48. GIÁ TRỊ SỐNG CỦA TĂNG NI SINH

Thứ sáu - 06/12/2019 06:31
GIÁ TRỊ SỐNG CỦA TĂNG NI SINH
 
TS.TT. Thích Nguyên Hạnh
 
  1. ĐẶT VẤN ĐỀ
        Suốt hơn 25 thế kỷ, đạo Phật đã đóng góp phần nào trong vai trò một hệ thống tưởng sống hòa bình, an lạc, hòa hợp, giữ được sự thăng bằng cho tâm thức trong mọi hoàn cảnh. Tiếp nối dòng chảy ấy, Phật giáo Huế cũng chung sức mình trong việc mang tới hạnh phúc cho cuộc đời. Trong thời hiện đại, những vị lãnh đạo Phật giáo đã ý thức rất rõ nguồn năng lực đặc biệt của Tăng ni trẻ, vậy đã mở nhiều trường lớp với nhiều trình độ khác nhau để đào tạo Tăng tài. Được thành lập năm 1997, Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế đã liên tiếp tổ chức các khóa đào tạo cử nhân cho Tăng ni trẻ với đa dạng các môn học từ nội điển đến ngoại điển thuộc nhiều lĩnh vực. Chính những thế hệ trẻ này sẽ nguồn lực lớn cho tương lai đạo pháp dân tộc, nên thể nói rằng định hình được đời sống cho họ định hình được sinh mạng của cả một hệ thống tưởng. Điều này quan trọng cùng.
Những giá trị sống cần phải sự định hướng. Sự định hướng này phụ thuộc vào việc lĩnh hội những chuẩn mực của hội, bên cạnh đó sự tự nhận thức của bản thân. Thế hệ trẻ hôm nay đang 
đi tìm chỗ đứng cho chính mình trong sự tấn công của các nền văn hóa khác biệt, các cám dỗ tha hóa ngày càng hấp dẫn, sự kích thích bản năng ngày càng mạnh tinh vi. Đồng thời, sự tự khẳng định mình một mục tiêu rất đông bạn trẻ thời đại hướng đến. coi đó như ưu thế của tuổi trẻ. Nhưng tự khẳng định theo hướng nào? người cố gắng học tập tốt, cố gắng làm việc hết mình, nỗ lực vươn lên bằng chính sức lực của bản thân. Nhưng cũng người đi ăn chơi bừa bãi, hút thuốc, uống rượu, hành động bạo lực… để tự khẳng định mình. Đây thật sự một mối nguy cho các bậc làm cha mẹ những nhà xây dựng hội.
       Tăng ni sinh là người có tiếng nói và vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn và định hướng đời sống tâm linh đạo đức cho thế hệ trẻ. Người dân xứ Huế đa số là Phật tử, cho nên việc giáo dục định hướng những giá trị tốt đẹp cho thanh thiếu niên có sự đóng góp rất quan trọng của Tăng ni. Với giáotốt đẹp đầy lòng từ bi, mang tính đạo đức nhân văn cao cả, Phật giáo luôn có vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền, giáo dục đời sống tốt đẹp cho hàng Phật tử. Với trách nhiệm đó, Tăng ni sinh phải luôn luôn trau dồi kiến thức, sống đời sống đạo đức nhân văn để tu học và hướng dẫn cho Pht tđi đến con đường Chân - thiện - m.
       Từ những suy nghĩ đó, chúng tôi nhận thấy rằng việc định hướng giá trị sống cho Tăng ni sinh Phật tử việc làm cần thiết trong hội hiện nay. dựa trên nền tảng của giáođạo Phật với những giá trị sống vốn của người con Phật chúng tôi muốn giá trị đó tác động đến một số tầng lớp thanh thiếu niên trong việc định hướng cho bản thân những giá trị sống tốt đẹp.
  1. VÀI ĐẶC ĐIỂM TÂM CỦA TĂNG NI SINH
Tăng ni sinh Học viện Phật giáo người Việt Nam, đa số thuộc lứa tuổi thanh - thiếu niên, đã tốt nghiệp Trung học phổ thông trong hệ thống giáo dục Việt Nam, do vậy, tâm của Tăng ni sinh cũng điểm tương đồng với tâm của thanh thiếu niên Việt Nam.

Nhận thức
       Ở giai đoạn này, các quá trình nhận thức đều phát triển mạnh: độ tinh nhạy của các giác quan tăng lên rệt, tri giác mục đích đạt tới mức cao, quan sát trở nên mục đích, hệ thống toàn diện. duy sâu sắc tính mở rộng, tỏ ra chặt chẽ, nhất quán căn cứ. Bên cạnh đó, lứa tuổi này“tính nhạy bén cao”, khả năng giải gán ý nghĩa cho những ấn tượng cảm tính ban đầu đã những tri thức khoa học đã tích lũy được trong quá trình học. Lứa tuổi nàynăng lực giải quyết những nhiệm vụ trí tuệ ngày một khó khăn, lập luận mang tính logic hơn. Do sự phát triển trí tuệ cao, trong hoạt động nhận thức của mình, Tăng ni sinhthể hoạt động trí tuệ tập trung, căng thẳng, tiến hành hoạt động duy với sự phối hợp của nhiều thao tác duy như: phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa để đi sâu tìm hiểu những môn học.
Hoạt động nhận thức của Tăng ni sinh gắn liền với học tập để hoàn thin bn tn, đi đến Chân - thin - m. Họ luôn luôn ý thức bản thân mình ai, ý thức con đường đang đi trách nhiệm đang làm. Từ đó họ làm chủ những suy nghĩ hành vi của mình một cách tốt đẹp. Họ sốngtưởng nên những suy nghĩ hành động của họ phải tương thích. Họ không những tu tập cho bản thân còn phải ngườiphạm để hướng dẫn những người con Phật tu tập. Nhận thức của Tăng ni sinh thể sâu hơn so với lứa tuổi của họ. Tóm lại, thể nói về mặt nhận thức Tăng ni sinh rất cao, ý thức được việc mình làm, cái nhìn sâu sắc so với những người cùng lứa tuổi.
  1. Đời sống tình cảm của Tăng ni sinh
Tăng ni sinh tuổi phát triển nhất về các loại tình cảm cấp cao: tình cảm trí tuệ, tình cảm thẩm mĩ, tình cảm đạo đức… được biểu hiện rất đa dạng phong phú trong đời sống cũng như trong hoạt động.
Tình bạn cùng giới khác giới ở độ tuổi này đặc biệt phát triển.
Tình bạn giúp cho Tăng ni sinh gắn kết với nhau trong học tập, vui chơi, giải trí cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm trong học tập đặc biệt đời sống tu tập. Do vậy, tình bạn đã làm phong phú tâm hồn nhân cách của Tăng ni sinh hoàn thiện. Tăng ni sinh luôn luôn tinh thần giúp đỡ mọi người, tình yêu bao la rộng lớn, sống mọi người. Họ biết giới hạn của tình cảm bạn khác giới, họ biết các giới luật cần phải thực hành. Với mục đích cao cả, phát triển đời sống tâm linh, xây dựng hoàn thiện nhân cách của con người nên tình cảm của Tăng ni sinh tình cảm trong sáng mang tinh thần của sự từ bi, không sự sở hữu hay chấp thủ mang tính bi ai của các thế hệ trẻ cùng lứa.
  1. Một số phẩm chất nhân cách tiêu biểu của Tăng ni sinh
Xu hướng học tập, tu dưỡng chuẩn bị cho tương lai hoạt động rất bản trong đời sống của Tăng ni sinh hướng cho Tăng ni sinh phát triển nổi bật, họ tưởng rệt, ước mơ, kỳ vọng.
Nhu cầu, mong muốn một hiện tượng tâm lý của con người, đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về một thứ đó. Tùy theo trình độ nhận thức, những đặc điểm tâm sinh lý con người những mong muốn khác nhau.
Mong muốn, nhu cầu hoàn thiện bản thân yếu tố thúc đẩy Tăng ni sinh không ngừng phấn đấu. Một khi Tăng ni sinh nhu cầu cao thì sẽ chi phối đến đời sống tâm nói chung, đến hành vi của các Tăng ni sinh nói riêng. Chính vậy, một khi Tăng ni sinh mong muốn, nhu cầu hoàn thiện bản thân thì sẽ thúc đẩy sự cố gắng học tập, rèn luyện bản thân nhằm đạt được mục đích của mình.
Nhu cầu của Tăng ni sinh phát triển mạnh trong giai đoạn này. Họ cũng những nhu cầu về ăn mặc, ngủ nghỉ, các phương tiện đi lại… tuy nhiên với đời sống của người xuất gia thì những nhu cầu đó chỉ chứ không đầy đủ, không màu mè. dụ Tăng ni nhu cầu về phương tiện đi lại như xe đạp hay xe máy, nhưng họ không cầu mong những chiếc xe sang trọng cầu kỳ của hội, đối với họ 
chiếc xe chỉ phương tiện nên họ không đòi hỏi cao. Hoặc trang phục hằng ngày thì họ cũng chỉ mặc những trang phục phù hợp với đời sống của người xuất gia không chạy theo thời đại của thế hệ trẻ. Ngoài nhu cầu vật chất họ luôn luôn mong muốn hoàn thiện mình hơn, nên họ nhu cầu cao về sự trau dồi nhân cách đạo đức, họ luôn giữ mình trong việc đi đứng, không ngừng học tập, lắng nghe để phát triển trên con đường tu tập.
       Tự đánh giá một trong những phẩm chất quan trọng biểu hiện trình độ phát triển cao của nhân cách. Tự đánh giá Tăng ni sinh một dạng hoạt động nhận thức trong đó đối tượng nhận thức chính bản thân chủ thể, quá trình chủ thể thu nhập, xử thông tin về chính mình. Tự đánh giá, tự ý thức vai trò quan trọng đối với tự nhận thức, tự phê phán điều chỉnh giá trị sống của Tăng ni sinh bởi nhờ đó Tăng ni sinh nhìn nhận ra được chính mình để thái độ, hành vi, hoạt động phù hợp nhằm điều chỉnh, tự giáo dục để hoàn thiện, phát triển bản thân theo tưởng họ đã lựa chọn.
       Tóm lại, một số đặc điểm tâm lý nổi bật của Tăng ni sinh là: trình độ phát triển nhận thức cao, tư duy nhạy bén, linh hoạt, xu hướng nhân cách phát triển rệt biểu hiện trong hoạt động học tập. Tự đánh giá tự ý thức phát triển mạnh mẽ, từ đó giúp Tăng ni sinh tự giáo dục, tự hoàn thiện bản thân theo hướng tích cực, đó sở tạo nên giá trị sống cũng như chi phối đến định hướng giá trị sống của Tăng ni sinh.
  1. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu đã tiến hành khảo sát ngẫu nhiên 200 Tăng ni sinh từ 22 - 30 tuổi đang học tậpHọc viện Phật giáo Việt Nam tại thành phố Huế.
Các phương pháp nghiên cứu chính như: Phương pháp điều tra, Phương pháp phỏng vấn, Phương pháp quan sát, Phương pháp xin ý kiến chuyên gia, Nhóm phương pháp thống toán học.
  1. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
    1. Nhận thức của Tăng ni sinh về sự cần thiết định hướng giá trị sống
       Nhận thức một trong những yếu tố rất quan trọng trong đời sống hàng ngày của con người. Nhận thức đúng thì sẽ giúp con người những hành động đúng. Tuy nhiên, đôi khi nhận thức đúng nhưng vẫn thể hành động sai lầm, còn nhận thức sai lầm thì khó đem lại kết quả đúng. Đối với việc định hướng giá trị sống, Tăng ni sinh nếu như không nhận thức đúng về tầm quan trọng của việc dịnh hướng giá trị sống thì chắc chắn sẽ không suy nghĩ hành động đúng đắn. Để tìm hiểu định hướng giá trị sống của Tăng ni sinh trước hết tìm hiểu về nhận thức ở họ đối với mức độ quan trọng về việc định hướng giá trị sống cho Tăng ni sinh. Kết quả nghiên cứu được thể hiệnbảng sau (bảng 4.1).
Bng 4.1: Nhn thức của Tăng ni sinh vscần thiết phi định hướng giá trị sống
STT Mức độ Số lượng (Số lượng %)
1 Rất cần thiết 151 75,5
2 Cần thiết 49 24,5
3 Thỉnh thoảng cần thiết 0 0
4 Không cần thiết 0 0
Tng số   200 100
 
       Kết quả trên cho thấy, hầu hết Tăng ni sinh đều đánh giá việc định hướng giá trị sống cho Tăng ni sinh với mức độ từ cần thiết trở lên. Trong đó, mức độ rất cần thiết chiếm 75,5% (151 phiếu); mức độ cần thiết chiếm 24,0% (48 phiếu). Ở mức thỉnh thoảng cần thiết và không cần thiết về sự định hướng giá trị sống cho bản thân thì không chủ thể nào lựa chọn. Kết quả nhận thức này còn được thể hiện ràng hơn trong những suy nghĩ về lý tưởng sống của bản thân, đa số Tăng ni sinh đều suy nghĩ rằng: “Sống phải có ước mơ hoài bão hãy biến những ước mơ hoài bão đó thành hiện thc, “Thích đem niềm an lạc, hạnh phúc đối vi mọi người, nghiên cứu giáo lý Phật giáo để áp dụng vào đời sống hiện tại”, “Hạnh phúc là biết cho đi hy sinh cho người khác”, “Nỗ lực tu học để hoàn thiện nhân cách đạo đức của bản thân, góp phần xây dựng một xã hội lành mạnh” Qua đó cho chúng ta thấy rằng, đa số Tăng ni sinh đều nhận thức đúng mức độ cần thiết phải định hướng giá trị sống cho Tăng ni sinhtất cả đều có những suy nghĩ đúng đắn, thể hiện các giá trị sống luôn luôn được họ quan tâm.
       Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi có đưa ra các bài tập tình huống thể hiện nội dung của các giá trị (chính trị tưởng, ứng xử, học tập…), qua kết quả phân tích cho thấy đa số Tăng ni sinh đều lựa chọn các giá trị phù hợp với đạo đức nhân cách, phù hợp với ứng xử chung của mọi người. dụ họ quan tâm học tập khi được thầy ra bài, giúp đỡ khi gặp người khó khăn, hoặc nhiệt tình tham gia các hoạt động từ thiện của chính quyền địa phương. Qua đó để khẳng định rằng đa số Tăng ni sinh đều định hướng tốt các hành động tương thích với những sự lựa chọn đó.
Hầu hết Tăng ni sinh suy nghĩ hướng sống của bản thân dựa vào nền tảng giáo lý của đạo Phật để hoàn thiện nhân cách đạo đức, để đem lại hạnh phúc cho mọi người. Điều này cho thấy giáoPhật giáo ảnh hưởng rất lớn đến suy nghĩ về hướng sống của Tăng ni sinh. Đa số Tăng ni sinh đều trong quá trình tu tập nghiên cứu giáonên đa phần suy nghĩ hướng sống về nội dung giáocăn bản của đạo Phật (45,0%), dựa trên nền tảng căn bản về giáo lý để hoàn thiện nhân cách của một con người (37,5%) rồi từ đó mới góp phần xây dựng hội (11,0%). Điều này phù hợp với quá trình giáo dục của Phật giáo, bản thân của mỗi người phải sống tốt, tu sửa thói tật xấu, phát triển nhân cách hoàn thiện rồi mới được đi giảng dạy giáo hướng dẫn Phật tử tu tập.
    1. Đánh giá về mức độ định hướng giá trị sống của Tăng ni sinh
Bng 4.2. Mức độ định hướng giá trị sng của Tăng ni sinh
 
 
STT Mức độ định hướng giá trị sống Số lượng %

1
Tôi xác định rõ nhng giá trsng mà tôi muốn có.
Tôbiết rõ  tômuốn  trở  tnh  người như thế nào.

130

65,0


2
Tôi có một hình dung chung về nhng giá trị sống, những yêu cầu ở một con người tôi muốn trong tương lai nhưng những hình dung này lúc chưa ràng.

59


29,5

3
Tôi chưa tưởng tượng được trong tương lai tôi slà người như thế nào. Tôi chưa xác định được những giá trị sống tôi muốn có.
11

5,5
Tng số   200 100

       Kết quả khảo sát cho thấy, phần lớn Tăng ni sinh đều xác định những giá trị sống cho bản thân với nhiều mức độ khác nhau. Cụ thể ở mức độ “Tôi xác định những giá trị sống tôi muốn có” với 130 ý kiến chiếm 65,0%. Ở mức độ “Tôimột hình dung chung về những giá trị sống, những yêu cầumột con người tôi muốntrong tương lai nhưng những hình dung nàylúc chưa ràng” 59 ý kiến chiếm 29,5% cuối cùngmức “Tôi chưa tưởng tượng được trong tương lai tôi sẽ sống như thế nào. Tôi chưa xác định được những giá trị sống tôi muốn có” với 11 ý kiến chiếm 5,5%. Kết quả này cho thấy, cần tăng cường hơn nữa việc giáo dục giúp họ sự định hướng giá trị sống để làm phương hướng cho học tập, rèn luyện tu tập.
    1. Định hướng giá trị sống của Tăng ni sinh nhìn chung
       Qua kết quả cho thấy, đa số Tăng ni sinh đều sự định hướng giá trị sống tương đối tốt với Điểm trung bình chung 3,97/5. Tuy nhiên nhìn vào các mặt của định hướng giá trị sống thì các giá trị liên quan đến quan hệ ứng xử được Tăng ni sinh lựa chọn nhiều  cho kết quả cao với điểm trung bình nhóm 4,5 tiếp theo nội dung học tập với điểm trung bình nhóm 4,05, tiếp đến các giá trị liên quan đến sinh hoạt với điểm trung bình nhóm3,67 cuối cùng nội dungtưởng chính trị ít được sự lựa chọn nhất trong bốn nội dung với điểm trung bình chung 3,64. Qua đó để cho chúng ta cái nhìn chung tổng quan về các giá trị sống Tăng ni sinh lựa chọn. Họ quan tâm rất nhiều đến phần quan hệ ứng xử, họ đánh giá cao các giá trị này, điều này cũng phù hợp với đời sống của người xuất gia khi chú trọng đến phần ứng xử giữa các mối quan hệ, với giáonhà Phật chú trọng xây dựng tình thương, lòng từ bi của con người. tiếp theo vấn đề học tập, đa số Tăng ni sinh đều mong muốn học tập thật tốt để tri thức, hiểu biết giúp đỡ mọi người, góp phần xây dựng đời sống hội tốt đẹp hơn, để học tập tốt thì họ luôn luôn đặt ra các mục tiêu hoàn thành tốt mục tiêu đã đề ra. Với các giá trị liên quan đến sinh hoạt họ cũng sự lựa chọn nhất định với các giá trị thiết thực cuộc sống thì họ luôn đề cao, mong muốn hoàn thiện bản thân, xây dựng môi trường sống an lạc, tình cảm anh em tốt đẹp hơn, coi trọng gia đình, bản thân. Đa số Tăng ni sinh không chú trọng nhiều đến tưởng chính trị, họ ít quan tâm đến các vấn đề trong hội.
Bng 4.3: Định hướng giá trị sng của Tăng ni sinh nhìn chung
Các mặt đinh hướng giá trị sống
Các giá trị sống

ĐTB

S.D
tưởng chính trị 1. Mong muốn hiểu biết vấn đề quốc tế để sự đóng góp xây dựng thế giới tốt đẹp 3,53 0,94
  2. Tôi luôn tâm niệm sống phải theo pháp luật của nhà nước thực hiện tốt chính sách, pháp luật
3,84

0,77
  3. Tôi nghĩ rằng mình cần phải rèn luyện, trau dồi về đạo đức, lối sống 4,47 0,61
 
 
4. Tôi nghĩ rằng mình phải trách nhiệm đấu tranh với thói tật xấu trong hội 3,84 0,85
  5. Tôi luôn xácđịnh sng phi hoàn thành tt ng- hĩa vca người công dân 4,24 0,63
  6. Tôi dự định trong tương lai phải nghĩ mọi cách để làm giàu 1,93 0,80
  Điểm chung của nhóm 3,64  







Quan hệ ứng xử
7. Tôi xác định sống phải trung thực, thẳng thắn, công bằng với mọi người 4,58 0,56
8. Tôi luôn tâm niệm sống cần phải luôn giúp đỡ mọi người 4,46 0,51
9. Tôi nghĩ rằng sống cần coi trọng tình cảm cố gắng sống tốt với mọi người trong chùa 4,56 0,58
10. Tôi nghĩ sống phải luôn thân thiện, vui vẻ với mọi người 4,48 0,55
11. Tôi xác định trong quan hệ ứng xử mình cần phải tôn trọng thương yêu người khác 4,56 0,58
  12. Tôi luôn xác định mình cần phải biết tha thứ cho mọi người 4,44 0,65
  Điểm chung của nhóm 4,51  




Học tập
13. Tôi nghĩ rằng mình cần phải học tập để tri thức, hiểu biết 4,10 0,62
14. Tôi xác định luôn phấn đấu học tập để góp phần xây dựng hội tốt đẹp hơn 4,08 0,72
15. Tôi nghĩ rằng để hoàn thành tốt công việc học tập phải kế hoạch mục tiêu 3,96 0,78
16. Tôi xác định để học tập tốt cần học hỏi thầy trao đổi với bạn 4,04 0,76
Điểm chung của nhóm 4,05  
 
 











tưởng sống
17. Tôi nghĩ rằng trong cuộc sống sức khỏe quan trọng nhất 4,53 0,52
18. Tôi đã xác định mình nên sống thoải mái theo sở thích 2,89 0,93
19. Tôi luôn tâm niệm tiền quan trọng nhất. tiền tất cả 2,15 0,84
20. Tôi nghĩ rằng mình sống phải vị trí trong hội 2,34 0,98
21. Tôi luôn suy nghĩ gia đình quan trọng nhất 3,50 0,82
22. Tôi xác định, hạnh phúc biết cho đi hy sinh người khác 4,40 0,68
23.  Tôi  nghĩ  rằng  sống  cần  phải    trách nhiệm đối với bản thân 4,27 0,74
24. Tôi nghĩ rằng sống cần quan tâm, trách nhiệm đến gia đình 3,79 0,78
25. Sau này sống riêng, tôi xác định sẽ trách nhiệm cao trong dạy bảo học trò xây dựng chùa
4,56

0,59
26. Tôi luôn nghĩ rằng mình phải sống tưởng, hoài bão 4,35 0,68
  Điểm chung của nhóm 3,67  

       Và để hiểu hơn chúng ta sẽ phân tích từng giá trị Tăng ni sinh lựa chọn. Nhìn vào kết quả khảo sát (bảng 4.3) cho thấy, sáu giá trị sống đa số Tăng ni sinh lựa chọn nhiều nhất “cần phải trung thực, thẳng thắn, công bằng” điểm trung bình 4,58, “Cần phải tôn trọngthương yêu người khác” điểm trung bình 4,56, “Tôi nghĩ rằng sống cần coi trọng tình cảm cố gắng sống tốt với mọi người trong chùa” điểm trung bình 4,56, “Sau này sống rng, tôi xác định sẽ trách nhiệm cao trong dạy bảo học tròxây dựng chùa” điểm trung bình 4,56, “sống phải biết giúp đỡ mọi người” điểm trung bình 4,48 cuối cùng “cần phải rèn luyện trau dồi về đạo đức, lối sống” điểm trung bình 4,47. Qua đó, cho chúng ta thấy rằng đa số Tăng ni sinh đều định hướng tốt về giá trị như có tấm lòng tôn trọng và thương yêu người khác, luôn đề cao tình cảm anh em sống tốt với mọi người trong chùa điều đó phù hợp với giáo lý, tưởng giáo dục của đạo Phật. Đa số Tăng ni sinh đều định hướng giá trị sống hướng về ngôi chùa nơi mọi người cùng chung sống tu tập xem đó nơi quan trọng nhất, luôn giúp đỡ quan tâm thương yêu mọi người quan tâm đến mọi người trong gia đình mọi người ý thức được rằng cần phải rèn luyện trau dồi đạo đức, lối sống, xem trọng các giá trị đạo đức sống như cần phải trung thực, thẳng thắn, sống phải biết hy sinh cho người khác. Đó sáu giá trị sống Tăng ni sinh sự định hướng nhiều nhất cũng phù hợp với đạo đức của người con Phật, hạnh phúc biết cho đi hy sinh cho người khác, mình mọi người, điều đó phù hợp với đạo đức lối sống của hội.
       Kết quả khảo sát cho thấy, bốn giá trị Tăng ni sinh định hướng ít nhất trong 26 giá trị sống của bản thân, giá trị ít lựa chọn nhất đó “trong cuộc sống phải nghĩ mọi cách để làm giàu” với điểm trung bình là 1,93, Tôi luôn tâm niệm tiền là quan trọng nhất. Vì có tiền là tất cả” với điểm trung bình2,15, “mình phải vị trí trong hội” với điểm trung bình 2,34 “nên sống thoải mái theo sở thích” với điểm trung bình 2,89. Qua đó, cho chúng ta thấy rằng đa số Tăng ni sinh tưởng không coi trọng các giá trị vật chất như đồng tiền, không tham cầu địa vị tronghội, ít quan tâm kinh tếđặc biệt là đa số mọi người đều cho rằng không nên sống thoải mái theo sở thích của mình. Đó là điều đáng trân trọng phù hợp với giáo đạo Phật, sống cuộc sống giản dị không ham cầu địa vị vinh quang ngoài hội,đâysự khác biệt giữa Tăng ni sinhcác bạn cùng lứa tuổi ngoàihội.
    1. Định hướng giá trị sống của Tăng ni sinh theo năm xuất gia tu học
Bng 4.4: Định hướng giá trị sng của Tăng ni sinh theo năm xuất gia tu học
 
 

STT

Định hướng giá trị sống
Năm xuất gia
1995-2000 2001-2005 2006-2010
ĐTB ĐTB ĐTB
1 tưởng chính trị 3,72 3,60 3,65
2 Quan hệ ứng xử 4,67 4,48 4,43
3 Học tập 4,15 4,03 4,11
4 tưởng sống 3,59 3,67 3,79
  Tng 4,03 3,94 3,99

       Qua kết quả bảng 4.4 cho thấy Tăng ni sinh xuất gia từ năm 1995 - 2000 điểm trung bình chung cao nhất so với năm 2001 - 2005 2006 - 2010 với điểm trung bình chung lần lượt 4,03, 3,94 3,99. Nhìn chung các giá trị lựa chọn không nhiều thay đổi khi đa số điểm trung bình chung của quan hệ ứng xử cao nhất, tiếp đến học tập sinh hoạt. Tuy nhiên, với lứa tuổi xuất gia từ năm 1995 - 2000 lại điểm trung bình chungtưởng chính trị cao hơn so với điểm trung bình chung của sinh hoạt, xếp thứ ba trong bốn nội dung giá trị định hướng. Quan hệ ứng xử với điểm trung bình chung 4,67, tiếp theo học tập 4,15, tiếp đến tưởng chính trị điểm trung bình chung 3,72 cuối cùng sinh hoạt với điểm trung bình chung 3,59. Điều này cho thấy Tăng ni sinh xuất gia tu học lâu thì họ quan tâm nhiều đến đời sống chính trị hơn, với độ tuổi lớn hơn, thời gian tu học lâu hơn, với nhiều công việc Phật sự hoằng pháp vào cuộc sống nên những Tăng ni sinh này quan tâm nhiều đến đời sống hội, tư tưởng chính trị để giáo dục mọi người tốt hơn. để cái nhìn ràng hơn chúng ta sẽ phân tích các giá trị họ lựa chọn.
       Kết quả điều tra cho chúng ta thấy đa số Tăng ni sinh đều xem trọng các giá trị giống như phần phân tích ở phần định hướng giá trị sống của Tăng ni sinh nhìn chung. Tuy nhiên tùy theo năm xuất gia tu học những sự lựa chọn khác nhau. Đối với những người xuất gia tu học lâu năm thì họ sự nhận thức sâu sắc với sự lựa chọn cao 
hơn so với những Tăng ni sinh xuất gia sau. dụ Tăng ni sinh xuất gia năm 1995 - 2000 lựa chọn giá trị “Tôi luôn xác định mình cần phải biết tha thứ cho mọi ngườivới điểm trung bình 4,59, trong khi đó Tăng ni sinh xuất gia từ năm 2000 - 2005 với điểm trung bình 4,42, còn đối với Tăng ni sinh xuất gia từ năm 2005 - 2010 với điểm trung bình 4,41. Hoặc với giá trị “Tôi nghĩ rằng sống cần coi trọng tình cảm cố gắng sống tốt với mọi người trong chùa” với điểm trung bình 4,62 của Tăng ni sinh xuất gia năm 1995 - 2000 điểm trung bình 4,55 của Tăng ni sinh xuất gia năm 2000 - 2005 Tăng ni sinh xuất gia năm 2005 - 2010 với điểm trung bình 4,53. Đối với các giá trị như tiền bạc địa vị họ cũng ít quan tâm hơn so với những người mới xuất gia. dụ: “Tôi luôn tâm niệm tiền quan trọng nhất. tiền tất cả” đối với Tăng ni sinh xuất gia năm 1995 - 2000 với điểm trung bình 2,07, Tăng ni sinh năm 2000 - 2005 điểm trung bình 2,14 điểm trung bình 2,28 với Tăng ni sinh xuất gia từ năm 2005 - 2010. Qua đó để cho chúng ta thấy rằng Tăng ni sinh xuất gia lâu năm thì sự lựa chọn cao hơn so với Tăng ni sinh xuất gia sau này.
    1. Định hướng giá trị sống của Tăng ni sinh dưới góc độ giới tính
       Ở góc độ giới tính kết quả nghiên cứu cho thấy, nam giới sự định hướng giá trị sống tốt hơn nữ giới. Cụ thể ở ba mặttưởng chính trị, quan hệ ứng xử học tập thì nam giới điểm trung bình cao hơn so với nữ. Qua bảng kết quả chúng ta thấy điểm trung bình chung của nam giới 4,02 còn điểm trung bình chung nữ giới 3,94. Về mặt tưởng chính trị nam giới điểm trung bình chung 3,72, nữ giới 3,60, quan hệ ứng xử nữ giới 4,46 trong khi đó nam giới 4,62, ở mặt học tập nam giới điểm trung bình chung 4,12 còn nữ giới 4,02. Tuy nhiên các giá trị liên quan đếntưởng sống thì nữ giới lại điểm trung bình chung cao hơn 3,70 so với 3,63 của nam giới. để hiểu hơn chúng ta sẽ đi sâu phân tích từng giá trị giữa nam giới nữ giới.
Việc lựa chọn các giá trị sống giữa nam nữ những đặc điểm khác nhau, điều đó được thể hiện qua số liệu điều trabảng 4.6.
 
Đối với nam thì các giá trị họ định hướng tốt nhất được ưu tiên lựa chọn đó “Tôi nghĩ rằng sống cần coi trọng tình cảm cố gắng sống tốt với mọi người trong chùa” với điểm trung bình 4,78; tiếp đến giá trị “Sau này sống riêng, tôi xác định sẽ có trách nhiệm cao trong dạy bảo học trò xây dựng chùa” với điểm trung bình 4,76, cuối cùng của nhóm được định hướng tốt đó “Cần phải trung thực, thẳng thắn, công bằng” với điểm trung bình 4,73. Bên cạnh các giá trị được định hướng tốt thì còn các giá trị ít được lựa chọn đó “Mình phải vị trí trong hội” với điểm trung bình 1,99, tiếp đến giá trị ít được định hướng đó “Trong cuộc sống phải nghĩ mọi cách để làm giàu” với điểm trung bình 1,91 thấp nhất “Tiền quan trọng nhất. tiền tất cả” với điểm trung bình 1,82.
Bng 4.5: Định hướng giá trị sng của Tăng ni sinh nhìn từ góc độ giới tính

STT

Định hướng giá trị sống
Giới tính
Nam Nữ
ĐTB ĐTB
1 tưởng chính trị 3,72 3,60
2 Quan hệ ứng xử 4,62 4,46
3 Học tập 4,12 4,02
4 tưởng sống 3,63 3,70
  Tng 4,02 3,94
 
  1. KẾT LUẬN KIẾN NGHỊ
    1. kết luận
- Về nhận thức: Đa số Tăng ni sinh sự nhận thức rất tốt về định hướng giá trị sống cho bản thân kết quả điều tra cho thấy những suy nghĩ vềtưởng sống của bản thân của Tăng ni sinh rất tốt, đa số đều suy nghĩ chung như: “Nỗ lực tu học để hoàn thiện nhân cách đạo đức của bản thân, góp phần xây dựng một hội lành mạnh, luôn luôn hướng m vvic tt, luôn cân nhc và suy nghĩ vnh động lời nói của bn tn với mi người xung quanh, “ý thức mình một người tu sĩ, sống làm những việc lợi mình, lợi người, luôn lng nghe và chia s, Sng là phải biết giúp đỡ gia đình, thương yêu mi người
- Về sự quan tâm các vấn đề trong cuộc sống: Đa số Tăng ni sinh quan tâm nhiều đến vấn đề đó “quan tâm đến đời sống tu tập của bn tn, tiếp đến là quan m đến vấn đhọc vấnvà cui cùng là quan m đến bn bè. Đó là các vấn đmà Tăng ni sinh quan m nhiều nhất. vấn đề tiền bạc, chính trịhội cũng như địa vị tronghội rất ít Tăng ni sinh xem trọng. Đây cũng vấn đề dễ hiểu họ dành nhiều thời gian cho việc tu học, không đặt nặng vấn đề kinh tế địa vị, họ luôn luôn mong muốn chia sẻ giúp đỡ mọi người vượt qua mọi khổ đau trong cuộc sống. Tuy nhiên, trong thời đại ngày nayhội nhiều thay đổi, điều này đòi hỏi Tăng ni sinh phải quan tâm nhiều hơn các vấn đề hội, quốc tế để thể dễ dàng thích ứng trong việc truyền dạy giáocũng như hướng dẫn giúp đỡ mọi người.
- Về định hướng giá trị sống: Đa số Tăng ni sinh đều định hướng tốt về giá trị như tấm lòng tôn trọng thương yêu người khác, luôn đề cao tình cảm sống tốt với mọi người trong chùa điều đó phù hợp với giáo lý, tưởng giáo dục của đạo Phật. Đa số Tăng ni sinh đều định hướng giá trị sống hướng về ngôi chùa nơi mọi người cùng chung sống tu tập xem đó nơi quan trọng nhất, luôn giúp đỡ quan tâm thương yêu mọi người quan tâm đến mọi người trong gia đình mọi người ý thức được rằng cần phải rèn luyện trau dồi đạo đức, lối sống, xem trọng các giá trị đạo đức sống như cần phải trung thực, thẳng thắn, sống phải biết hy sinh cho người khác. Đó sáu giá trị sống Tăng ni sinh sự định hướng nhiều nhất cũng phù hợp với đạo đức của người con Phật hạnh phúc biết cho đi hy sinh cho người khác, mình mọi người điều đó phù hợp với đạo đức lối sống của hội. Tăng ni sinh không xem trọng việc làm kinh tế, không tìm mọi cách để nhiều tiền, không tham cầu địa vị hội họ luôn sống theo khuôn khổ của nhà chùa xem việc sống theo sở thích của nhân điều không nên.
 
Định hướng giá trị sống của Tăng ni sinh theo năm tu hành thì không khác biệt nhiều giữa các năm tu học. Tuy nhiên những người xuất gia tu học từ những năm 1995 - 2000 thì suy nghĩ định hướng tốt hơn so với các Tăng ni sinh xuất gia sau này, ngoài việc coi trọng các giá trị liên quan đến quan hệ ứng xử đạo đức của con người, thì họ cũng rất coi trọng các giá trị liên quan đến chính trị hội các vấn đề quốc tế.
Định hướng giá trị sống giữa nam nữ cũng những đặc điểm khác nhau. Đối với nam thì họ luôn đề cao tình anh em sống tốt với mọi người trong chùa, sẽ trách nhiệm cao trong dạy bảo học trò xây dựng chùa luôn nghĩ rằng mình cần phải trung thực, thẳng thắn, công bằng. Đối với nữ thì họ xác định mình cần phải tôn trọng thương yêu người khác, xem sức khỏe quan trọng nhất, bên cạnh đó họ xác định mình cần phải trung thực, thẳng thắn, công bằng.cũng như nam giới họ ít quan tâm các giá trị như vị trí trong hội, tiền bạc.
Tóm li, Tăng ni sinh coi trng các giá trsng liên quan đến quan hệ ứng xử, tiếp theo học tập, sinh hoạt tưởng chính trị giá trị họ lựa chọn thấp nhất. Điều này đòi hỏi chúng ta cần phải sự điều chỉnh định hướng thêm các giá trị thuộc tưởng chính trị cho Tăng ni sinh để phù hợp với thời đại hội ngày nay.
    1. Kiến nghị
Để giúp Tăng ni sinh định hướng được các giá trị sống một cách hài hòa đúng đắn, phù hợp với đời sống tu tập, xu thế thời đại nhưng vẫn đậm đà bản sắc dân tộc trong điều kiện sống cụ thể ngày nay, chúng tôi xin đưa ra một số biện pháp sau:
      1. Đối với hội
Các nhà quản lý, những người chức trách trong hội cần tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa trong việc tổ chức các hoạt động của các tổ chức, đơn vị trong Giáo hội Phật giáo. Các tổ chức, đoàn thể trong hội nên sự phối hợp mật thiết hơn nữa với tổ chức Giáo hội Phật giáo, tạo điều kiện thuận lợi để thể tổ chức các hoạt động hội hữu ích.
 
Mỗi thành viên trong hội phải luôn ý thức xây dựng bảo vệ tổ quốc, giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa truyền thống, các phong tục, tập quán tín ngưỡng giá trị của dân tộc. Đồng thời phải kiên quyết đấu tranh chống lại các tệ nạn hội, lên án các hoạt động tiêu cực trong hội.
      1. Đối với Học viện Phật giáo Việt Nam, người đảm nhiệm công tác giảng dạy giáo hướng dẫn tu học
       Chương trình giáo dục Tăng ni sinh cần định hướng mục đích: tạo môi trường, điều kiện cho Tăng ni sinh tu dưỡng đạo đức, nâng cao nhận thức về bản chất giá trị đời sống, rèn luyện bản thân để khả năng xây dựng đời sống an lạc, thông qua lý tưởng của một người con Phật.
Điều trước tiên, Tăng ni sinh cần một môi trường sống vui tươi lành mạnh. Xây dựng môi trường cho Tăng ni sinh điều quan trọng bậc nhất. Ngoài hội quá nhiều sân chơi cho thanh - thiếu niên, đây đối tượng số lượng đông đảo, dễ dãi nhiều thị hiếu. Những sân chơi thiếu lành mạnh dễ hấp dẫn thanh - thiếu niên làm suy thoái nhân cách của một bộ phận thanh - thiếu niên. Môi trường ở trong chùa thì luôn lành mạnh cộng với bạn hữu hiền lành, với người thầy mẫu mực, sẽ môi trường sinh hoạt tốt cho Tăng ni sinh.
       Tăng ni sinh cần được trang bị ba lãnh vực: Tri thức, kỹ năng thái độ ứng xử, trong đó nhấn mạnh huấn luyện những kỹ năng sống như kỹ năng kiểm soát bản thân, kiểm soát tâm lý, kỹ năng ứng xử hài hòa, kỹ năng tập luyện sức khỏe. Đây những kỹ năng đạo Phật nhiều ưu thế. dụ như giáo dục kỹ năng Thiền định, một trong những kỹ năng được coi giải pháp nâng cao chất lượng sống cho con người thời đại, vốn đối mặt quá nhiều căng thẳng áp lực trong công việc, học tập trong cảm xúc. Tập luyện khí công, yoga… cũng điều làm cho Tăng ni sinh thích thú hiệu quả rất cao cho sức khỏe.
Cần xây dựng một chương trình sinh hoạt linh động để hấp dẫn 
Tăng ni sinh, cân bằng các lãnh vực: Đạo lý, thực tập, giao lưu, giải trí, âm nhạc… Nói chung, một chương trình hấp dẫn đòi hỏi phải phù hợp với tâm sinh Tăng ni sinh, phù hợp với những ước cao đẹp của tuổi trẻ; những phương thức rèn luyện cần phải thực hiện để khi một Tăng ni sinh đến với một ngôi chùa sẽ cảm hứng, nhận được những lợi ích không nơi nào được.
Thường xuyên nâng cao nhận thức cho Tăng ni sinh về các giá trị sống. Để làm được điều này thì trong khi giảng dạy giáocần phải sự kết hợp với thực tiễn cuộc sống, kết hợp với các giáokhác liên hệ đến các chuẩn mực đạo đức, lối sống trong hội. Tổ chức cho Tăng ni sinh tham dự các buổi pháp đàm, pháp thoại, các buổi thuyết giảng; mở các lớp, các khóa tu học; giới thiệu kinh, sách, các băng thuyết giảng để Tăng ni sinh học hỏi tìm hiểu thêm.
       Tổ chức các hoạt động học tập phong phú, đa dạng, lành mạnh hữu ích cho Tăng ni sinh tham gia. Chẳng hạn như tổ chức cho Tăng ni sinh đi tham quan các chùa, các di tích lịch sử, văn hóa, các trung tâm nuôi dạy trẻ mồ côi, trung tâm chăm sóc trẻ khuyết tật đặc biệt các trung tâm cải tạo, giáo dưỡng trẻ phạm pháp. Qua các chuyến tham quan ấy giúp Tăng ni sinh hiểu thêm về lịch sử, văn hóa, biết thêm về công hạnh tu hành của các vị tổ sư, củng cố niềm tin cho họ. Giúp cho Tăng ni sinh nhận thức được tầm quan trọng của các giá trị sống. Cũng thể tổ chức cho Tăng ni sinh tham gia các hoạt động từ thiện như thăm cứu trợ đồng bào bị thiên tai, chăm sóc người bệnh, thăm các gia đìnhcông lao, thành tích với đạo, với hội, tham gia các hoạt động xóa chữ cho trẻ em vùng sâu, vùng xa… hay tổ chức hoạt động bảo vệ môi trường như trồng cây xanh, làm vệ sinh nơi công cộng… Thông qua các hoạt động này làm cho Tăng ni sinh thêm vốn sống, tăng thêm lòng thương yêu và sự cảm thông đối với mọi người, giúp cho Tăng ni sinh mở rộng quan hệ giao tiếp, hiểu nhau nhiều hơn gắnvới nhau hơn, đồng thời củng cố những hành vi ứng xử tốt, phát huy những giá trị tốt đẹp trong mỗi Tăng ni sinh.
       Tổ chức các hoạt động lao động học tập một cách nghiêm túc, 
khoa học cho Tăng ni sinh. Kết hợp lao động, học tập với nghỉ ngơi hợp lý, lành mạnh, tránh gây trình trạng căng thẳng hoặc nhàm chán cho Tăng ni sinh.
       Giáo dục Tăng ni sinh bằng hình thức nêu gương. Những người lớn, thế hệ đi trước phải làm gương cho Tăng ni sinh noi theo. Giáo dục bằng hình thức nêu gương một hình thức giáo dục đem lại chất lượng hiệu quả cao. Bởi thông qua người thực, việc thực trong đời sống hàng ngày sẽ làm cho các đạo lý, các chuẩn mực đạo đức trở nên sống động hơn sức cảm hóa mạnh mẽ hơn. Chính thực tiễn sống động ấy đã gieo vào trong tâm thức con người, tạo nên một sức mạnh hình đánh thức lương tâm của họ, thúc giục họ tự cải thiện đời sống của bản thân theo hướng các giá trị sống cao thượng. Những tấm gương sáng về lối sống đạo đức trong hiện thực không chỉ tác động lên mặt nhận thức còn tác động lên cả mặt tình cảm hành động của cá nhân, làm cho cá nhân phải tự nhìn lại chính mình chuyển đổi dần dần những ý nghĩ, lời nói hành động của bản thân từ xấu trở nên tốt, từ tiêu cực đến tích cực, từ bi quan thành lạc quan.
Trong quá trình truyn thgiáo lý cho Tăng ni sinh, cn phi tchức công tác kiểm tra, đánh giá một cách nghiêm túc thường xuyên hơn. Không những truyền thụ giáo cho Tăng ni sinh còn phải hướng dẫn cho Tăng ni sinh phương pháp tự học, tự nghiên cứu cách thức vận dụng giáo vào trong đời sống hằng ngày, đó mới vấn đề quan trọng.
      1. Đối với Giáo hội Phật giáo tỉnh Thừa Thiên Huế
       Có các chương trình ràng về việc giáo dục định hướng giá trị sống cho Tăng ni sinh. Xây dựng hệ thống giáo dục thống nhất, vừa áp dụng giáo đạo Phậtkết hợp những hoạt động thực tiễn của hội để giúp Tăng ni sinh cái nhìn thực tiễn hơn. Nâng cao nhận thức về các giá trị sống cho Tăng ni sinh, bằng các buổi pháp thoại, tọa đàm, sinh hoạt tập thể trao đổi các vấn đề liên quan đến các Tăng ni sinh hiện nay. Liên hệ mật thiết với các chùa nơi Tăng ni sinh đang tu học để sự giám sát quản lý, kịp thời điều chỉnh các hành vi không đúng không phù hợp của Tăng ni.
      1. Đối với nhà chùa
       Cần định hướng cho Tăng ni sinh con đường đi đúng đắn trên phương diện kết hợp giữa đạo đời. tưởng kết hợp với thực tiễn của hội. Cần con đường giáo dục căn bản từ khi mới vào xuất gia, từ đó hình thành nên các giá trị căn bản thiết thực. Tổ chức nhiều hoạt động từ thiện hoặc thăm quan để giúp Tăng ni sinh cái nhìn thiết thực vào đời sống.
Trên nền tảng giáo căn bản của Phật giáo cần phải kết hợp các nội dung liên quan đến các mặt hội, quốc tế giúp cho Tăng ni sinh cái nhìn thiết thực, để từ đó thể hoằng pháp tốt hơn, nắm bắt những thay đổi của hội để giúp đỡ hướng dẫn mọi người.
      1. Đối với bản thân Tăng ni sinh
       Bản thân các Tăng ni sinh phải hình thành cho mình một niềm tin chân chính đối với đạo Phật. Muốn được niềm tin chân chính thì không còn con đường nào khác ngoài việc tích cực, tự giác học tập, nghiên cứu giáo của đạo Phật. Phải luôn luôn tinh thần cầu tiến, ham học hỏi, học không ngừng, họcmọi nơi mọi lúc học với tất cả mọi người. Đồng thời phải không ngừng tự rèn luyện các phẩm chất đạo đức, những thói quen, lối sống tốt cho bản thân. Cố gắng vận dụng những giáo đã học vào trong đời sống hằng ngày. Cần phải nhận thức ràng về giá trị sống, cần phải xem đó nền tảng để xây dựng cuộc sống. Với tinh thần nhập thế của mình, Phật giáo vai trò quan trọng trong việc xây dựng đạo đức cho thế hệ thanh niên. để làm được điều đó đòi hỏi mỗi bản thân Tăng ni sinh tấm gương.


 
***




Tài liệu tham khảo
Nguyn Văn Bắc (2013), Giáo trình Tâm lý hc đi cương, Nxb. Đi học Huế.
Trương Chi (2014), Giá trị cuc đời, Nxb. Hng Đức.
Dũng (2000), Từ điển Tâm học, Nxb. Khoa học hội, Nội.
Dương Tự Đam (1996), Định hướng giá trị của thanh niên-sinh viên trong snghiệp đi mới ở Việt Nam, Lun án PTS Khoa học Triết học, Nội.
Đỗ Ngọc (1993), Một số biểu hiện định hướng giá trị của thanh niên sinh viên hiện nay, Luận văn cao học phạm tâm lý, Nội.
Phạm Minh Hạc (2012), Giá trị học cơ sở luận góp phần đúc kết, xây dng giá trị chung của người Việt Nam hiện nay, Nxb. Dân Trí.
Thích Nht Hnh (2010),Tuổi trtình yêu lý tưởng, Nxb. Phương Đông.
Hòa thượng Thích Thiện Hoa (2002), Phật học phổ thông (quyển I.II.III.), Nxb. Tôn giáo.
Văn Hồng - Ngọc Lan - Nguyễn Văn Thông (1996), Tâm học lứa tuổi phạm, Nxb. Đại học phạm.
Lê Hương (2003), “Định hướng giá trcon người, Tâm lý học, (7).

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây