50. CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ HỖ TRỢ SINH VIÊN TẠI HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thứ sáu - 06/12/2019 07:12
CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ HỖ TRỢ SINH VIÊN TẠI HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
 
NCS.SC. Thích Nữ Diệu Trí
 
TÓM TẮT
       Công tác đảm bảo chất lượng giáo dục vai trò đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục tại đại học. Đồng thời, người học cũng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động đảm bảo chất lượng kiểm định chất lượng giáo dục được khẳng định ở quyền nghĩa vụ của người học trong Luật Giáo dục Đại học: “Đóng góp ý kiến, tham gia quản giám sát hoạt động giáo dục các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục”.1 Thế nên, người học cần nhận thức được vai trò trách nhiệm của bản thân để góp phần tham gia vào hoạt động đảm bảo chất lượng tại trường.
        Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh là sở giáo dục Đại học nghiên cứu khoa học của Phật giáo, thuộc hệ thống giáo dục quốc dân của nước Cộng hòa hội chủ nghĩa Việt Nam, do Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành lập theo quyết 
định của UBND Thành phố Hồ Chí Minh, số 160/ QĐ-UB ngày 17 tháng 10 năm 1983. Học viện cách pháp nhân tự chủ về tổ chức bộ máy tuyển dụng lao động tài chính hướng tới mục tiêu “Nhằm đào tạo một thế hệ công dân đức trí song toàn để kế thừa phát triển đạo Pht và con đường go dục Pht go”. Trong đó, công tác đảm bảo chất lượng cần thiết để góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục của Học viện Phật giáo. Đồng thời, một trong những lĩnh vực hiện nay cần đảm bảo chất lượng dịch vụ hỗ trợ sinh viên trước bối cảnh Học viện Phật giáo đã những thay đổi toàn diện với việc thực hiện chương trình học tập nội trú tại sở II - Minh Xuân, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2016.
Chính lý do đó, Học viên cho rằng việc tìm hiểu những thuận lợi khó khăn trong công tác đảm bảo chất lượng của lĩnh vực dịch vụ hỗ trợ sinh viên tại Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh cần thiết cấp bách.
Từ khóa: Đảm bảo chất lượng, dịch vụ hỗ trợ sinh viên, Học viện Pht giáo tại TP.HCM.
ĐẶT VẤN ĐỀ
       Hội nhập quốc tế một xu thế khách quan diễn với nhiều hình thức, cấp độ, đã tác động mạnh mẽ đến nhiều lĩnh vực khác nhau của các quốc gia trên thế giới. Theo Đặng Đình Quý (2012) thể hiểu thực chất hội nhập quốc tế của nước ta như sau: Hội nhập quốc tế hình thức phát triển cao của hợp tác quốc tế, quá trình chủ động chấp nhận, áp dụng tham gia xây dựng các luật lệ chuẩn mực quốc tế nhằm phục vụ tối đa lợi ích quốc gia, dân tộc”.2
        Trong giai đon hin nay, quá trình hi nhập tôn giáo đang có nhiều chuyển biến sâu sắcnhiều mặt nhằm phù hợp với yêu cầu chung của hội thời đại. Đó cũng chính quy luật biến đổi tất yếu của tôn giáo trong quá trình vận động, phát triển. Cùng với xu 
hướng đó, Phật giáo cũng đang nhiều chuyển biến nhằm đáp ứng nhu cầu giao lưu, phát triển giữa các quốc gia, dân tộc.
        Giáo dục một trong những vấn đề được đặt lên hàng đầu của Phật giáo gắn liền với tinh thần “Duy tuệ thị nghiệp”. Đến nay thì nền giáo dục của Phật giáo Việt Nam đã một hệ thống tương đối rõ ràng từ Trung ương đến đa phương và đang ngày càng được mở rộng, cải tiến liên tục. Chương trình đào tạo, phương pháp đào tạo, sở vật chất ngày càng được hoàn thiện hơn. Nhiều trường Phật học được mở ra dưới sự quản lý của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, chứng tỏ nền giáo dục Phật giáo Việt Nam đang ngày càng phát triển khả năng hội nhập quốc tế sâu rộng cùng với các nền giáo dục Phật giáo trên thế giới. Đồng thời, Phật giáo Việt Nam vớicách một tôn giáo dân tộc cũng đang đối diện với những thách thức và cơ hi mới. Như lời phát biu của HT. Thích Giác Toàn nêu ngành giáo dục Tăng Ni xác định vai trò trách nhiệm của mình đối với sự nghiệp giáo dục Phật giáo trong thời kỳ hội nhập toàn cầu. Hòa thượng nhấn mạnh: “Một trong những yêu cầu của giáo dục đào tạo người họcsự thích nghi, sự tự phát triển. Giáo dục Phật giáo không nhằm nhồi nhét kiến thức, kỹ năng của con người trong thời đại mới mà nhm giúp Tăng Ni thích nghi, khi dấn thân phng scho đời. Nhưng điều khng định là go dục Tăng Ni là go dục ly sphát triển tâm linh, đạo đức, thiền định làm mục tiêu cho mọi sinh hoạt.”3
         Đã nhiều đề tài đề cập đến giáo dục tại Học viện Phật giáo tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, các nghiên cứu đều đề cập đến công tác đảm bảo chất lượng trong hoạt động đào tạo, chưa chú ý đến công tác đảm bảo chất lượng dịch vụ hỗ trợ sinh viên. Bài viết mong muốn đóng góp phần nhỏ nhằm giúp cho nhà quảncũng như giảng viên tại Học viện Phật giáo đánh giá được thực trạng của công tác đảm bảo chất lượng dịch vụ hỗ trợ sinh viên, tìm 
hiểu những thuận lợi khó khăn trong dịch vụ hỗ trợ sinh viên, từ đó, đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả của công tác này.
Đây vấn đề cần thiết bởi Học viện Phật giáo đang trong quá trình hội nhập phát triển, đổi mới toàn diện về mọi mặt về sở vật chất, loại hình đào tạo…Giúp ban điều hành Học viện Phật giáo những giải pháp kịp thời nhằm nâng cao chất lượng của dịch vụ hỗ trợ sinh viên.
  1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM BẢN
    1. Khái niệm về đảm bảo chất lượng (ĐBCL) giáo dục
        Trong giáo dục đại học, đm bảo cht lượng được xác định như các hệ thống, chính sách, thủ tục, quy trình, hành động thái độ được xác định từ trước nhằm đạt được, duy trì, giám sát củng cố chất lượng (Woodhouse, 1998; 1999; 1999a). Định nghĩa này cũng được quan Đảm bảo Chất lượng Australia sử dụng.
       Ở các nước phương Tây, việc thiết kế hệ thống đảm bảo chất lượng được tính đến như bước đầu tiên trong quá trình đảm bảo cải tiến chất lượngđại học (Kells, 1988; 1989; 1990; Neave & van Vught, 1991). Theo Russo (1995:23), đảm bảo chất lượng, nghĩa:Xem xét các quá trình được sử dụng nhằm kiểm soát sản xuất sản phẩm hay các dịch vụ và nhằm tránh các phế phẩm. Nếu như chúng tahệ thống đảm bảo chất lượng, sẽ tránh đi việcthểcác phế phẩm.”
ISO định nghĩa đm bảo cht lượng như sau: Tt cc hot độnghoạch định hayhệ thống cần thiết nhằm cung cấp sự đủ tự tin rằng một sản phẩm hay một dịch vụ đáp ứng được các yêu cầu về chất lượng.
       Theo tác giả Nguyễn Đức Chính, ĐBCL quá trình xảy ra trước trong khi thực hiện. Mối quan tâm của nó phòng chống những sai phạm thể xảy ra ngay từ bước đầu tiên. Chất lượng của sản phẩm được thiết kế ngay trong quá trình sản xuất ra nó từ khâu đầu đến khâu cuối theo những tiêu chuẩn nghiêm ngặt đảm bảo không sai phạm trong bất kỳ khâu nào. ĐBCL phần lớn trách nhiệm 
của người lao động, thường làm việc trong các đơn vị độc lập hơn trách nhiệm của thanh tra viên, mặc dù họ cũng vai trò nhất định trong ĐBCL. 4
       Trong giáo dục đại học, ĐBCL được xem là Tng số c cơ chế và quy trình được áp dụng nhằm đảm bảo chất lượng đã được định trước hoặc việc cải tiến chất lượng liên tụcbao gồm việc hoạch định, việc xác định, khuyến khích, đánh giá kiểm soát chất lượng” (Warren Piper, 1993).
Như vậy ĐBCL giáo dục đại học được xây dựng như các hệ thống chính sách, thủ tục, quy trình, hành động thái độ được xác định từ trước nhằm đạt được, duy trì, giám sát củng cố chất lượng giáo dục đại học ở mức chuẩn cho phép nhất định tìm ra những giải pháp để không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục, đảm bảo để trường Đại học hoàn thành sứ mạng.
    1. hình đảm bảo chất lượng
Trên thế giới rất nhiều mô hình đảm bảo chất lượng. Tiêu biểu thể điểm qua như sau:
      • hình đảm bảo chất lượng của AUN (ASEAN Universi- ty Network Quality AssuranceAUN-QA)
      • hình đảm bảo chất lượng CIPO (UNESCO, 2000)
      • Mô hình qun lí cht lượng tng thể (Total Quality Man- agement- TQM)
Hiện tại, hệ thống ĐBCL giáo dục của Việt Namcó 3 phần như sau:
      • Hệ thống ĐBCL bên trong của nhà trường.
      • Hệ thống ĐBCL bên ngoài nhà trường (hệ thống đánh giá ngoài bao gồm các chủ trương, quy trình công cụ đánh giá).
      • Hệ thống các tổ chức ĐBCL (các tổ chức đánh giá ngoài các tổ chức kiểm định độc lập).

Căn cứ Thôngsố 37/2012/TT-BGDĐT ngày 30/10/2012 về việc Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 65/2007/ QĐ-BGDĐT ngày 01 tháng 11 năm 2007 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 65/2007/QĐ-BGDĐT ngày 01 tháng 11 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục Đào tạo ban hành Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học. Theo đó hệ thống tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục của các sở đào tạo Đại học gồm 10 tiêu chuẩn căn bản sau: Nhiệm vụ mục đích của sở đào tạo; Tổ chức quản lý; Chương trình đào tạo; Các hoạt động giảng dạy; Đội ngũ giảng viên, cán bộ, nhân viên; Người học; Nghiên cứu khoa học chuyển giao công nghệ; Quan hệ quốc tế; Thư viện, sở vật chất trang thiết bị; Tài chính quảntài chính.
        Học vin Pht giáo Vit Nam tại TP.HCM là một cơ sgiáo dục Phật giáo mang tính đặc thù, cho nên khó thể lấy khuôn mẫu của một loại hình duy nhất nào đó áp dụng vào công tác đảm bảo chất lượng tại Học viện. Cho nên thể chắt lọc các khungthuyết phù hợp để vận dụng hiệu quả cho công tác đảm bảo chất lượng tại học viện. Theo Trần Văn Cát (2016), trong luận án Tiếnvề Quản đào tạo tại Học viện Phật giáo Việt Nam theo hướng tiếp cận đảm bảo chất lượng đã khái quát các khungthuyết bản sau:
       Một là, văn hóa chất lượng (VHCL) cái nôi của TQM (Quảnchất lượng toàn diện). Để quảnđào tạo (QLĐT) theo tiếp cận ĐBCL, Học viện Phật giáo Việt Nam cần phải tiếp cận hình thành một nền VHCL, trong đó từ lãnh đạo đến mỗi thành viên đều hiểu, ý thức sự cần thiết, trách nhiệm, tham dự đóng góp hành động cụ thể để tạo ra chất lượng đào tạo.
        Hai là, quảnđào tạo theo mô hình CIPO từ quảnyếu tố đầu vào (tuyển sinh, chương trình giáo dục, các nguồn lực: con người, cơ sở vật chất, tài chính...) đến yếu tố quá trình (hình thức tổ chức, phương pháp đào tạo, kiểm tra đánh giá...), đến yếu tố đầu ra (người học tốt nghiệp, đáp ứng yêu cầu của công việc sau đào tạo...) hình ĐBCL của AUN-QA (với hệ thống các tiêu chí ĐBCL)
        Ba là, ĐBCL luôn được thực hiện bằng việc kiểm định chất lượng, nhất kiểm định các điều kiện ĐBCL của sở đào tạo. Các tiêu chí kiểm định của hệ thống ĐBCL trong giáo dục đại học Việt Nam sẽ cung cấp sởluận phápphù hợp vận dụng cho thực hiện kiểm định (đánh giá trong)Học viện Phật giáo vớicách sở giáo dục đại học độc lập của Giáo hội Phật giáo.
Tuy khung thuyết trên Trần Văn Cát chỉ tập trung vào công tác đảm bảo chất lượng đào tạo chưa đề cập đến việc ĐBCL dịch vụ hỗ trợ sinh viên người viết đang tìm hiểu, nhưng nhìn chung cácthuyết Trần Văn Cát đề xuất vẫn thể vận dụng cho dịch vụ hỗ trợ sinh viên. Bởi lẽ, dịch vụ này cũng một phần trong công tác ĐBCL đào tạo tại học viện.
    1. Dịch vụ hỗ trợ sinh viên
        Theo Nguyn Knh Trung - Nghiên cứu viên cao cp Vin ng- hiên cứu phát triển giáo dục, tác giả bài báo khoa học Khái niệm thị trường giáo dục chủ đề của 9 bài báo khoa học đăng trên Revue de recherche internationale et comparative en education (Tp chí Nghiên Cứu Quốc Tế So Sánh Giáo Dục), số 6/2011 Giáo dục trước hết một dịch vụ, sản phẩm được tạo ra những con người hoàn toànthể chủ động tham gia vào quá trình đào tạo, chính bản thân họ những tác nhân ảnh hưởng mạnh mẽ trên sự điều tiết của thị trường giáo dục. Hơn nữa, giáo dụcnhững sứ mệnh tưởng cao xa hơn thị trường kinh tế, chẳng hạn như vai trò của giáo dục trong việc đào tạo các công dân tự do, hay cuộc chiến của trường học với sự bất bình đẳnghội v.v. những điều như vậy, chúng ta không thể sử dụng cùng những logic trong việc trao đổi hàng hóa trên thị trường kinh tế để bàn luận về giáo dục.”5
Trong nghiên cứu giáo dục, Harvey (1995) và Hill (1995) đã đưa ra các yếu tố của chất lượng dịch vụ giáo dục (dịch vụ hỗ trợ 
sinh viên) bao gồm: Dịch vụ thư viện, dịch vụ nhà ở, trang thiết bị phòng vi tính, dịch vụ cung cấp thức ăn, tiếp xúc với nhân viên phòng ban, phương pháp học tập, hoạt động ngoại khóa…
Theo Hoàng Thị Phương tho và Hoàng Trng (2006) dịch vụ hỗ trợ sinh viên được khái quát thành ba hoạt động chính:
    1. Hoạt động đào tạo: Chương trình đào tạo, nội dung môn học, phương pháp giảng dạy, tổ chức thi cử, đánh giá sinh viên.
    2. sở vật chất: sở vật chất của trường phục vụ cho quá trình dạy học (phòng máy tính, thư viện, trang thiết bị dạy học, phòng ở nội trú…)
    3. Dịch vụ hỗ trợ phục vụ: Bao gồm các khía cạnh dịch vụ hỗ trợ sinh viên học tập tại trường (hoạt động ăn uống, tài chính, y tế,vấn nghề nghiệp) cung cách phục vụ của các khoa, các ban của trường.6
        Dịch vụ hỗ trợ sinh viên rt đa dng. Trong phạm vi đề tài này, tác giả chỉ xoáy sâu vào một số dịch vụ hỗ trợ sinh viên bản của Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. HCM như: Dịch vụ phục vụ cho hoạt động đào tạo (chương trình đào tạo, thông tin liên lạc, thủ tục hành chính…), sở vật chất (phòng học, thư viện, phòng vi tính, phòng y tế, thiết bị giảng dạy…) dịch vụ tiện ích (ăn uống, đi lại…).
  1. THỰC TRẠNG DỊCH VỤ HỖ TRỢ SINH VIÊN TẠI HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
    1. Khái quát về Học viện Phật giáo Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh (HVPGVN ti TP.HCM).
        Học viện Phật giáo Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh sở giáo dục quan trọng của Phật giáo. Học viện đã đang nỗ lực xây dựng một môi trường giáo dục Phật học như một ngành khoa học với nhiều phân ngành học khác nhau, lành mạnh, năng động, chất lượng hiệu quả. Từ đó, Học viện góp sức phấn đấu thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, gắn kết vào việc đào tạo nghề nghiệp cho mọi người; cổ vũ, khuyến khích và chăm lo đào tạo đội ngũ giảng viên nâng cao trình độ chuyên môn, đạo đức, phẩm chất nhân cách, góp phần vào sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực phục vụ đất nước nói chung sự nghiệp phát triển Giáo hội Phật giáo Việt Nam nói riêng.
       Nhiệm vụ tổng quát: Nhiệm vụ chính của Học viện chủ yếu xoáy vào bốn lãnh vực giảng dạy (teaching), nghiên cứu khoa học (scholarly research), thực hành (practice) truyền thông học thuật (academic communication). Thông qua chương trình của các khoá học, Học viện sẽ giới thiệu từ căn bản đến chuyên sâu các nguyên lý triết học ứng dụng hành trì của Phật giáo, thông qua các truyền thống Nam tông với văn hệ Pali, Bắc tông với văn hệ Sanskrit, Tây Tng, Trung Quốc, Nht Bn và Vit Nam v.v.
Mục đích chính của Học viện bao gồm: Đào tạo giới tri thức Phật giáo về các chiều kích học thuyết, lịch sử, tôn giáo văn hoá của Phật giáo Việt Nam. Hỗ trợ ứng dụng các nguyên lý triết học đạo đức Phật giáo trong cuộc sống. Hỗ trợ phát triển đời sống tâm linh cá nhân cũng như cộng đồng thông qua việc hành trì thiền, ứng dụng đạo đức. Tăng cường ý thức cộng đồng về các nguyênPhật giáo. Đáp ứng các nhu cầu giáo dục nghiên cứu về Phật giáo Việt Nam. Từng bước trở thành một trung tâm quốc tế về đào tạo nghiên cứu Phật giáo. Học viện, ngoài khoa Phật học, còn kế hoạch đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, đa cấp theo sự chỉ đạo qui định của Bộ Giáo dục Đào tạo, bao gồm: Đào tạo đại học chính quy, dài hạn, đào tạo đại học theo hướng không chính quy từ xa, đào tạo nâng cao nghiệp vụ chuyên môn. Đào tạo thạc và tiến tới đào tạo tiến sĩ.
Theo Báo cáo tổng kết công tác giáo dục đào tạo xây dựng Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. HCM trong lễ tốt nghiệp khoá XI tháng 10 năm 2018 đã trình bày:
Học viện lực lượng đội ngũ giảng viên hữu gồm 118 vị 
trong đó 3 Giáo Tiến sĩ, 3 Phó Giáo Tiến sĩ, 83 Tiến sĩ, 20 Thạc sĩ, 5 học giả, 1 Bác 7 vị Hòa thượng Thượng tọa. Ngoài ra, Học viện còn mời thỉnh giảng 53 vị, trong đó 3 Phó Giáo Tiến sĩ, 3 Tiến sĩ, 39 Thạc 8 Cử nhân.
         Ban đầu Học viện từ một khoa Phật học đã phát triển thành 11 khoa bao gồm: khoa Hoằng pháp, khoa Phật giáo Việt Nam, khoa Lịch sPht giáo, khoa Triết học Pht giáo, khoa Trung văn, khoa Pali, khoa Sanskrit, khoa Công tác hội, khoa Anh văn Phật pháp, khoa phạm Giáo dục mầm non, khoa Đào tạo từ xa. Trong suốt 34 m tính từ m 1984 đến m 2018, Học vin đã và đang đào tạo 13 khóa (hệ chính quy), 5 khóa (hệ đào tạo từ xa) theo chương trình Cử nhân Phật học 2 khóa chương trình thạcPhật học, với tổng số 5.928 Tăng Ni sinh cư sĩ Phật tử; trong đó đã 3.712 Tăng Ni sinh đã tốt nghiệp Cử nhân Phật học, 320 Tăng Ni sinh khóa XI 1.703 sinh viên đang theo học. Về chương trình ThạcPhật học, 22 Tăng Ni sinh đã tốt nghiệp 171 Tăng Ni sinh hiện đang theo học.7
        Tính đến tháng 10-2019, tổng số sinh viên của Học viện 1535 sinh viên theo học khóa XII XIII thuộc hệ chính quy khóa IV V thuộc hệ từ xa. Như vậy, trong chương trình cử nhân chính quy hiện khoá XII đang chuẩn bị tốt nghiệp, khóa XIII đang theo học khoá XIV (2019-2023) hệ chính quy chuẩn bị nhập học.8
Đối với chương trình sau đại học, hiện Học viện đang đào tạo Khóa I 108 học viên đã hoàn tất chương trình thạc sĩ, đang tiến hành làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ. Tuyển Khóa II 54 thí sinh trúng chương trình thạcPhật học.



        Về chương trình đào tạo tiến sĩ, Học viện hiện đang giảng dạy cho khóa đầu tiên tuyển sinh vào ngày 20 tháng 9 năm 2018 với 8 Nghiên cứu sinh đã trúng tuyển.
Ngoài ra, Học viện đã kết liên thông đào tạo Cao đẳng Phật học trường Trung cp Pht học Bà Ra Vũng Tàu, Tin Giang, Cn Th
Học viện liên kết đào tạo với một số trường đại học như: Liên kết với Trường Đại học Sư phạm TP. HCM tổ chức lớp đào to Cnhân phạm mầm non Khóa I (2015 – 2019), 66 sinh viên theo học chiêu sinh Khóa II. Liên kết trường Đại học Y Dược TP. HCM đã tổ chức các khóa học về y học cổ truyền để ứng dụng phục vụ cộng đồng, 338 sinh viên đang tham dự các khóa học. Liên kết đào tạo Anh văn với trường Đại học Công nghiệp Long An 9
    1. Tình hình dịch vụ hỗ trợ sinh viên của Học viện.
         Dịch vụ hỗ trợ sinh viên tại Học viện Phật giáo nhìn chung rất được chú trọng. Bởi giáo dục Phật Giáo mang những nét đặc thù riêng hướng đến đào tạo Tăng Ni sinh trí đức song toàn theo hai hình thức sinh hoạt nội trú ngoại trú. Hiện nay, ngoài sở I tại Nguyễn Kiệm, Phú Nhuận vẫn đang tiếp tục được duy trì thì học viện Phật giáo đã xây dựng thêm sở II tại Minh Xuân, huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh. Với sở II được xây dựng đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt học tập của hơn 1.000 sinh viên nội trú đang theo học tại trường. Để giúp sinh viên thể thích nghi với môi trường học tập mới, nhà trường đã xây dựng các kế hoạch học tập, rèn luyện vào đầu năm học nhằm hỗ trợ tốt cho sinh viên. Trong phạm vi bài viết, tác gixin đim lại tình hình một số dịch vphục vụ của HVPGVN tại TP. Hồ Chí Minh như sau:
      1. Hoạt động đào tạo
        HVPGVN tại TP. HCM đã xây dựng chương trình đào tạo trên  sở chương trình khung do Bộ trưởng Bộ Giáo dục Đào tạo ban hành thể hiện nét đặc thù của một trường đại học Phật giáo. HVPGVN tại TP. HCM đã nỗ lực không ngừng cải tiến chương trình đào tạo, phương pháp đào tạo nâng cao hiệu quả giảng dạy của đội ngũ giảng viên. Bên cạnh đó, trường còn cung cấp các hệ đào tạo đa dạng bao gồm hệ đào tạo chính quy, đào tạo từ xa, văn bằng 2, đào tạo sau đại học… đáp ứng được nhu cầu học tập không chỉ cho Tăng Ni còn cho Phật tử mong muốn tìm hiểu triết học Phật giáo.
       Nhà trường đã đẩy mạnh công tác quảngiảng viên nhằm đảm bảo chất lượng dạy học thông qua quy định về việc lấy ý kiến phản hồi của sinh viên về việc giảng dạy của giảng viên.
        Từ ngày 3 tháng 12 năm 2009 Viện trưởng HVPGVN tại TP.HCM đã ra quyết định vvic ban nh quy chế đào to cử nhân theo hệ thống tín chỉ. Quy chế này được áp dụng thực hiện theo hình thức tích lũy tín chỉ, vốn phương thức đào tạo theo cách sinh viên chủ động lựa chọn từng học phần, tích lũy từng phần tiến tới hoàn tất toàn bộ chương trình đào tạo, để được cấp văn bằng tốt nghiệp, theo một số ràng buộc được quy định trước. Học chế tín chỉ trao quyền cho sinh viên trong việc đăng ký, sắp xếp lịch học, tích lũy các học phần, thời gian họctrường thời gian tốt nghiệp.
Để đảm bảo chất lượng cho công tác phục vụ sinh viên trong lĩnh vực đào tạo, Ban điều hành HVPGVN tại TP. HCM đã đẩy mạnh công tác xây dựng các chương trình đào tạo vận dụng nhiều phương pháp học tập mới. Nhất đẩy mạnh việc học tập theo hệ thống tín chỉ. Tuy nhiên, hiện nay sinh viên chưa có sự chủ động về thời gian, chyếu dựa vào ssp xếp của nhà trường. Trong một số thời điểm, thời gian học tập của các khóa được đẩy nhanh tiến độ dẫn đến việc tiếp thu bài ở một số môn học phần giảm đi hiệu quả.
      1. sở vật chất các dịch vụ tiện ích
sở vật chất của trường phục vụ cho quá trình dạy học tập được nhà trường quan tâm kêu gọi đầu tư, xây dựng ngày càng khang trang, hiện đại. Hiện nay, HVPGVN tại TP. HCM tại gồm 2 sở: sở I tại 750 Nguyễn Kiệm, phường 4, quận Phú Nhuận, Tp. HCM; sở II thuộc Minh Xuân, huyện Bình Chánh đã đi vào hoạt động. Sau nhiều năm nổ lực quyết tâm xây dựng, Hội đồng điều hành HVPGVN tại TP. HCM đã xây dựng hoàn thành giai đoạn I với tổng kinh phí gần 200 tỷ đồng gồm 4 hạng mục lớn như sau:
a/ 01 tòa nhà hành chánh: (gồm 3 tầng lầu), dài 80m với tổng diện tích 5,851.6m2.
b/ 01 tòa nhà lớp học: (gồm 5 tầng lầu), dài 55m, khoảng 30 lớp học với tổng diện tích 5,264.20m2.
c/ 03 Tòa nhà khu nội Tăng Ni: Công trình khu nội gồm 02 tòa nhà được chia thành 2 khu Tăng Ni riêng biệt. Mỗi tòa gồm 5 tầng, mỗi tầng 14 phòng, mỗi phòng diện tích 32m2 gồm 3 giường tầng dành cho 06 người. Như vậy, mỗi tòa 70 phòng dành cho 420 v. Tng cng 02 tòa nhà ni trú cho ng ni sinh có 140 phòng dành cho 840 Tăng Ni sinh nội trú. Tòa nhà nội ni thứ 3 với 5 tầng lầu với tổng kinh phí 30 tỷ đồng.
d/ 01 giảng đường tiền chế: Được  sử  dụng tạm  thời  cho các Tăng Ni sinh nơi sinh hoạt tu học, với tổng diện tích 2,400m2 được chia làm 2 khu: Khu Trai đường kết hợp với Chánh điện tạm thời: với diện tích 1.764m2  sức chứa 1.500 chỗ ngồi; Khu phục vụ: với diện tích 636 m2 bao gồm nhà bếp, kho thực phẩm, 02 phòng ăn khách VIP 02 phòng ngủ cho những người phục vụ.10
Bên cạnh đó, Học viện tiếp tục cho công trình xây dựng giai đoạn II với tổng chi phí 500 tỷ đồng dự kiến xây dựng 3 hạng mục: 1/ Ngôi Chánh điện 1800m2 với sức chứa 2.000 người; 2/ Tòa đại thư viện; 3/ Bảo tháp cao 80 mét để đáp ứng nhu cầu tu học tâm linh của Tăng Ni sinh nội trú cùng các Phật tử xa gần.



Thư viện tại sở I của HVPGVN tại TP. HCM trang bị các đầu sách thuộc nhiều chuyên ngành bao gồm cả nội điển ngoại điển để sinh viên nghiên cứu tham khảo. Thư viện Học viện Phật giáo tổng diện tích 400m2, trong đó, diện tích khu vực đọc xửkỹ thuật: 200m2, diện tích kho: 200m2. Đặc biệt, thư viện tại sở II bắt đầu mở cửa vào ngày 15 tháng 9 năm 2017 nay đã khang trang trở thành nơi tự học của nhiều sinh viên. Thư viện hiện hơn
22.532 quyển sách, 10.076 tựa sách. Ngoài ra, Học viện trang bị 3 phòng y tế, hai phòng vi tính đáp ứng nhu cầu học tập của sinh viên.
Nhà bếp cung cấp đầy đủ các suất ăn cho sinh viên nội trú trong một ngày, sinh viên nội trú được miễn học phí, các phòng ban phục vụ trên tinh thần hướng dẫn, hỗ trợ tích cực cho sinh viên. Ban Điều Hành quỹ Đạo Phật Ngày Nay đã triển khai chương trình hỗ trợ đời sống Tăng Ni với cam kết hỗ trợ 5 tỷ đồng cho Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. HCM sở Minh Xuân. Ngoài ra nhiều chương trình học bổng được cấp cho sinh viên hằng năm giúp Tăng Ni sinh yên tâm học tập.
Hệ thống liên lạc nội bộ được đảm bảo tốt. Tại các phòng trong khu nội trú đều được trang bị điện thoại cố định nhằm tạo điều kiện thông tin liên lạc nội bộ giữa các phòng.
        Để đảm bảo nội quy, ngoài việc kêu gọi tinh thần tự giác học tập, nhà trường còn tiến hành điểm danh bằng cách trang bị các máy điểm danh hoặc điểm danh trên giấy áp dụng cho sinh viên đang theo học.
Tuy nhiên, sở II tại Minh Xuân chỉ mới khánh thành được giai đoạn 1, vẫn còn nhiều dự án, công trình chưa được xây dựng thiếu kinh phí. Tại sở I, hiện tại vẫn đang mượn sở vật chất của thiền viện Vạn Hạnh cho nên vẫn còn một số hạn chế khi phân phối phòng học các phòng chức năng. Mức độ sử dụng Thư viện của Giáo thọ sư, Tăng, Ni sinh tại thư viện sở I của HVPGVN tại TP. HCM còn thấp do nhiều nguyên nhân chủ quan khách quan. Một số sinh viên ngoại trú còn gặp nhiều khó khăn trong việc di chuyển từ trung tâm thành phố đến sở II để học tập.
 
 
      1. Hoạt động ngoại khóa
         Hoạt động ngoại khoá một trong những hoạt động được triển khai song song với hoạt động đào tạo, giúp cho người học phát triển toàn diện về mặt nhân cách, đạo đức, lối sống, kỹ năng mềm. Xác định được tầm quan trọng của các hoạt động ngoại khóa, HVPGVN tại TP. HCM luôn sự quan tâm chỉ đạo các đơn vị triển khai, đảm bảo chất lượng của dịch vụ hỗ trợ sinh viên.
        Th nhất hoạt động nghiên cứu khoa học: Nghiên cứu khoa học nhiệm vụ quan trọng, mối quan hệ gắn bó đối với hoạt động đào tạo của trường đại học. Ban điều hành đã từng bước xây dựng triển khai các hoạt động phục vụ cho Nghiên cứu khoa học của cán bộ, giảng viên sinh viên trường như tăng kinh phí hỗ trợ, khuyết khích, khen thưởng những công trình xuất sắc. Các chuyến đi khảo sát thực tế phục vụ cho các môn học luôn được nhà trường tạo điều kiện thuận lợi.
        Th hai hoạt động tu tập, rèn luyện của Tăng Ni sinh: Nhà trường sắp xếp thời gian tu tập, hành trì các pháp môn đặc thù của Phật giáo sao cho phù hợp với thời gian học tập của sinh viên. Thường xuyên tổ chức các buổi thuyết giảng như khóa tu “Một ngày an lạc” vẫn được duy trì định kỳ hằng tuần.
        Th ba các hoạt động cộng đồng, hoạt động kỷ niệm ngày lễ trong năm: HVPGVN tại TP. HCM luôn quan tâm tổ chức các chương trình từ thiện, hỗ trợ cộng đồng kêu gọi sự tham gia của Tăng Ni sinh. Trong các ngày lễ lớn, đc bit là ngày 20/11 nhà trường ra quyết định cho hội sinh viên tổ chức chương trình với quy mô lớn nhằm thể hiện tinh thần tri ân, tôn trọng đạo, đồng thời qua đó Tăng Ni sinh rèn luyện được nhiều kỹ năng như làm việc nhóm, kỹ năng tổ chức chương trình, cắm hoa, dẫn chương trình.v.v.
Các hoạt động ngoại khóa tuy được nhà trường phòng công tác sinh viên ra kế hoạch cụ thể, tuy nhiên, do những điều kiện khách quan chủ quan dẫn đến mức độ tham gia của Tăng Ni sinh chưa đồng đều trong cùng một khoa giữa các khoa với nhau. Hoạt 
động nghiên cứu khoa học tuy được nhà trường đặc biệt khuyến khích nhưng chưa phát triển mạnh, sinh viên chưa thật sự quan tâm đến hoạt động nghiên cứu bổ ích này.
    1. Nguyên nhân của một số hạn chế.
      1. Góc độ quản
        Ở góc độ quản lý, hệ thống nhân sự tại sở II đang còn trong quá trình thích ứng với công việc, nhiều vị trí công tác phục vụ cho dịch vụ hỗ trợ sinh viên còn thiếu. Một số nhân viên, cán bộ nhà trường trong một vài thời điểm còn kiêm nhiệm nhiều trách nhiệm dẫn đến chưa đạt được hiệu quả công việc như mong muốn.
Ngoài ra, ở một số giai đoạn còn thiếu nhân sự trong công tác quản lý sinh viên nội trú.
      1. Góc độ người học
        Đối với sinh viên cũng còn gặp nhiều khó khăn khi thích ứng với môi trường hình thức học tập mới. Một số Tăng Ni sinh giai đoạn đầu chưa bắt kịp phương pháp học tập rèn luyện mới theo phương thức tín chỉ. Việc rút ngắn thời gian đào tạo đôi lúc dẫn đến giảm đi hiệu quả tiếp thu kiến thức. Sinh viên vẫn chưa thực sự tự chủ trong quá trình học tập. Sinh viên chưa phát huy được hiệu quả khi làm việc trao đổi cùng Ban cố vấn học tập.
Ngoài ra, khi chuyển vào môi trường mới, sinh viên còn bỡ ngỡ với cách thức sinh hoạt nội trú các hoạt động ngoại khóa mới. Cần sự hỗ trợ tích cực của Ban quản viện Hội đồng điều hành học viện.
  1. THUẬN LỢI KHÓ KHĂN TRONG CÔNG TÁC ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG (ĐBCL) DỊCH VỤ HỖ TRỢ SINH VIÊN CA HỌC VIỆN PHT GIÁO VIỆT NAM TP. HỒ CHÍ MINH
        Đảm bảo đánh giá chất lượng đang ngày càng trở nên phổ biến trong giáo dục Việt Nam thế giới. Việc được công nhận đạt chuẩn kiểm định một lợi thế rất lớn cho việc quảng hình ảnh và to được stin tưởng của người học khi tham gia học tập. Trong các mô hình đảm bảo chất lượng hay các tiêu chuẩn kiểm định của AUN, đều xem dịch vụ hỗ trợ sinh viên một trong những tiêu chí để đánh giá. Do đó công tác đảm bảo chất lượng của dịch vụ hỗ trợ sinh viên tại các trường đại học nói chung HVPGVN tại TP. HCM nói riêng rất cần thiết cần được chú trọng đặc biệt.
Dịch vụ hỗ trợ sinh viên một trong 5 lĩnh vực quảncần đảm bảo chất lượng của một sở giáo dục đại học. Bao gồm: Sứ mạng, nhiệm vụ tính thống nhất của trường; Hiệu quả dạy học; Tài chính nguồn lực; Hoạt động quản lý, lãnh đạo (kế hoạch, quyết định, tự ch…); Dịch vụ sinh viên. (Trn Thị Liu, 2006)
Đảm bảo chất lượng dịch vụ hỗ trợ sinh viên tại HVPGVN tại TP. HCM bao gồm các hoạt động chính như sau: Xây dựng chiến lược, khung chất lượng, kế hoạch hoạt động hằng năm trình viện trưởng phê duyệt, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ đời sống, học tập, ng- hiên cứu khoa học cho sinh viên, đánh giá kiểm soát chất lượng dịch vụ. Hầu hết các dịch vụ của trường đều được cấu thành bởi các yếu tố về nguồn lực của nhà trường: sở vật chất, quy trình, quy định thực hiện dịch vụ, đội ngũ nhân viên phòng ban, đội ngũ giảng viên, cố vấn học tập tổ chức các hoạt động ngoại khóa.
    1. Tiêu chí ĐBCL dịch vhtrsinh viên của HVPGVN tại TP. HCM Th 1: Côngtácxây dựng khung chất lượng dịch vhtrsinh viên Khung cht lượng dịch vụ hỗ trợ sinh viên của HVPGVN tiTP.
HCM được xây dựng với các tiêu chí sau:
      • đủ diện tích giảng đường, môi trường thiền định, tu tập theo chuẩn mực đúng quy định; đủ phòng làm việc trang thiết bị thiết yếu cho cán bộ, giảng viên cùng các biện pháp hữu hiệu bảo vệ tài sản, trang thiết bị.
      • đủ trang thiết bị dạy - học hỗ trợ cho các hoạt động đào tạo, nghiên cứu Phật học được đảm bảo chất lượng, sử dụng hiệu quả.
      • Thư viện của Học viện phải đầy đủ các tài liệu học tập cần thiết, đặc biệt sách, giáo trình chính thống của các môn học chuyên ngành, thư viện điện tử nối mạng phục vụ hoạt động dạy - học, nghiên cứu khoa học.
 
 
        • Tài liệu học tập phải tối thiểu đủ sát với chương trình khung, các kênh tài liệu phong phú, tính cập nhật, phù hợp đáp ứng nhu cầu học tập nghiên cứu cũng như thực hành của Tăng Ni sinh, giảng viên các thành phần liên quan.
        • sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng dạy học, học liệu công nghệ giáo dục của Học viện phải thích hợp, hiện đại, dễ tiếp cận thân thiện với người sử dụng, mang lại hiệu ích thiết thực
Th 2: Công tác xác định điều kiện đảm bảo cho chất lượng dịch vụ hỗ trợ sinh viên
        • Hoạt động ĐBCL dịch vụ hỗ trợ sinh viên của Học viện được thực hiện theo các quy định, quy chế trong các văn bản đã được kiểm định phê duyệt đúng luật về Khảo thí, Kiểm định chất lượng.
        • Học viện các văn bản thể hiện chiến lược kế hoạch phát triển công tác ĐBCL dịch vụ hỗ trợ sinh viên theo những lộ trình khác nhau phù hợp với tình hình thực tế tại Học viện sự phát triển kinh tế hội của đất nước trong từng giai đoạn cụ thể.
Th3:CôngtácXâydựngbphnchuyêntráchvđmbảochấtlượng
       Thiết lập Phòng Khảo thí đảm bảo chất lượng, tham gia công tác ĐBCL dịch vụ hỗ trợ sinh viên trực thuộc Ban trị sự của Học viện.
Tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ chuyên trách, kiêm nhiệm làm công tác ĐBCL. Liên kết với các đơn vị đào tạo khác để hợp tác trong lĩnh vực mời chuyên gia, nguồn nhân sự kinh nghiệm về lĩnh vực ĐBCL làm việc tại Học viện.
Th 4: Công tác kiểm định chất lượng dịch vụ hỗ trợ sinh viên
       Thành lập xác định chức năng của từng thành viên trong Hội đồng kiểm định chất lượng tại Học viện theo quy định các hướng dẫn của Bộ Giáo dục đào tạo.
    1. Thuận lợi của Công tác ĐBCL dịch vụ hỗ trợ sinh viên
Công tác ĐBCL dịch vụ hỗ trợ sinh viên của HVPGVN tại TP. HCM  gặp được nhiều thuận lợi:
Đảng Nhà nước Việt Nam đã nhiều chủ trương, chính sách về tôn giáo công tác tôn giáo, nhằm tạo điều kiện cho các hoạt động tôn giáo được thực hin đúng phương cm Tốt đời đp đo. Đây điều kiện thuận lợi để Phật giáo giáo dục Phật giáo ngày càng phát triển theo đúng định hướng mục tiêu cao đẹp đã đề ra.
        Học viện Phật giáo được quảntrực tiếp bởi Giáo hội Phật giáo, nên sự quan tâm chỉ đạo sát sao của lãnh đạo GHPG, Ban giáo dục Pht giáo Trung ương là điu thiết yếu, to tin đ, động lực cũng như các định hướng về lĩnh vực Phật học, đảm bảo nâng cao chất lượng các hoạt động ĐBCL nói chung ĐBCL dịch vụ hỗ trợ sinh viên nói riêng.
Đội ngũ lãnh đạo, cán bộ, giảng viên, nhân viên nhà trường năng lực chuyên môn kỹ năng quản cao, tạo tiền đề vững chắc cho công tác ĐBCL xây dựng các định hướng phát triển cho nhà trường.
        Ban điều hành học viện nhận thức được tầm quan trọng của sự hài lòng của sinh viên đối với dịch vụ hỗ trợ sinh viên của nhà trường. Từ đó, càng ngày càng cải thiện các dịch vụ bản của trường như dịch vụ hỗ trợ học tập, sở vật chất, dịch vụ tiện ích, các hoạt động ngoại khóa v.v... đề xuất các giải pháp, kế hoạch hành động nhằm khắc phục các hạn chế trong công tác ĐBCL dịch vụ hỗ trợ sinh viên.
Sinh viên ngày càng chú trọng quan tâm đến công tác ĐBCL dịch vụ hỗ trợ sinh viên bằng các góp ý thông qua các buổi tiếp xúc sinh viên của nhà trường, thông qua các bài nghiên cứu khoa học. Đồng thời thông qua các phiếu khảo sát sinh viên của Học viện.
    1. Khó khăn trong công tác ĐBCL dịch vụ hỗ trợ sinh viên
Công tác ĐBCL dịch vụ hỗ trợ sinh viên tuy được nhà trường chú trọng nhưng quá trình quá trình cải thiện, nâng cao chất lượng vẫn còn phụ thuộc vào thời gian kinh phí.
Hệ thống văn bản pháp quy về công tác ĐBCL vẫn chưa được xây dựng một cách cụ thể, chưa điều kiện về vật chất nguồn nhân lực để thực hiện một số tiêu chí đã đề ra.
 
HVPGVN tại TP. HCM đang trong quá trình xây dựng bộ phận chuyên trách về Đảm bảo chất lượng, chưa bộ tiêu chí đánh giá cụ thể về hoạt động ĐBCL dịch vụ hỗ trợ sinh viên. Nhà trường chưa điều kiện để thực hiện kiểm định chất lượng cho các hoạt động của trường.
Ngoài ra, sở 2 của HVPGVN tại TP. HCM vừa đi vào hoạt động trong thời gian ngắn, thế việc ổn định công tác điều hành cũng như đảm bảo chất lượng dịch vụ hỗ trợ sinh viên vẫn còn trong quá trình xây dựng hoàn thiện.
  1. ĐỀ XUẤT NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ HỖ TR SINH VIÊN TI HỌC VIỆN PHT GIÁO VIỆT NAM TP. H CHÍ MINH
    1. Giải pháp
       Một là, thay đổi nhận thức của các chủ thể liên quan: quan quảncấp trên Học viện, Hội đồng điều hành, lãnh đạo các đơn vị giảng dạy các đơn vị chức năng, cán bộ công nhân viên, bản thân Tăng Ni sinh.
       Hai là, cụ thể hóa các tiêu chí trong khung chất lượng dịch vụ hỗ trợ sinh viên.
       Ba là, xây dựng bộ phận chuyên trách về đảm bảo chất lượng. Đào tạo nhân sự cho công tác ĐBCL. Tổ chức thực hiện kiểm định chất lượng (thực hiện đánh giá trong)Học viện Phật giáo Việt Nam.
Bốn là, trong từng dịch vụ cụ thể cần xem xét các hạn chế để những thay đổi cải thiện phù hợp.
Năm là, cần chuẩn bị kinh phí cho các hoạt động nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ hỗ trợ sinh viên.
Sáu là, tổ chức khảo sát thường xuyên sự hài lòng của sinh viên đối với các dịch vụ bản của trường. Từ đấy, những giải pháp hữu hiệu để nâng cao chất lượng dịch vụ hỗ trợ sinh viên của nhà trường.
    1. Kế hoạch thực hiện
- Để thay đổi nhận thức một quá trình lâu dài cần sự đồng thuận chung tay của những chủ thể liên quan thông qua các buổi họp, buổi báo cáo định kỳ, hội thảo các chương trình tập huấn.
  • Cần soát hệ thống văn bản quy định các tiêu chí ĐBCL dịch vụ hỗ trợ sinh viên, sau đó tiến hành bổ sung điều chỉnh phù hợp.
  • Vấn đề thiết yếu là xây dựng bộ phận chuyên trách về đảm bảo chất lượng trong thời gian gần nhất khi hoạt động của sở 2 đã đi vào ổn định. Đào tạo nhân sự cho công tác ĐBCL: Cử nhân viên đi đào tạo chuyên ngành đo lường đánh giá chất lượng giáo dục ở trong nước hoặc nước ngoài.
  • Việc khảo sát sự hài lòng của sinh viên cần tiến hành thường xuyên để được cái nhìn khách quan toàn cảnh. Cần tổ chức nhiều buổi trao đổi với Tăng Ni sinh nhằm lắng nghe những trăn trở vướng mắc của Tăng Ni sinh về các dịch vụ do nhà trường cung cấp.
  • Theo định hàng năm, Học viện vẫn chuẩn bị đón các đoàn đánh giá của các cp như: Ban giáo dục Pht giáo thuộc Trung ương Giáo hội PGVN thực hiện các cuộc thanh tra, đánh giá tương đương với đoàn đánh giá ngoài, cùng với đó các báo cáo thương xuyên của Hội đồng điều hành Học viện theo qui định kèm theo các minh chứng về số liệu cụ thể để các cấp thẩm quyền nhận định biện pháp chỉ đạo sát thực.
  • Điều quan trọng chuẩn bị kinh phí cho các hoạt động ĐBCL cụ thể bằng việc kêu gọi sự hỗ trợ đầu tư của cácnhân tổ chức mạnh thường quân. Xây dựng kế hoạch chi tiêu hợp lý trong công tác ĐBCL hàng năm. Đưa nội dung công tác ĐBCL, kiểm định chất lượng vào kế hoạch ngân sách chi thường xuyên của trường trên sở kế hoạch chi tiết về công tác ĐBCL được Ban điều hành học viện phê duyệt. Dành cho công tác ĐBCL một khoản kinh phí thỏa đáng.
    1. Những điều kiện cần đủ để thực hiện giải pháp
Để tiến hành được các giải pháp đã đề xuất cần các điều kiện sau:
 
Về nguồn nhân lực: Sự chung sức của toàn bộ Ban điều hành, cán bộ, nhân viên, Tăng Ni sinh…của Học viện.
Về nguồn vật lực: Chuẩn bị kinh phí từ nhiều nguồn khác nhau thông qua những kế hoạch cụ thể.
Về thời gian: Cần thời gian để sự thay đổi phù hợp, tránh nóng vội dẫn tới các quyết định sai lầm.
KẾT LUẬN
         Đxâydng Hcvin Phtgiáo Việt Namtại TP. HCMtrtnh môi trường giáo dục Phật học đem lại hiệu quả giá trị như mục tiêu đã đề ra đào tạo Tăng Ni tài đức cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam nói riêng đất nước Việt Nam nói chung, Học viện đã không ngng cải thin và phát trin ở nhiu mt. Trong suốt 35 m hot động, Học viện không chỉ chú trọng công tác nâng cao chất lượng đào tạo, song song đó còn xây dựng môi trường học tập thân thiện, tạo mọi điều kiện tốt nhất để Tăng Ni sinh yên tâm tu học. Việc chú trọng nhận thức tình hình của công tác đảm bảo chất lượng dịch vụ hỗ trợ sinh viên không những nâng cao chất lượng đào tạo, gia tăng sự hài lòng, đáp ứng nhu cầu học tập nghiên cứu của các Tăng Ni sinh trong lĩnh vực học thuật còn nâng cao hình ảnh của Học viện đến gần với sinh viên các nhà nghiên cứu quốc tế.
Đây chính xu hướng phát triển thời hội nhập của giáo dục Việt Nam nói chung giáo dục Phật giáo nói riêng. Từ việc phân tích tình hình, hướng đến đề xuất một số giải pháp căn bản nhằm nâng cao hiệu quả công tác đảm bảo chất lượng dịch vụ hỗ trợ sinh viên người viết chỉ mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé vào quá trình xây dựng phát triển Học viện Phật giáo ngày càng xứng tầm trung tâm giáo dục Phật học quốc tế của Việt Nam khu vực. Công tác đảm bảo chất lượng bước đi quan trọng nhằm đánh giá một cách khách quan về hiệu quả đào tạo của Học viện trong giai đoạn hiện nay. Thiết nghĩ đây yếu tố cần thiết đảm bảo cho lộ trình phát triển lâu dài, bền vững của Học viện Phật giáo tại TP. HCM.
 



Tài liệu tham khảo
Trần Thanh Ái (2010), Đào tạo theo hệ thống tín chỉ: Các nguyên lý, thực trạng giải pháp, Tham luận tại Hội nghị toàn quốc tổ chức tại Đại học Sài Gòn.
Ban giáo dục Tăng Ni Trung ương (2012), Giáo dục Pht go Việt Nam định hướng phát triển. NXB Tôn giáo nội.
Nguyễn Đức Chính (2002), Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học, NXB ĐHQG Nội.
Trần Văn Cát (2016), Quản đào tạo tại học viện Phật giáo Việt Nam theo hướng tiếp cận đảm bảo chất lượng.
Nguyễn Phúc Châu (2010), Quản nhà trường, NXB Đại Học Phạm.
Nguyễn Minh Đường, Hoàng Thị Minh Phương (2014), Quản chất lượng đào tạo chất lượng nhà trường theohình hiện đại, NXB Giáo Dục.
Giáo hội Phật giáo Việt Nam (2012), Kỷ yếu Hội thảo kỷ niệm 30 năm thành lập Giáo hội phật giáo Việt Nam. (1981- 2011), NXB Tôn giáo.
Nguyễn thị Hằng, Chất lượng dịch vụ giáo dục trường đại học Bạc Liêu nhìn từ góc độ sinh viên, khoa Kinh tế Luật.
Bùi Minh Hiền (chủ biên), Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo (2009),
Quản giáo dục, NXB Đại Học Phạm.
Trần Kiểm (2006), Khoa học quản Giáo dục, NXB Giáo dục Nội.
Trần Kiểm (2004), Khoa học quản giáo dục, một số vấn đề về luận thực tiễn, NXB Giáo dục, Nội.
Nguyễn Đức Lợi (2008), Giáo trình khoa học quản , NXB Tài Chính Nội.
 

Nguyễn Phương Nga (2010), Kiểm định chất lượng giáo dụcViệt Nam, NXB Đại học quốc gia Nội.
Thái Duy Tuyên (2008), Phương pháp dạy học truyền thống đổi mới, NXB Giáo dục.
Vipat Kuruchittham (2013), chế thúc đẩy hợp tác và hài hòa giáo dục đại học châu Á: Hệ thống chuyển đổi tín chỉ bảo đảm chất lượng, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Hội nghị bàn tròn của Mạng lưới đảm bảo chất lượng ASEAN (AQAN 2013), TP Hồ Chí Minh.
Trên Internet:
  • sở dữ liệu số Giáo hội Phật giáo Việt Nam (26/10/2018), Báo o ti lễ tốt nghiệp khoá 11. Truy xut từ: https://vbgh.vn/ index.php?language=vi&nv=news&op=ban-giao-duc-pg/bao- cao-tai-le-tot-nghiep-khoa-xi-470.html .
  • sở dữ liệu số Giáo hội Phật giáo Việt Nam (24/7/2019), Báo cáo sơ kết công tác Phật sự 6 tháng đầu năm 2019 của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Truy xuất từ: https://vbgh.vn/index.php?lan- guage=vi&nv=news&op=phat-su-online/bao-cao-so-ket-con- g-tac-phat-su-6-thang-dau-nam-2019-cua-giao-hoi-phat-giao- viet-nam-642.html.
  • sở dữ liệu số Giáo hội Phật giáo Việt Nam (7/1/2019), Báo cáo tổng kết năm 2018 của Ban Giáo dục Phật giáo Trung ươngGHPGVN.
Truy xuất từ: https://vbgh.vn/index.php?language=vi&n- v=news&op=ban-giao-duc-pg/bao-caotong-ket-nam-2018- cua-ban-giao-duc-phat-giao-trung-uong-ghpgvn-506.html
 
 
 
772

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây