5. Giáo dục đạo đức Phật giáo là góp phần an sinh xã hội - NCS.SC. Thích Nữ Đồng Hòa

Thứ sáu - 06/12/2019 09:39
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO GÓP PHẦN AN SINH HỘI

NCS. SC. Thích Nữ Đồng Hòa
 
 
DN NHẬP
Trong thời đại ngày nay, xã hi và con người đang hướng đến đỉnh cao của khoa học, văn minh vật chất đôi khi đẩy con người vào vòng ham muốn của thác loạn vật chất đạo đức ngày càng xuống cấp hơn. Đứng trước tình trạng như vậy, người làm công tác hoằng pháp cần vững vàng trong tư thế Giới - Định - Tuệ. Đó chính hành trang trong việc hoằng pháp về giáo dục đạo đức cũng chính giúp an sinh hội.
Đức Phật đã tìm ra nguyên lý của trụ, từ đó, Ngài đưa ra con đường giáo dục xây dựng trên các nguyênấy giúp con người vượt khỏi nhữnglầm, cởi bỏ mạng lưới thiên lệch, đạp đổ các thành trì chủ nghĩa cực đoan giáo điều, gột sạch đầu óc chủ quan đầy ắp những định đề, giúp cho con người cái nhìn thư thật “Như thị tri, như thị kiến” thực tại như thực tại “Pháp nhĩ như thị”. Nguyên Duyên khởi Tứ diệu đế haithuyết căn bản làm nguyên tắc tư 
duy để giải thích những vấn đề trên cũng nền tảng hoằng pháp về giáo dục đạo đức an sinh hội toàn cầu.
NỘI DUNG
  1. CÁC KHÁI NIỆM
Thực hin lời di hun thiêng liêng cao cả của Đức Thế Tôn: “Hoằng pháp vi gia vụ, lợi sinh vi sự nghiệp”. Hoằng pháp trọng tâm của hàng đệ tử Phật xuất gia, bởi lẽ “Phật phi Pháp bất hong, Pháp phi Tăng bt hiển. Tkhi Đức Thế Tôn tnh đo tại ci Bồ Đ, bánh xe pháp được chuyển lần đầu tiên tại vườn Lộc Uyển, rồi từ đây truyềnđi khắp nhân gian cho tới khi Ngài nhập diệt tại rừng Sa La Song thụ. Kế thừa 49 năm thuyết pháp độ sinh của Đức Phật, các vị thánh Tăng, liệt vị Tổ Sư, chư tôn tiền bối đã kế tiếp nhau tuyên dương chính pháp. Nhờ đó giáo pháp của Đức Phật được lan toả khắp nơi trên tinh thần “Tuỳđậu giáo, ứng hoá phương”.
    1. Khái niệm về giáo dục
Giáo dục một hiện tượng tiến hoá của hội loài người, không giáo dục con người chỉ sống theo bản năng của thú tính. Nhờ giáo dục, loài người thoát khỏi trạng thái mông muội hỗn độn, phát triển dần về khí chất, từ con người nô lệ trước lực lượng thiên nhiên đến con người biết chinh phục thiên nhiên, phục vụ đời sống đưa nhân loại tiến nhanh hơn đến chỗ toàn m. Theo quan niệm phương Tây thì, nguyên ngữ “Éducation”(giáo dục) bắt nguồn từ tiếng La-tinh cổ là: “Educere” hay “Educare”: E: Ra khỏi, thoát khỏi. Ducere: Dẫn dắt, hướng dẫn.
Theo quan niệm phương Đông thì: Giáo: dạy; Dục: nuôi. Giáo dục hướng dẫn, tác động, dẫn dắt khiến cho thay đổi cả tinh thần thể chất của con người sao cho ngày một hoàn thiện hơn, tốt đẹp hơn.
    1. Khái niệm về đạo đức, lối sống
Đạo đức một hình thái ý thức hội, xuất hiện tương đối sớm vai trò quan trọng đối với sự phát triển của hội. Đạo đức
 

được hiểu “Là hệ thống các quy tắc, chuẩn mựchội nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù họp với lợi ích của cộng đồng, củahội”.1
Lối sống “Lối sống của con người các chiều cạnh chủ quan của văn hóa, quá trình hiện thực hóa các giá trị văn hóa thông qua hoạt động sống của con người. Lối sống bao gồm tất cả những hoạt động sống phương thức tiến hành các hoạt động sống được một bộ phận lớn hoặc toàn thể nhóm hay cộng đồng người chấp nhận thực hành trong một khoảng thời gian tương đối ổn định, đặt trong mối tương tác biện chứng của các điều kiện sống hiện hữu trong các mối liên hệ lịch sử của chúng”2.
Lối sống mới “Lối sống mới phương thức sống của con người thể hiệnsự lựa chọn các hoạt động cách thức thực hiện các hoạt động đó mang tính dân tộc, hiện đại, nhân văn trong quá trình xây dựng chủ nghĩahội nhằm thực hiện mục tiêu phát triển con người toàn diện trên các lĩnh vực đức, trí, thể, mỹ”3.
    1. Khái niệm về an sinh hội
An sinh hội được hiểu một cách khái quát, đó sự bảo đảm của hội, nhằm bảo tồn nhân cách cùng giá trị của cá nhân, đồng thời tạo lập cho con người một đời sống đầy đủ hữu ích để phát triển tài năng đến mức cao hơn. An sinh hội sự bảo vệ của hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, bệnh tật, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già, chết; đồng thời đảm bảo các chăm sóc y tế trợ cấp cho các gia đình đông con…
  1. Mai Văn Bính (Chủ biên), Thanh Hà, Nguyễn Thị Thanh Mai, Lưu Thu Thủy, Giáo dục công dân 10, Nxb. Giáo dục Việt Nam (2014).
  2. Phạm Hồng Tung, “Nghiên cứu về lối sống: một số vấn đề về khái niệm cách tiếp cn. Tp chí Khoa hc Đi hc Quc gia Hà Ni, Khoa hc Xã hội và Nhân văn, 23 (2007).
  3. Nguyễn Thị Thanh Hà, “Giá trị đạo đức truyền thống dân tộc với việc xây dựng lối sống mới cho sinh viên Vit Nam trong bối cnh toàn cu hóa hin nay. Học vin Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2014.

Như vậy, về mặt bản chất, An sinh hội góp phần đảm bảo thu nhập đời sống cho các công dân trong hội. Phương thức hoạt động thông qua các biện pháp công cộng. Mục đích tạo ra sự “an sinh” cho mọi thành viên trong hội, vậymang tính hội tính nhân văn rất sâu sắc.
2. HOẰNG PHÁP VỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC THEO TINH THẦN PHẬT GIÁO GIÚP AN SINH HỘI
Bất cứ một quốc gia nào, trong quá trình phát triển của mình đều phải đặc biệt quan tâm giải quyết vấn đề an sinh hội. Không thể phủ nhận rằng, giải quyết tốt vấn đề an sinh hội sẽ góp phần giữ vững ổn định về kinh tế - chính trị - hội của đất nước, đảm bảo công bằng, giúp xã hi phát trin. Trong sự hi nhập và phát triển kinh tế toàn cầu, cùng với những thành tựu đổi mới kinh tế, phát triển mạnh mẽ kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa, tăng cường tiềm lực kinh tế quốc gia, Việt Nam đã có những nỗ lực to lớn, đầunguồn lực đổi mới chế, chính sách, kêu gọi các lực lượng, tổ chức hội tham gia thực hiện an sinh hội, chăm lo cải thiện không ngừng cuộc sống của người dân, trong đó Phật giáo một trong những tổ chức hội đóng góp tích cực hiệu quả nhất việc thực hiện công tác an sinh hội.
Hoằng pháp về Giáo dục đạo đức theo tinh thần Phật giáo một phương tiện hoằng pháp tối yếu để khai mở cánh cửa trí tuệ của con người, giúp con người nhận chân được thật tướng đích thực của vạn pháp, nhằm đưa cho họ đạt đến chỗ chân, thiện, mỹ. Trên sở đó, trong lộ trình tu tập, con người “phản quang tự kỷ” để phát triển tiềm năng sáng suốt, đánh thức Phật tính vốn trong mình đi trên con đường giác ngộ, giải thoát. Yếu tố cốt lõi trong hệ thống giáo dục đạo đức Phật giáo hướng dẫn con người đoạn ác, tu thiện, chứng quả sinh như Đức Phật dạy:
“Chư ác mạc tác
Chúng thiện phụng hành Tự tịnh kỳ ý
 

Th chư Phật giáo” 4
Nếu như tất cả nước ngoài biển khơi chỉ một vị vị mặn, thì giáo Đức Thế Tôn thuyết ra cũng thế, chỉ một vị hương vGiải thoát. Trong kinh Tăng Chi Đức Pht có dy: Này Paharada, biển lớn chỉmột vị, đó vị mặn. Cũng vậy, này Paharada, pháp này của Ta cũng chỉmột vị vị giải thoát.”5
Giáo dục đạo đức Phật giáo chính giáo dục Giới, Định, Tuệ. Chính nền giáo dục này mới thể đem lại hòa bình, hạnh phúc thật sự lâu dài cho loài người cho cả thế giới. chúng công năng điều phục nhữngduy, những ý thức sai lầm trong mỗi con người. duy ý thức sai lầm đó chính minh, tham ái, nguyên nhân đưa đến phiền não, khổ đau. Đức Phật dạy rằng khổ đau hay hạnh phúc do chính con người tạo ra chứ không phải từ sự thưởng pht của đng Toàn ng hay Thượng đế nào c. Cho nên, giáo dục giáo dục con người chính nó, giáo dục con người tận diệt nguồn gốc của ái, thủ tức bỏ ác hành thiện để được an vui hạnh phúc, kng phi đấng Toàn năng chuyên ban phúc gng ha...
  • Th nhất, giới không sát sinh: Ta biết rằng tất cả chúng sinh đều mạng sống, nên Đức Phật dạy con người không được giết không bảo người khác giết; Yêu cầu phải bảo vệ, phải trân trọng giá trị thiêng liêng của sự sống, đối với con người cũng như mọi loài. Bảo vệ, tôn trọng, nâng cao giá trị, phát triển sự sống đó khái niệm chính của giáo dục đạo đức Phật giáo; Đồng thời đó cũng tính từ bi bình đẳng trong hệ thống giáoPhật Đà. Nếu người người, nhà nhà ai cũng giữ giới không sát sinh thì đất nước, thế giới khỏi phải lo sợ chiến tranh, lo sợ khủng bố… khi ấy đao kiếm, bom đạn sẽ trở thành nghĩa. Vấn đề an sinh hội được Đức Phật dạy rất trong bài kinh sau: Không nên đổ đồ ăn thừa trên cỏ xanh trong nướccôn trùng, sợ làm hại cỏ côn trùng. Ngài dạy các đệ tử xuất gia phải dùng vải lọc nước để ngăn chặn giết côn trùng”.6
  1. Pháp cú, kệ 183.
  2. Tăng chi III, tr. 57, Sđd.
  3. Kinh Thừa Tự Trung Bộ 1 số 3.

Trong nhng tng mùa mưa An cư kiết h, Pht khuyên các Tkheo không nên ra ngoài sợ giẫm đạp trên cỏ cây hoặc côn trùng trong mùa sinh nở hoặc trong không khí ẩm ướt. Chính lẽ đó Đức Phật cấm các đệ tử của Ngài không sát sinh để cân bằng sinh thái, không tàn phá chiếm đoạt phải sống thiểu dục tri túc. Đức Phật dạy: “Tri túc tri nhân tuy bần nhi phú, bất tri túc giả tuy phú nhi bần, tri túc tri nhân tuy ngoạ địa thượng do vi an lạc, bất tri túc giả tuy phú Thiên đường diệc bất xứng ý” Nghĩa là: “Người sống biết đủ tuy nghèo giàu, người sống không biết đủ tuy giàu nghèo, người sống biết đủ tuy nằm trên đất cũng thấy an lạc nhưThiên đường, người không biết đủ tuy Thiên đường vẫn không vừa lòng như trong Địa ngục”.7
- Th hai, giới không lấy của không cho: Sống giữa cuộc đời ai cũng nhu cầu về vật chất để đáp ứng cho sự sống. Ta cũng nhu cầu, người cũng vậy sao ta lại lấy của người không đồng ý làm của mình! Đức Phật dạy, cho đến nhỏ nhoi như cây kim ngọn cỏ nếu người không cho thì không được lấy.
Trong phạm vi giới y kng chỉ đơn thun là nhng nh vi trộm cắp lộ liễu, còn gồm cả những hành vi như buôn lậu, tham nhũng, hối lộ, lừa đảo, lật lọng trong buôn bán để những lợi nhuận bất chính, lạm dụng hay chiếm đoạt của công, trốn thuế, trốn nợ… đều thuộc về phạm vi trộm cắp. Khi ta nhìn rộng hơn, giới ấy Đức Phật dạy không những không trộm cắp còn phải biết bố thí, biết giúp đỡ, tương thân, tương ái, biết mang đến niềm vui cho người khác… Mặt khác phải biết tri túc, sống biết đủ, bằng lòng với số tài sản của mình được nhờ lao động của bản thân, không nghĩ cách làm giàu thêm bằng cách làm ăn lừa lọc không chính đáng, phi đạo đức.
Như thế, nếu ai ai cũng giữ giới không lấy của không cho thì mọi người khỏi phải lo sợ giành giật cướp bóc, chiếm đoạt lừa lọc, những chiếckhóa sẽ trở thành nghĩa, mọi người không phải canh giữ, không phải đậy đằn; Khi đó, con người ta sẽ xích lạ gần nhau hơn, sẽ thấy an ổn hơn, hạnh phúc hơn nhiều!

  1. Kinh Tứ Thập Nhị Chương.
  • Th ba, giới kng tàm: Trong xã hi hin đi, giới kng dâm lại càng được nổi bật hơn về mặt giá trị càng cần phải được áp dụng một cách triệt để hơn. Chúng ta thấy rằng, ngày nay có những căn bệnh hiểm nghèo đã hoành hành khắp đó đây do đời sống tình dục bừa bãi gây ra. Chúng đã trở thành nỗi lo lớn nhất nỗi lo chung của toàn nhân loại. Đặc biệt trong đó AIDS, một căn bệnh hiểm nghèo chưa thuốc trị, đã đe dọa nghiêm trọng đến mạng sống hạnh phúc của con người.
Mặt khác, chính đời sống vi phạm tiết hạnh vợ hoặc chồng của người khác đã cướp đi hạnh phúc của gia đình mình cũng như gia đình họ, làm cho gia đình ly tán, con cái chia lìa. Chúng ta cũng thường thấy giữa hội bộn bề biết bao cuộc ghen tuông do đời sống tiết hạnh bất chính gây ra, rồi hậu quả của đâm chém, giết chóc, vợ chồng bỏ nhau, con cái cũngđó lang thang rồi hỏng.
Do hậu quả xấu của nó ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền tảng đạo đức hội cũng như đời sống phạm hạnh đi đến giải thoát. Đức Phật dạy người tại gia sống trong hội nên chung thủy, chân thành, sắt son một vợ một chồng, còn người xuất gia thì hoàn toàn đoạn dâm dục.
  • Th tư, giới không nói dối: Đức Phật dạy rằng giới này gồm cả không được nói lưỡi hai chiều, không được nói lời thêu dệt, không được nói lời độc ác. Chúng ta biết rằng, ngôn ngữ phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người chỉ con người mới ngôn ngữ. Ai cũng muốn được tin tưởng, muốn được hòa thuận, muốn được lợi ích… thế nên, ta không được đem lời nói dối trá, lời nói thô ác, lấy trái nói phải, lấy phải nói trái, lấy không nói có, lấy nói không… thêu dệt, ngược xuôi để cư xử với nhau. Người xưa thường nói: “Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời nói cho vừa lòng nhau.” Hay “Lời nói không dao, sao cắt lòng đau nhói, lời nói không khói sao mắt thấy cay cay, lời nói không mây, sao đưa ta đi mãi, sao ta không ngồi lại, nói với nhau nhẹ nhàng!” Lựa lời nói tức chọn những lời nói chân thật, nhẹ nhàng, vui vẻ, hòa khí, lợi mình, lợi người để đối xử với nhau.

Một lời nói thể làm cho đất nước hưng thịnh, nhưng cũng một lời nói thể làm cho đất nước điêu tàn, chiến tranh bùng nổ Nhất ngôn hưng bang, nhất ngôn tán bang”. Những điều này đã được Đức Phật chỉ dạy cách đây hơn hai nghìn năm. Ngài thấy được sự nguy hại của lời nói xấu, nói ác… khiến người khác đau khổ đến cùng tận địa ngục từ lời nói chân thật mang lại lợi ích, an lạc, hạnh phúc cùng cho cả toàn cầu. Cho nên Ngài dạy: Không được nói lời dối trá phải nói lời chân thật.
“Ai đã lỡ gieo trồng nghiệp ác Đừng làm liều, tiếp tục gây thêm. Chớ biện hộ, tìm quên,
Quả sầu phải gặt, xích xiềng bủa giăng”.8
- Thnăm, kng được ung rượu: Trong Lut có nói từ câu nhược Pht tử cm tửu..” cho đến câu nhược cố tự m, giáo nn m gi, phạm khinh cu ti. Nghĩa là nếu Pht tử cố ý uống rượu, rượu thứ làm người uống thường phát sinh ra lượng tội lỗi. Nếu tự tay mình trao chén rượu cho người uống, sẽ mang ác báo năm trăm đời không tay, huống chi tự mình uống. Cũng không được bảo người tất cả chúng sinh uống rượu, huống chi tự mình uống! Tất cả các thứ rượu, Phật tử không được uống. Nếu mình cố uống hoặc bảo người uống, Phật tử này phạm khinh cấu tội.
Giới này gồm cả những điều không được dùng những chất kích thích, những loại thuốc hưng phấn làmman đầu óc, trí não của con người, như thuốc phiện... Giới không uống rượu mặcnằm sau bốn giới trên nhưng thể quan trọng hơn cả. một người say rượu, nghiện thuốc phiện… thì tâm trí bị mê mờ nên rất dễ phạm bốn giới trước. Để cho bản thân, cho gia đình, hội được văn minh, hạnh phúc. Đức Phật dạy không được uống rượu, không được dùng các chất kích thích, các loại thuốc phiện… làm say sưa, mê mờ tâm trí. Nhân giới sinh Định, nhờ công năng giữ giới

  1. Kinh Pháp số 117.
    tâm hồn được định tĩnh, nhờ Định trí tuệ được khai mở, đây cũng chính lúc con người:
  • Ý thức được những khổ đau do sự sát hại gây ra nguyện không sát hại.
  • Ý thức được những khổ đau do sự lường gạt, trộm cắp bất công gây ra nguyện không vi phạm.
  • Ý thức được những khổ đau do dâm gây ra nguyện không dâm.
  • Ý thức được những khổ đau do lời nói thiếu chính niệm gây ra nguyện không nói dối, nối ác...
  • Ý thức được những khổ đau do uống rượu, dùng ma túy những chất kích thích làm say sưa gây ra nguyện không dám dùng.
Trong kinh Thiện Sinh Đức Pht dy: Này gia chủ, đam mê c loại rượu có sáu nguy hiểm: Tài sản bị tổn thất, hay gây tranh cãi, mắc nhiều bệnh tật, danh dự thương tổn, quần áo hở hang để lộ âm tàng, trí lực bị tổn hại. Này gia chủ, nghiện các loại rượu sáu nguy hiểm như vậy.”
Như vậy, năm giới của Phật giáo mang một ý nghĩa rất thù thắng cho tất cả mọi người. Mang lại sự cân bằng trong sinh thái, tạo nên một nếp sống trật tự an bình trong hội, làm cho mọi người, mọi loài tin tưởng xích lại gần nhau hơn. Đó chúng ta đang thực hành Diệt đế như Đức Phật đã dạy: “Sự diệt tận không còn luyến tiếc tham ái ấy, sự xả ly, sự khí xả, sự giải thoát, sự nhiễm (tham ái ấy). Này chư hiền, như vậy gọi khổ diệt thánh đế”. Đây châncao cả về sự diệt khổ.9
    1. Mẫu người làm công tác Hoằng pháp trong thời đại mới
Khi nói đến vấn đề này thì hiện nay chư tôn túc lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam, lãnh đạo ngành hoằng pháp đang trăn trở. Như chúng ta đã biết, hội loài người luôn phong phú muôn màu muôn vẻ, nên khi nhắc đến mẫu người làm công tác hoằng pháp về Giáo dục đạo đức Phật giáo chúng ta nghĩ ngay đến một biểu tượng nhất định, một con người mang tính chuẩn mực về trí tuệ, về đạo hạnh cụ thể (kể cả xuất gia tại gia).
dụ: Mẫu ngườiphương Tây xưa kia là: Chính nhân hiệp sĩ, nhà bác học bây giờ nhân thành công trong hội, còn phương Đông mẫu người trước đây người quân tử, lấy nhân, ng- hĩa, lễ, trí, tín, làm trọng. Cố nhiên điều này cũng tạo ra được một biểu tượng chuẩn mực cho hội. Nhưng trong chừng mực nào đó nó làm mất đi cái giá trị đa phương diện muôn màu muôn vẻ của con người. Nếu cố tạo ra một mẫu người nhất định như thế chẳng khác nào sửa người cho vừa áo. Như vậy, thể một sự uyển chuyển khế lý, khế cơ, khế thời, khế xứ áp dụng tứ y “Y pháp bất y nhân, Y nghĩa bất y ngữ…” sao cho phù hợp.
    1. Đạo đức nhân cách người làm công tác Hoằng pháp
Đạo đức nhân cách một giá trị sống do tư duy hành động của con người tạo ra. Chúng phải được kế tục phải liên tục phát triển theo sự tiến bộ của hội. khi hội phát triển thì trong đó bao hàm luôn sự thay hình đổi dạng của giá trị văn hóa, lối sống, cách ứng xử, cách làm người… của con người. Nếu một khi, chúng ta không có một môi trường hoằng pháp về giáo dục đạo đức tốt từ gia đình, học đường cho đến hội hay có những đường lối, chủ trương không phù hợp trong việc giáo dục thì chính ở chỗ nhận thức sai lầm thiếu trách nhiệm, tất nhiên sẽ dẫn đến hậu quả đạo đức nhân cách xấu.“Lịch sử đã chứng minh vai trò to lớn của giáo dục trên mọi mặt của đời sốnghội, còn trong sự hình thành phát triển nhân cách, giáo dục được đánh giá vai trò chủ đạo.”
Về phương diện hội của con người, đạo đức nhân cách được hiểu mối liên hệ giữa con người với con người trong hội; khi kinh tế phát triển nhanh thì mối liên hệ ấy hẳn phải thay đổi ngoài ý muốn của con người. Tương tự, khi một chính sách hay một thể chế chính trị thay đổi, mối liên hệ ấy không duy trì theo nếp cũ. Nếu không một hệ thống giáo dục toàn diện để bắt nhịp theo 
sự thay đổi của thời cuộc nhằm hướng dẫn con người ý thức trách nhiệm với cộng đồng, với hội thì đạo đức nhân cách sẽ bị khủng hoảng.
Ngày nay, chúng ta đang đứng trước thềm k nghệ khoa học hiện đại. Các nhà máy, các khu công nghiệp mọc lên khắp nơi dẫn đến sự đô thị hóa diễn ra nhanh chóng. Người dân từ các nông thôn bỏ trang trại, bỏ sự cày sâu cuốc bẫm lên đô thị vào các nhà máy làm ăn sinh sống. Lẽ tất nhiên, vấn đề an ninh ở đô thị vẫn hạn với một lượng dânvừa phải. Nhưngđây sự bùng nổ dân số theo chế thị trường đã diễn ra một cách rệt. Một mặt, do ý thức, tư duy của mỗi con ngườinông thôn còn nhiều hạn chế, họ chưa nắm bắt kịp nếp sống văn hóa, văn minh ở đô thị. Mặt khác, nhiều vấn đề phức tạp nữa xảy ra, xuất phát từ những nhận định sai lầm trong nếp nghĩ của mỗi người, cho nên các tệ nạn hội, các hành vi hành động thiếu nhân tính diễn ra. Nguyên nhân chính yếu vẫn sự mất thăng bằng trong đạo đức, nhân cách lối sống.
    1. Hoằng pháp trước những thách thức tệ nạn hội
Tệ nạn hội hiện nay một vấn đề cấp báchcác đô thị lớn, tất cả những người làm hoằng pháp về giáo dục đạo đức Phật giáo phải gánh vác. Như chúng ta đã biết, khi một con người sinh ra giữa cuộc đời, nếu họ được ở trong một môi trường tốt với đầy đủ tiện nghi cũng như thông tin về giáo dục đạo đức từ gia đình, học đường đến hội, thì đây sẽ bước khởi đầu thành công trong công việc giáo dục hướng dẫn con người vươn tới giá trị hoàn thiện. Từ trước đến nay, gia đình, học đường hội ba yếu tố quan trọng luôn cần một mối quan hệ hữu lẫn nhau trong việc giáo dục con người.
Th nhất, giáo dục gia đình: Khi một cháu bé mới sinh ra, giai đoạn ấu nhi giai đoạn khởi đầu của đời người. Mọi hành động, ngôn ngữ,tưởng, ý chí, tính cách… của con người tất cả đều được nắn đúc, hình thành ngay trong giai đoạn này. Như vậy, hoằng pháp về vấn đề giáo dục đạo đức ấu nhi rất cần quan tâm thiết lập mô hình, ấu nhi nên người hoằng pháp phải lấy gia đình làm 
trung tâm để giáo dục, đặt trách nhiệm trọng đại của những người làm cha, làm mẹ phải chú ý đến hành vi, cử chỉ, cách ăn nói, nằm ngồi của mình, tạo những hoàn cảnh tốt đẹp trong gia đình để gieo vào trong lòng các trẻ em những ý niệm tốt đẹp về cuộc đời. Những đức tính hy sinh, nhẫn nại, trật tự, hiếu thảo, ân nghĩa, khiêm hạ… cũng phải luyện tập cho trẻ ngay từ trong giai đoạn này.
Th hai, giáo dục học đường: Ngoài việc đào tạo vốn kiến thức về khoa học, về hội ra thì người hoằng pháp làm sao khéo léo uyển chuyển tiếp cận với các Thầy giáo trong các Trường, kết nối với giáo viên để những buổi sinh hoạt ngoại khóa cho học sinh, sinh viên về rèn luyện k năng sống theo tinh thần Phật giáo, đồng thời khiến cho giáo viên nâng cao trách nhiệm phải trực tiếp truyền trao cho học viên giềng mối đạo đức, ý thức trách nhiệm, lẽ sống ở đời… Đào tạo những con ngườitưởng mục đích chính của nội dung cũng như phương pháp giáo dục đạo đức Phật giáo. Con ngườitưởngđây con người đối với bản thân thì thực hành theo những hạnh kiểm phù hợp với luânđạo đức. Đối với gia đình thì sống theo tinh thần thân, hiếu, hạnh. Đối với tập thể thì giữ gìn kỷ luật, trật tự, trung chính. Đối với quốc gia thì lòng yêu quê hương, đất nước, thực hiện những công việc lợi ích chung, đối với quốc tế thì thực hành theo chủ trương hòa bình, hợp tác, yêu chuộng dân chủ.
Th ba, giáo dục hội: Tức ngành giáo dục thiên trọng về mặt cải tiến hội. Kinh nghiệm cho chúng ta biết rằng thời gian giáo dục ở học đường quá ngắn ngủi đối với đời sống con người. Nhất những người sau khi rời khỏi ghế nhà trường ra lăn lộn với cuộc sống thực tế, thì chính đây mới môi trường giáo dục dành cho mọi lứa tuổi, mọi tầng lớp để trở thành con người thật sự của hội.
    1. Hoằng pháp về vấn đề an sinh cho cuộc sống
Trong cuộc sng thì ai cũng muốn xa lánh điu kh, ai cũng muốn hạnh phúc. Vậy hãy lấy tâm mình suy ra tâm người đừng gây đau khổ cho người khác. Tuy nhiên, khi khoa học k thuật đã tiến lên ở một đỉnh cao thì liệu họ lấy cái thiện cái ác ra để làm thước đo nhằm đáp ứng nhu cầu hạnh phúc hòa bình thật sự cho cuộc sống hay không? Hay trên đà phát triển của lòng tham ái, họ muốn chiếm dụng thật nhiều của cải vật chất để phục vụ cho nhu cầu sự sống của mình. Rồi họ bằng cách này hay cách khác, hoặc bằng nhiều thủ đoạn, hoặc chế tạo ra nhiều thứ khí giết người trong đó cả khí giết người hàng loạt nhằm chiến tranh cướp đoạt để đe dọa mạng sống của con người? Dẫu dùngkhí vào chiến tranh chính nghĩa đi nữa nhưng cũng vẫn làm cho máu đổ, xương tàn. Mặt khác, đâu được khí để người ta mang đi chiến tranh phi nghĩa, mang đi khủng bố, mang đi giết chóc?… Ta không phủ nhận những tiến bộ của khoa học k thuật đã đáp ứng rất nhiều cho đời sống con người, một mặt đánh dấu một cáchnét nền văn minh của nhân loại. Nhưng chúng ta vẫn thấyrằng do đâu con người mãi khổ đau, mãi lo âu sợ hãi? Phải nói thật ngây ngô khi giả thiết các vấn đề do loài người tạo ra để dẫn đến bạo động thể giải quyết bằng tranh đấu.lẽ chínhchỗ nhận thức sai lầm duy hữu ngã của con người mang lại.
Đức Phật dạy: “Không lửa nào bằng lửa tham dục, không ái nào bằng ái sân hận, không khổ nào bằng khổ ngủ uẩn không vui nào bằng vui Niết bàn” 10. Thật vậy, khi ngọn lửa tham dục khởi lên thiêu đốt tâm can con người thì dễ khiến cho con người trở nên điên đảo, vọng tưởng, không thấy nhân quả, nghiệp báo gây nên biết bao khổ luỵ cho con người trong hội. Đây cũng chính Tập đế Đức Phật đã dạy: “Đây thánh đế về Khổ tập, này các tỳ kheo, chính ái này đưa đến tái sinh. Câu hữu với hỷ tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia.  Tức dục ái, hữu ái, phi hữu ái” 11.
    1. Hoằng pháp về vấn đề môi trường sống
Môi trường sống hiện nay một đề tài cấp bách các nhà làm hoằng pháp giáo dục đạo đức Phật giáo phải cùng chung một trọng trách với tất cả cộng đồng. Bởi lẽ, môi sinh hiện tại đang bị đe dọa trước cơn khủng hoảng rất nghiêm trọng.
Khủng hoảng môi sinh hiện tại sự ô nhiễm môi sinh: Ô nhiễm không khí, nước đất. Chúng hậu quả của các phóng xạ, sự phân hạch, bụi bặm thiên nhiên, cháy rừng, giao thông vận tải, sự thiêu đốt các nguồn khác như trong các trang web sách báo đã ghi lại, các ô nhiễm ấy do các cuộc thí nghiệm bom nguyên tử, các khí hóa học, các hơi độc thoát ra từ các nhà máy, nghiệp, xưởng sản xuất, nạn phá rừng săn bắt bừa bãi… đây cũng hệ quả tất yếu của sự phát triển nhanh k nghệ. Một mặt hệ quả của sự thiếu trách nhiệm đối với môi sinh của con người.
Luận thức Duyên khởi được Đức Phật trình bày bằng các mệnh đề đẳng hệ, giản đơn trong kinh Phật tự thuyết:
“Do cái nàymặt nên cái kiamặt.
Do cái này khôngmặt nên cái kia khôngmặt. Do cái này sinh nên cái kia sinh.
Do i này diệt nên i kia diệt. 12
Chúng ta biết rằng giữa con người môi trường sống luôn một mối quan hệ rất mật thiết, liên tục, tự nhiên không thể tách rời nhau. Chính vậy, khi môi trường bị ô nhiễm thì chúng sẽ ảnh hưởng rất lớn trực tiếp vào sức khỏe cũng như tuổi thọ của con người. Hơn thế nữa, một khi môi trường bị ô nhiễm một cách nghiêm trọng, trái đất nóng lên, suy giảm ozontầng bình lưu làm thay đổi khí hậu toàn cầu… thì mạng sống của tất cả các sinh vật trong đó con ngườitrên hành tinh này sẽ bị đe dọa thể dẫn đến sự tận diệt trong một tương lai gần.
Tch nhim của ngành hoằng pp hin nay là giáo dục Pht tử sống cho phù hợp với thiên nhiên đạo đức để bảo vệ môi trường xanh, sạch cho thế giới. chúng ta những người đã nhận được thông điệp yêu quý từ thiên nhiên, yêu quý rừng cây từ thời Đức

  1. Thích Chơn Thiện,.Phật học khái luận, Ban Giáo dục Tăng Ni ấn hành, 1993, tr. 138.

Phật. Chúng ta phải biết áp dụng lời dạy của Đức Phật trong giáoTứ đế, do đâu chúng ta khổ, Đức Phật dạy: “Sinh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, sầu, bi, khổ, ưu, não khổ, oán gặp nhau khổ, ái biệt ly khổ, cầu không được là khổ. Tóm lại, năm ngủ thủ uẩn khổ”. 13 Chúng ta phải góp sức bảo vệ quả đất.
KẾT LUẬN
Noi gương Tôn giả Phú Lâu Na, nối gót bậc tiền bối thực hiện lời di hun của Đức Thế Tôn: Chúng ta hãy pht lên ngn cờ của bậc thiện trí, hãy truyền dạy giáo pháp cao siêu, hãy mang lại tốt đẹp cho người khác”. Duy trì mạng mạch của đức Như Lai còn mãi ở đời, làm trụ cột vững chắc cho ngôi nhà Phật pháp, góp phần trang nghiêm đạo pháp, lợi lạc quần sanh xây dựng thế giới Sa uế trược thành Tịnh độ thanh lương, thế giới con người toàn chân, thiện, m cứu kính an lạc.
Hoằng pháp về giáo dục đạo đức lấy con người làm đối tượng, trung tâm chính để bàn bạc, nghiên cứu tìm hiểu của hầu hết các chủ thuyết, tôn giáo… cùng với tất cả những vấn đề kinh tế, văn hóa, chính trị, quốc phòng… cũng đều do con người có, suy cho cùng cũng không ngoài mục đích phục vụ cho lợi ích, hạnh phúc của con người. Con người trụ hai vấn đề muôn thuở; Vào thời Đức Pht, đã có ng trăm Triết gia đưa ra nhng lý thuyết nhằm lý giải vấn đề này. Kinh Phạm Võng đề cập đến 62 quan điểm của các triết gia đương thời. thuyết của họ được Đức Phật nhận định: “Như những con lớn ở trong hồ nước nhỏ này, tất cả chúng đều bị bao phủ trong tấm lưới này, dầu chúngnhảy vọt lên, chúng vẫn bị hạn cuộc bao phủđây”. 14
Con người cũng chính kẻ thừa tự tất cả những hành vi, nghiệp lực của mình cả trong ba thời quá khứ, hiện tại vị lai. Tất cả mọi vấn đề hạnh phúc hay khổ đau đều do con người tạo ra thưởng

  1. Tương Ưng V, Đại tạng Kinh Việt Nam, tập 16, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, 1993, tr. 611.
  2. Kinh Phạm Võng, Kinh Trường Bộ I, Đại tạng Kinh Việt Nam, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, 1991, tr. 89.

phạt ngay cho chính cuộc đời mình. Ngoài con người ra không bất cứ Thượng đế hay Thần linh nào cho phép con người lên Th n đàng hay dẫn xuống địa ngục. Như trong Kinh Pháp Đức Phật đã dạy:
“Tự ta gây ác nghiệp Tự ta nhiễm cấu trần Tự ta tránh ác nghiệp Tự ta thanh tịnh tâm Nhiễm tịnh do ta cả
Không ai thanh tịnh ai.15
Hoằng pháp về giáo dục đạo đức theo lời Phật dạy rất thiết thực giúp con người đoạn tận khổ đau trong tận cùng gốc rễ thì không cần phải tranh luận, cầnsự cứu kính. Mở ra một thế giới an bình, chúng sinh an lạc hạnh phúc, chính an sinh hội đến đỉnh cao. Thế giới Sa ngũ trược trở thành cõi Tịnh độ ngay bây giờ tại đây. “Hận thù diệt hận thù, không bao giờ có được. Tình thương diệt hận thù, chân ngàn thu”.
Khuyến nghị
Tại hội thảo này, chúng con xin vài khuyến nghị đóng góp cho công tác hoằng pháp như sau:
    1. Ngành Hoằng pháp Phật giáo trong nước Thế giới cần thống nhất, soạn thảo nội dung, xây dựng các chủ đề, giáo án, giáo trình để thuyết giảng cho hàng Phật tử ở các lứa tuổi từng vùng miền của từng quốc gia sao cho phù hợp để thính chúng hiểu đạo, gắnvới đạo, phát huy chính pháp của Phật.
    2. Chọn giảng đạo hạnh, trình độ, kinh nghiệm, k năng hoằng pháp tốt (kể cả Tăng ni sĩ) để làm công tác hoằng pháp, tuy rằng công tác Hoằng pháp ngày nay rất thuận lợi về phương tiện truyền thông công nghệ mới nhưng nội dung phải chất lượng gắn liền vớitưởng giáo dục đạo đức Phật giáo.


15. Pháp 165.
 
    1. Ban Hoằng pp Trung ương Giáo hi Pht giáo Vit Nam cũng như Ban Hoằng pháp các tỉnh thành trong nước thế giới nên khuyến khích, động viên, tạo mọi điều kiện chính sách đãi ngộ của ngành Hoằng pp hoặc của Trung ương Giáo hi Pht giáo của từng quốc gia, lãnh thổ cho những người làm công tác hoằng pháp (kể cả Tăng ni sĩ).
    2. Khuyến khích chư tôn đức Tăng ni trụ trì các chùa, thiền viện, tu viện, tịnh xá, tịnh thất… trên toàn cầu mở các khóa tu học Phật dài ngày, ngắn ngày trong các mùa, xuân, hạ, thu, đông trong năm dành cho các lứa tuổi không phải chỉ dành cho giới trẻ trong mỗi mùa hè, giảng dạy phải dựa theo giáo trình của Ban Hoằng pháp đề ra, tránh tình trạng xiển dương lệch hướng theo giáo lý của Đức Phật, khiến cho tín đồ Phật tử hoang mang.
    3. Lãnh đạo ngành Hoằng pháp trong nước nước ngoài cần hướng dẫn, khuyến khích hàng sự am hiểu về Phật học đang quảntại các chùa, khuông hội, các đạo tràng do Phật tử thành lập,… những nơi sinh hoạt Phật giáo trên toàn cầu nhưng chưa chư tôn đức Tăng ni trụ trì phải nương vào Tăng đoàn, nương vào Giáo hội Phật giáo của từng quốc gia ấy để thực hiện công tác hoằng pháp đúng theo chính pháp của Phật ba ngôi báu Phật, Pháp, Tăng đúng theo Hiến chương của Giáo hội Phật giáo Hiến pháp của từng quốc gia ấy để cho giáo pháp của Đức Phật được phát triển một cách toàn diện, tránh tình trạng tự phát, tự tuyên truyền, không tổ chức, quản lý của Giáo hội Luật pháp nhà nước, gây ảnh hưởng đến uy tín giá trị của đạo Phật.

***

Thư mục tham khảo
Thích Minh Châu dịch, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, 1993.
Thích Minh Châu dịch-Tăng Chi Bộ Kinh I, II, III, Vin Nghiên cứu Phật học Việt Nam, 1996.
Thích Minh Châu dịch, Trung Bộ kinh I, II, III, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, 1992.
Nhiều tác giả, Giáo dục Phật giáo trong thời hiện đại, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, NXB. Tp. Hồ Chí Minh.
Nguyễn Văn Lê, Nguyễn Sinh Huy, Giáo dục học đại cương, NXB. Giáo dục, 2000.
Thích Chơn Thin, Lý thuyết nhân tính qua Kinh Tng Pàli, NXB. Tp. Hồ Chí Minh.
Thích Chơn Thiện, Tìm vào thực tại, NXB. Tp. Hồ Chí Minh, 1999. Kinh Phạm Võng, Kinh Trường Bộ I, Đại tạng Kinh Vit Nam, Vin
Nghiên cứu Phật học Việt Nam, 1991, tr. 89.
Mai Văn Bính (Chủ biên), Thanh Hà, Nguyễn Thị Thanh Mai, Lưu Thu Thủy, Giáo dục công dân 10, NXB. Giáo dục Việt Nam, 2014.
Phạm Hồng Tung, “Nghiên cứu về lối sống: Một số vấn đề về khái nim và cách tiếp cn. Tp chí Khoa hc Đi hc Quc gia Hà Nội, Khoa họchội Nhân văn, 23 (2007).
Nguyễn Thị Thanh Hà, “Giá trị đạo đức truyền thống dân tộc với việc xây dựng lối sống mới cho sinh viên Việt Nam trong bối cnh toàn cu hóa hin nay, Học vin Chính trị Quốc gia HChí Minh, 2014.
Thích Chơn Thiện, Phật học khái luận, Ban giáo dục Tăng ni ấn hành, 1993.
Hoài Khanh, Giáo dục ý nghĩa cuộc sống, NXB. Ca dao, 1993.

Thích Minh Châu dịch, Kinh Pp Cú, Trường Cao cp Pht học Việt Nam sở II, ấn hành năm 1990.
Ngô Văn Lê, Giáo dục tiến bộ hội, Bài phát biểu tại Hội thảo Giáo dục Phật giáo, ấn hành năm 1995.
Thích Nhất Hạnh, Ðạo Phật hiện đại hóa, NXB. bối, 1968.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây