, thẳng thắn, làm vui cho người vật, thể hiện lòng khoan dung độ lượng; Bi thương xót, đồng cảm với người hay vật, khi thấy họ đau khổ, gặp hoạn nạn cố cứu họ ra khỏi hoàn cảnh ấy. Từ bi đem lại niềm vui, hạnh phúc cho mọi người, mọi loài, cứu khổ, cứu nạn cho chúng sinh, quên những lợi ích của bản thân. “Từ yêu quý chúng sinh ban cho họ sự an vui (dữ lạc). Bi đồng cảm sự đau khổ của chúng sanh, xót thương trừ diệt sự đau


    1. Thích Minh Châu, Đại tạng kinh Việt Nam, Kinh Trường bộ, tập 1, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, ấn hành, 1991, tr. 133.
    2. Thích Minh Châu, Đại tạng kinh Việt Nam, Kinh Trường bộ, tập 1, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, ấn hành, 1991, tr. 112.
 

khổ (bạt khổ) của họ, gọi chung Từ bi. Lòng bi của đạo Phật trạng thái đồng tâm đồng cảm, lấy sự khổ đau của chúng sinh làm sự khổ đau của mình. thế nên gọi đồng thể đại bi. Lại lòng Bi của Phật rộng lớn tận cho nên gọi cái đại bi”18. Quan điểm từ bi, bác ái của Phật giáo được thể hiện qua các điểm sau: Một là, Phật giáo đem tình yêu thương, bình đẳng đến với mọi người; hai là, Phật giáo đề cao con người giải thoát con người khỏi khổ đau; ba là, Phật giáo đào tạo con người “Từ bi, hỷ xả, ngã, vị tha”.
    • Vai trò của giáo dục đạo đức Phật giáo trong việc dạy con người Tu tâm
Theo Pht giáo nht thiết duy m to, mi svic đu do m tạo ra. An lạc hay khổ đau cũng từ tâm, bởi tâm. Đó chính tâm sanh diệt, thay đổi luôn luôn, thường do tham sân si chi phối, thúc đẩy, điều khiển, cho nên con người thường tạo nghiệp bất thiện nhiều hơn là nghip thin. Trong giáo lý Pht giáo thì Tâm của con người cùng quan trọng diễn tả nhân cách của một con người. Tâm biểu lộ tư cách, hình tướng, thái độ… Do vậy, Phật giáo giáo dục con người phải biết tu tâm. Suy cho cùng tu tâm chính thực hành Bát chánh đạo. thể nói, tư tưởng bản của đạo đức Phật giáo suy cho cùng hướng đến hoàn thiện nhân cách con người, góp phần xây dựng một hội lành mạnh, phát triển ổn định.
    • Vai trò của giáo dục đạo đức Phật giáo trong cân bằng môi trường tự nhiên hội
Vai trò này của giáo dục đạo đức Phật giáo được thể hiện qua giáo lý Trung đo. Cân bằng giữa môi trường tự nhiên và xã hi là sự kết hợp hài hòa hợp lý giữa các lĩnh vực phát triển kinh tế đi đôi với việc xóa đói giảm nghèo bảo vệ môi trường, biện chứng giữa thế hệ hiện tại tương lai. Công bằng tiến bộ hội cũng vậy. Đó sự cân bằng giữa bảo vệ môi trường sống với việc nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, phát triển văn hóa đi đôi


    1. Thích Quảng Độ dịch, Phật Quang Đại Từ Điển 6, Nxb. Hội Văn hóa Giáo dục Linh Sơn Đài Bắc, 2000, tr. 6597-6598.
 

với sphát trin kinh tế xã hội. Điu này trong triết học Trung Hoa gọi luật quân bình, trung dung giữa âm dương trong đạo Pht gi là con đường Trung đo.
Trong Tiu tha, Bát cnh đo được xem là trung đo vì thực hành Bát chính đạo, hành giả vừa xa lánh đời sống dục lạc đời sống khổ hạnh, thoát khỏi Khổ. Thái độ này được Đức Phật dạy trong Kinh Chuyển Pháp Luân: “Này các Tỷ kheo, hai điều thái quá, người xuất gia không nên theo. Một đắm dục lạc, hạ liệt, pm phu, kng xng Tánh hạnh, kng thit lợi đo. Hai là tu khổ hạnh, khổ đau, kng xng Tánh hạnh, kng thit lợi đo. Này các Tỷ kheo, chính nhờ từ bỏ hai điều thái quá này, Như Lai giác ngộ trung đạo, con đường đem đến pháp nhãn, trí huệ đưa lại an tịnh, thượng trí, chứng Niết bàn. Này các Tỷ kheo, trung đạo do Như Lai giác ngộ, đem đến pháp nhãn, trí huệ đưa lại an tịnh, thượng trí, giác ngộ, Niết bàn gì? Chính Bát chánh đạo: chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tinh tiến, chính niệm, chính định” [Kinh chuyển pháp luân].
Trung đo ở đây là thái độ từ bỏ hai quan đim cực đoan thế giới trường tồn hay hoại diệt, thế giới (hữu) hay không (vô). Con đường trung đạo con đường từ bỏ hai cực đoan khoái lạc khổ hạnh. Khoái lạc thái quá sẽ dẫn đến đời sống thấp hèn, phàm tục. Ngược lại, đời sống khổ hạnh, khắc nghiệt thái quá sẽ dẫn đến sa sút về tinh thần, suy giảm trí tuệ. hội phát triển không chỉ thể hiệnsự hài hòa giữa môi trường tự nhiên, hội bảo vệ môi trường, chúng còn được thể hiệnsự phối hợp nhịp nhàng, hài hòa trong suy nghĩ, lời nói hành động. Đó Bát chánh đạo. Con đường trung đạo đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại, vừa tạo khả năng thỏa mãn nhu cầu của thế hệ tương lai, không chỉ bảo vệ môi trường sinh thái còn nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, quá trình không ngừng tăng sản xuất, đồng thời khai thác hợp lý tiết kiệm nguồn tài nguyên v.v…
  • Vai trò của giáo dục đạo đức Phật giáo trong việc xem con người trọng tâm, đề cao vai trò vị trí con người
 

thể nói giá trị lớn nhất trong đạo đức Phật giáo đề cao vị trí vai trò của con người, xác định “con người tâm điểm của hội loài người. Pht giáo khẳng định tt cả mi người đu có Pht tính, mọi người sẽ đạt được hạnh phúc nếu thực hành điều thiện, lánh xa điều ác, chuyên cần trau dồi đạo đức trong cuộc sống của chính mình. Đức Phật cho rằng: con người đóng vai trò quyết định trong quá trình giác ngộ giải thoát. Con người thể thay đổi số phận của mình. Khi mê thì con người đau khổ, nhưng khi bắt đầu nhận biết mình mê thì con người thể tự làm chủ lấy mình. Với ý nghĩa này Phật giáo đã thực hiện một cuộc cách mạng lớn, chuyển hướng từ tư duy sang tìm kiếm niềm tin ở chính con người chứ không phải ở một hay nhiều vị thần. Phật giáo đã đưa ra một hướng tiếp cận mới về con người, đặt con ngườivị thế trung tâm trong các mối quan hệ hội. Chính vậy, muốn phát triển hội bền vững thì không thể nào không nhắc đến vai trò then chốt của con người.
* Vai trò của giáo dục đạo đức Phật giáo trong việc kêu gọi con người hành thiện tránh ác, ngã vị tha, mang tình thương, bình đẳng đến với mọi người.
Chính lòng từ bi, nhân ái của Đức Phật Ngài cảm nhận đau xót trước nỗi khổ trầm luân của chúng sinh. Do đó Đức Phật đã quyết định từ bỏ địa vị, quyền lực, sự giàu sang, tình thâm rời khỏi hoàng cung vào rừng sâu tu tập, giác ngộ cứu muôn loài. Đức Pht nói: Ta là Pht đã tnh, các ngươi là Pht sẽ tnh. Lời nói đó như mang một thông điệp về tinh thần dân chủ, bình đẳng trong đạo đức Phật giáo.
Trong thời đại ngày nay, con người đang sng trong bi cnh tham vọng tiền tài, địa vị, danh vọng, quyền lực với những mâu thuẫn, xung đột khó dung hòa. Nếu vận dụng những giá trị nhân văn của đạo đức Phật giáo vào cuộc sống sẽ thể góp phần kết nối con người xích lại gần với nhau hơn, giúp con người sống tri túc, giới hạn biết đấu tranh chống nhữngtưởng không lành mạnh, giúp con người biết yêu thương lẫn nhau tha thứ cho nhau. Đạo đức Phật giáo thể sẽ giúp ích trong vấn đề này.
 
 
  • Vai trò của giáo dục đạo đức Phật giáo trong việc đề cao tinh thần phản tỉnh tự giác con người
Phật giáo thiên về nội tâm, phản tnh hơn xử các quan hệ bề ngoài. Cho nên Phật giáo phát huy tối đa tính tự chủ nhân trong việc thực hành các quy tắc đạo đức. Sự phán xét của đạo đức nghiệp báo, nghiệp quả, điều chnh đạo đức của mỗi người theo quy luật nhân
- quả. Mặt khác Phật giáo cũng không thừa nhận sự sáng tạo của một đấng siêu nhiên nào, mọi giá trị luân lý, đạo đức đều diễn ra trong thế giới nhân sinh chứ không phải do một thế lực nào chi phối. Nếu con người biết tự nhìn lại chính mình thì thể hạn chế tối đa những tiêu cực con người đã gây ra. Con người biết làm chủ cảm xúc, lời nói, suy nghĩ hành động sẽ làm cho con người trở nên hài hòa với nhau. Đó cũng yếu tố quan trọng cho sự phát triển ổn định của hội.
* Vai trò của giáo dục đạo đức Phật giáo trong việc đề cao việc rèn luyện trí tuệ giải thoát con người
Mục tiêu tối hậu của đạo đức Phật giáo chính giải thoát, chấm dứt hết mi khổ đau xut phát từ vô minh. Trong Bát chánh đạo Đức Phật đã dạy thì Chánh kiến đứng đầu tiên. Điều này nói đến yếu tố trí tuệ kim chỉ nam cho sự giải thoát. Đức Phật đã từng nói rằng: “Như Lai chỉ người chỉ đường, mỗi người phải tự đi đến, kng ai đi thế cho ai được. Đó là con đường của tự lực mỗi người. “Này các Tỷ kheo, hãy nương tựa nơi chính mình, không nương tựa một ai khác. Hãy lấy pháp làm hòn đảo, hãy lấy pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một ai khác”19.
Vai trò của trí tuệ đưa đến sự giải thoát, giác ngộ, nhận chân đúng sai, biết lắng nghe, chia sẻ để sống tốt hơn. Nhờ trí tuệ nên con người hiểu thường, vô ngã, hiểu cần làm để phát triển hội bền vững, hiểu cần làm để sự hài hòa giữa mọi người với nhau trong hội, sự hài hòa giữa con người với tự nhiên trong quá trình lao động sản xuất.



    1. Thích Minh Châu, Đại tạng kinh Việt Nam Nam truyền, Kinh Tương Ưng bộ, Phẩm Tự mình làm hòn đảo, Nxb. Tôn giáo, 2013, tr. 673.
 

Như vậy, đạo đức Phật giáo vai trò rất quan trọng đã đang ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của con người Việt Nam hiện nay. Đạo đức Phật giáo nổi bật vớitưởng về hành thiện, từ bi, đem tình yêu thương đến với mọi người, tu tâm, xây dựng hội bền vững, đã định hướng cho lý tưởng sống con người trở thành kim chỉ nam hướng con người đến ChânThiệnM. Chính vậy, con người đã tìm thấyđạo đức Phật giáo một nơi để gửi gắm niềm tin, một niềm an ủi tinh thần che chở họ trước những cám dỗ thử thách của cuộc đời. Phật giáo luôn đề cao ca ngợi những giá trị cao quý của lòng nhân ái, tình yêu thương con người, đặc biệtlối sống hài hòa giữa mọi người với nhau trong hội giữa con người với tự nhiên, tạo sự phát triển hội bền vững. Sự phát triển bền vững của một đất nước, đó chính quá trình phát triển kinh tế dựa vào nguồn tài nguyên được tái tạo, tôn trọng những quá trình sinh thái bản, sự đa dạng sinh học những hệ thống trợ giúp tự nhiên đối với cuộc sống của con người, của động vật, thực vật, đồng thời nỗ lực hòa giải kinh tế với môi trường, quan trọng nhất nhân tố bình đẳng, công bằng dân chủ trong hội. Một đất nước được xem phát triển khi hội đủ nhiều yếu tố như: hội phải dân chủ, công bằng văn minh, tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với công bằng và tiến bộ hội, xóa đói giảm nghèo, môi trường không ô nhiễm v.v... Phật giáo lấy con người làm trung tâm để thấu hiểu nỗi khổ của con người tìm cách giải thoát con người khỏi nỗi khổ đó. Với phương châm “từ bi, hỷ xả, ngã, vị tha, Pht giáo hướng con người đến một li sng nn bn biết yêu thương, đem niềm vui quan tâm đến với mọi người quên mình, hướng con người biết cảm thông với những người hoàn cảnh khó khăn, biết sống người khác, tiến tới xây dựng một hội nhân ái, lành mạnh phát triển bền vững.20




    1. Thích Huệ Đạo, Đạo đức Phật giáo với việc phát triển hội Việt Nam bền vững, in trong “Đại lễ Phật đản Liên Hiệp Quốc 2019: Phật giáo Giáo dục đạo đức toàn cầu”, Nxb. Hồng Đức, 2019, tr. 103-108.
 
 
  1. NHẬN XÉT - KẾT LUẬN
Qua nội dung giáoPhật giáo cho thấy vai trò đặc biệt quan trọng trong giáo dục đạo đức Phật giáo trong cuộc sống hiện nay. Đạo Phật giáo dục con người sống thiện tâm, làm điều lành, tránh điều ác, sống yêu thương đùm bọc nhân loại. Những giáo lý của Phật giáo, nội dung đạo đức của đạo Phật góp phần tạo nên sự ổn định và phát trin của xã hội. Trong quá trình du nhập và phát trin ở Việt Nam, Phật giáo đã đang nhiều đóng góp rất tích cực sbình yên và phát trin của xã hi trên nhiu lĩnh vc. Trong bi cảnh hiện nay, để phát huy tốt hơn nữa vai trò của Phật giáo, giáo dục Phật giáo nói chung, giáo dục về đạo đức của Phật giáo nói riêng phải đáp ứng một số các yêu cầu sau: Th nhất, giáo dục Phật giáo phải thể hiện được bản sắc văn hóa Phật giáo Việt Nam; Th hai, giáo dục Phật giáo phải thể hiện tinh thần nhập thế của Phật giáo Việt Nam. Giáo dục Phật giáo cần chuyển tảitưởng “đem đo vào đời, bằng tinh thần nhập thế của Pht giáo Vit Nam. Thứ ba, giáo dục Phật giáo phải thể hiện những cốt tủy của giáoPhật giáo. Th tư, giáo dục phải luôn đổi mới vềduy, phương pháp đáp ứng kịp sự thay đổi nhanh chóng, mạnh mẽ của hội hiện đại hiện nay.



***




Tài liệu tham khảo
Ambedkar, B.R; Te Buddha and his Dhamma. PES (Bombay), 1957.
Thích Minh Châu, Đại tạng kinh Việt Nam Nam truyền, Kinh Tương Ưng bộ, Phẩm Tự mình làm hòn đảo, tập 1, Nxb. Tôn giáo, 2013.
Thích Minh Châu, Đại tạng kinh Vit Nam, Kinh Trường b, tập 1, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, ấn hành 1991.
Đoàn Trung Còn, Pht hc từ điển, quyn 2, Nxb. Thành phố HChí Minh, 1997.
Thích Huệ Đạo, Đạo đức Phật giáo với việc phát triển xã hội Việt Nam bền vững, in trong “Đại lễ Phật đản Liên Hiệp Quốc 2019: Phật giáo và Giáo dục đo đức toàn cu, Nxb. Hng Đức, 2019.
Dissanayake Mudiyanselage Kasun Dharmasiri, Vai trò của đạo đức Phật giáo trong giáo dục, in trong “Đại lễ Phật đản Liên Hiệp Quốc 2019: Pht giáo và Giáo dục đo đức toàn cu, Nxb. Hồng Đức, 2019.
Thích Quảng Độ dịch, Phật Quang Đại Từ Điển 6, Nxb. Hội Văn hóa Giáo dục Linh Sơn Đài Bắc, 2000.
Edi Ramawijaya Putra, Nhìn lại những giá trị giáo dục Phật giáo nâng cao nhận thức toàn cầu hiện nay như những hiểu biết sâu sắc tự định hướng của các nhà phạm đối với thực tiễn phạm, in trong “Đại lễ Phật đản Liên Hiệp Quốc 2019: Phật giáo Giáo dục đo đức toàn cu, Nxb. Hng Đức, 2019.
Học viện Chính trị quốc gia, Giáo trình đạo đức học, Nxb. Chính trị Quốc gia, Nội, 2000.
Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam, Từ điển Bách khoa Việt Nam 1 (A-Đ), Nxb. Từ điển Bách khoa, Nội, 2000.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây