47. BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG PHẬT GIÁO VÀ HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thứ sáu - 06/12/2019 07:19
BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG PHẬT GIÁO HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
 
NCS.SC. Thích Nữ Liên Thảo
 
 
           Tiến tới bình đẳng giới thực sự mong muốn của nhân loại tiến bộ nói chung sự quan tâm của mỗi quốc gia nói riêng. Từ ngàn xưa, thiết nghĩ con người cũng đã khao khát điều này. Nhưng muốn làm được điều đó thì không phải chuyện đơn giản. Các quốc gia tiến bộ đã không ít những biện pháp đẩy lùi bất bình đẳng, tiến tới công bằng hội, trong số đó Việt Nam. Cụ thể, Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 10 ngày 29/11/2006 đã thông qua Luật bình đẳng giới hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2007.
           Với Phật giáo, từ thời đức Phật còn tại thế con người đã chịu đựng biết bao nỗi khổ, niềm đau do hội phân biệt giai cấp, giới tính. Chínhthế, niềm khao khát về vấn đề bình đẳng giới ngoài thế gian cũng như trong tôn giáo luôn vấn đề “cấp thiết” cần giải quyết.
Đức Phật cũng đã thành đạo “đứng lên” xóa bỏ giai cấp thực hiện tinh thần bình đẳng giới, áp dụng cho đồ chúng của mình. Ngài đã “gióng hồi trống” thức tỉnh con người trở về với quyền tự 
do, bình đẳng con người đáng được có. Đặc biệt hơn Ngài đã thực hiện điều này trong chính giáo đoàn của mình.
  1. SỰ XUẤT HIỆN CỦA NI ĐOÀN
            Đức Phật đã từng trả lời với tôn giả A-nan: Này Ananda, người nữkhả năng chứng Tứ Quả Sa Môn1. Năm năm sau ngày thành Đạo, đức Phật cho phép thành lập Ni chúng theo lời thỉnh cầu của Di mẫu Ma-ha-ba-xà-ba-đề, đồng thời đức Phật chế “Bát kỉnh pháp” (xemphần chú thích trước) tức tám điều cung kính đối với chư Tăng chư Ni phải tuân giữ. Từ đây, Ni chúng được thành lập.
Các Tỷ-kheo-ni hoặc được đức Phật tế độ, hoặc được các Trưởng lão Tăng tế đ, hoặc được các Trưởng lão Ni tế đ, đu chịu shướng dn lãnh đo của các Trưởng lão Ni khác. Tt cả Ni chúng tu tập chung một Giới bổn dành riêng cho Ni trong các trú xứ riêng. Kết quả đạt được trong việc độ cho Ni giới sự tu chứng của chư Ni cũng Thập Đại đệ tử Phật như chư Tăng đó là:
Nữ tôn giả Ma-ha-ba-xà-ba-đề: Trưởng lão Ni đệ nhất (tu đầu tiên).
  • Khemā: Trí tuệ đệ nhất.
  • Uppalavannā: Thần thông đệ nhất.
  • Dhammadinnā: Thuyết pháp đệ nhất.
  • Nandā: Tu thiền đệ nhất.
  • Bakulā: Thiên nhãn đệ nhất.
  • Bhaddakāccāna: Đại thắng trí đệ nhất.
  • Kisagotami: Ðệ nhất mang thô y.
  • Sigalākamātā: Tín giải đệ nhất.
  • Sonā: Tinh cần đệ nhất. 2
Thành quả đạt được từ chư Ni, không thể không nhớ đến hành động đầy tha thiết cầu Đạo của các vị hoàng hậu, công chúa, các tiểu thư đài các… chịu buông tất cả, cạo tóc, đi chân đất, khoác y lạy quỳ cầu Đạo. Một tấm gương sáng cho Ni giới muôn đời, chính họ đã góp phần quan trọng trong cuộc cách mạng lớn lao của đức Phật Thích Ca, đã tạo điều kiện đặc quyền cho người phụ nữ, trong việc nỗ lực tu tập phát huy những bản chất cao quý khả năng trí tuệ của nữ giới.
Chúng ta thể thấy được điều này qua câu chuyện: Tỷ-kheo Kisa Gotami; “Đế Thích với chư thiên đến lạy Phật, vấn an. Tỷ-kheo Kisa Gotami cũng vận thần thông lực, từ trong không gian lướt đến, cũng để lạy Phật, vấn an ngài đế Thích hỏi… Phật nói… Như Lai dạy cho biết ‘mọi hiện tượng tổ hợp toàn thường’. Bà nhờ lời ấy hiểu được Pháp Phật, xuất gia làm Tỳ-kheo-ni, chứng ngộ Alahán. một vị kiệt xuất trong hàng đệ tử Tỳ-kheo-ni của Như Lai” 3.
Siêng năng yếu tố quyết định cho sự thành công trong việc tu tập. Điều này hầu như ai cũng biết, khi biết năng lực này đóng vai trò quan trọng trong việc học Phật, làm theo Phật, thì không nên dừng lạiviệc học hay hành đủ biết của một vàithuyết. Người biết cách tu, không phân biệt tại gia hay xuất gia, nam hoặc nữ, đó chính người đã ý thức được ý nghĩa của hai chữ bình đẳng đức Phật đã dạy.
Trên mặt giáo đoàn, quyền bình đẳng về (giới tính)4 cũng đã được đức Phật chứng minh, qua sự hiện diện của nữ giới xuất gia sống đời sống phạm hạnh như nam giới sự thành lập giáo hội mặt của Tỳ-kheo-ni vào một thời điểm, người phụ nữ luôn bị đt vào một đa vị thấp hèn của xã hội. Tt cả chúng sanh đu có khng tnh Pht, là câu chúng ta thường nghe nói, nhưng trên thực tế bao nhiêu người dám tìm hiểu khả năng thành Phật sẵn của mình thực hành nó một cách nghiêm túc.


Chúng ta nên chú ý rằng nẻo đường giáo hóa của đức Phật Thích Ca không phải một học thuyết, một tiến trình tu tập, thực tiễn, đơn giản, nhưng hoàn chỉnh đầy đủ tính nhân bản đem lại niềm tin, sức sống cho con người, hội cũng dễ dàng áp dụng trong cách sống của mỗi cá nhân, ai cũng thể thực hành được.
  1. NỮ GIỚI RẤT ĐƯỢC SỰ QUAN TÂM VÀ TÔN TRỌNG TỪ ĐỨC PHẬT
 
             Sau khi đắc đạo, đức Phật nhắn gởi thông điệp bình đẳng đến cho nhân loại. Nghĩa không giai cấp phân biệt trong Phật tính, khi mê lầm chúng sinh, khi giác ngộ sẽ thành Phật.
Đức Phật đã tìm hiểu vấn đề nàyđưa những tưởng bình đẳng, tôn trọng nhữngcon người có. Ngài đã làm một cuộc cách mạng quan trọng để giải thoát con người ra khỏi mọi sự khổ ách trong hội trong một số tôn giáo. Ngài đã đưa vị trí của nữ giới ra khỏi nhữngtưởng áp bức cố hữu đã nâng cao địa vị của họ trong hội, để thể hưởng được quyền lợi của mình. Điều này được minh chứng hơn khi Vāsettha hỏi về sự cao quý tối ưu của tập cấp Brahmin (Bà-la-môn), ngài đã phủ nhận chủ nghĩa đó bằng câu nói về phụ nữ: Này Vāsettha, các nữ Bà-la-môn, vợ của các Bà- la-môn được thấy kinh nguyệt,mang thai,sanh con, có cho con bú.”5
           Chuyện phân biệt nam nữ đến nay, một số tôn giáo vẫn cho rằng nữ giới ô uế, thậm chí còn không cho họ bước vào nhà thờ của các vị Thần. Thế nhưng đức Phật đã quan tâm, thấu hiểu nói những chuyện ấy một cách công khai vào cuộc đàm thoại đạo lý của ngài từ hơn hai mươi lăm thế kỷ trước. Đó cách hành xử hiếm thấy trong tôn giáo. Ngài đã đề cao phẩm hạnh của người thiếu nữ trong hội qua câu chuyện nói về vua Pasenadi nước Kosala khi nghe tin hoàng hậu hạ sinh công chúa nhà vua vẻ buồn rầu. Đức Phật biết vua Pasenadi nước Kosala không được hoan hỷ, ngay lúc ấy nói lên bài kệ:

 
Này Nhân chủ, ở đời, Có một số thiếu nữ,thể tốt đẹp hơn,
So sánh với con trai, Có trí tuệ, giới đức,
Thật xứng Ðạo sư, Giáo giới cho toàn quốc”.6
            Cái nhìn thấy sự cảm thông về vị trí cũng như vai trò của nữ giới trong hội, vào thời điểm của đức Thích Ca điều khó làm khó nói. Tuy nhiên, không phải đứng trước những cái quan niệm cổ hủ khó sửa đổi ngài không dám làm.
Cuộc sống nhiều lãnh vực hoạt động hội khác nhau, do đó nó có skhác bit về đa vị của từng cá nn. Trong tinh thần bình đẳng, đức Phật đã tạo điều kiện để đặt mỗi giới vào đúng vị trí của họ trong hội. Một minh chứng thể cho chúng ta thấy không phân biệt đó ai, chỉ cần vị hành giả ấy biết tu học, tinh cần, tinh tấn đoạn trừ được các kiết sử thì vị ấy sẽ dần dần thoát ly sanh tử thôi. Điu này có thể thy trong Trường Bộ Kinh, Kinh Đại Bát Niết Bàn ghi:
“… Tỷ-kheo-ni Nandā đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, hóa sanh (thiên giới) từ đó nhập Niết Bàn không còn trở lại đời này nữa,… nữ Sujātā diệt trừ ba kiết sử, chứng quả Dự lưu, nhứt định không còn đọa vào ác đạo, đạt đến chánh giác. Này Ānanda, Kakudha đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, hóa sanh (thiên giới), từ đó nhập Niết Bàn không còn trở lại đời này nữa.”7
Nói tóm lại, chỉ cần nghiên cứu một vài điểm trong muôn ngàn hạnh lành của đức Phật chúng ta cũng thể thấy rệt sự chú trng vcon người mà đức Pht luôn đề cp. Trong đó ngiới là  
một phần quan trọng trong việc thực hiện tinh thần bình đẳng của ngài. Cách giáo dục của ngài không chỉ hướng thiện một cách đơn thuần còn hàm chứa nghĩa cử từ bi, mang đậm nét nhân văn của Phật giáo. thể nói, nghệ thuật sống của đức Phật không ai thể sánh bằng, bởi tính cách rất êm đềm rất mạnh mẽ, khéo léo khiến con người bị thuyết phục một cách khoa học thiết thực nhất.
  1. TÌNH THẦN BÌNH ĐẲNG VỀ GIỚI TẠI HỌC VIỆN NGANG QUA TỔ CHỨC DẠY HỌC
    1. Sơ lược về Học viện
           Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh toạ lạc số 716, Nguyễn Kiệm, Quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây làmt cơ sở giáo dục cấp đại học Giáohi Phật giáo Việt Nam(Hcviện Phật giáo Việt Namti Nội, Hcviện Phật giáo Việt Namti Thành phố Huế), được thành lập từ ngày 25 tháng 02 năm 1982 theo nghị quyết phiên họp thứ nhất của Ban thường trực Hội đồng Trị sự Trung ương theo quyết định 0160/QĐ ngày 17 tháng 03 năm 1983 của Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Mục đích của Học viện là nhm để đào to nhng Tăng Ni sinh có kiến thức đại hc vgo lý căn bản của các bộ phái Phật giáo, lịch sử Phật giáo Việt Nam văn hoá (Phật giáo) Việt Nam, để sau khi tốt nghiệp Cử nhân Phật họcthể tiếp tục học cấp Cao học, Tiến sĩ, trở thành nghiên cứu viên Viện Ng- hiên cứu Phật học, hoặc đảm trách các công tác chuyên môn, Phật sự tại Trung ương Giáo hội, Ban Trị sự tại các tỉnh, thành trong toàn quốc.
* Hình thành phát triển
             Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh được tnh lp vào m 1984 với tên gi là Trường Cao cp Pht học Việt Nam, nguồn gốc từ trường Đại học Vạn Hạnh, ngôi trường đại học đầu tiên của Phật giáo tại Việt Nam đã đào tạo thành công một thế hệ thanh niên Việt Nam hiện đang giữ những vai trò then chốt trong các quan nhà nước. Cho đến nay, Học viện 
đã đang đào tạo được 14 khóa cử nhân Phật học, khóa 2 Cao học, khóa 1 Tiếnvới hàng ngàn Tăng Ni sinh đã được tốt nghiệp. Nỗ lực của Học viện nhằm xây dựng phát huy truyền thống đào tạo các thế hệ Tăng Ni tài cho Phật giáo Việt Nam, đáp ứng các nhu cầu Phật sự, giải quyết các vấn nạn của thời đại. Hằng trăm sinh viên sau khi tốt nghiệp Học viện đã du học nhiều nước, tốt nghiệp Tiến Cao học Phật học cũng như các ngành học liên hệ.
             Ngay trong mùa khai giảng đầu tiên vào 1984, số lượng sinh viên ghi danh thi tuyển sinh và theo học ngày càng nhiều, sau mỗi khoá, đã làm cho Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh trở thành trung tâm thu hút các học giả các nhà nghiên cứu từ nhiều nơi trên thế giới.
Kể từ năm 2005 của khóa VI trở đi, Học viện nhấn mạnh đến việc cải cách nội dung giáo dục, thay đổi chương trình học niên chế với mỗi năm hai học kỳ thành hệ thống tín chỉ (course-credit/ unit) theo hệ thống giáo dục tiên tiến phổ quát trên thế giới. Bắt đầu từ năm 2005 trở đi, việc tuyển sinh không dựa theo chương trình bốn năm một lần, sẽ tuyển sinh hai năm một lần, để dần dần tiến tới mỗi năm một lần theo thông lệ. Hiện tại, Học viện đã phấn đấu đào tạo các chương trình Cao học (M.A.) Tiến(Ph.D.), nhằm đáp ứng nhu cầu nghiên cứu ngày càng cao của sinh viên trong nước.
    1. tưởng bình đẳng trong mục đích dạy học của Học viện
             Tại Học viện từ trước đến nay, luôn thực hiện việc dạy học của giảng viên đối với sinh viên (đa số Tăng Ni) một cách bình đẳng. Học viện cũng nơi giáo dục Phật giáo được sự chấp nhận của Chính phủ Việt Nam. Việt Nam chúng ta đã đang thực hiện (bình đẳng giới)9, “mục tiêu bình đẳng giới xoá bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo hội như nhau cho nam nữ trong phát triển kinh tế - hội phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống hội gia đình.Pht giáo cũng thực hin vn đề bình đng giới một cách rõ rệt trong nhà trường. Hẳn nhiên vấn đề này không ai tuyên bố, nhưng với Phật giáo nói ít chú trọng chuyện thực hành như thế nào. Chúng ta thể tham khảo mục tiêu đào tạo của Học viện không hề phân biệt Tăng Ni. Chỉ cần Tăng Ni sinh viên nguyện vọng nhà trường thể hỗ trợ thì đều được thực hiện:
    • Đào tạo giới tri thức trẻ Phật giáo về các chiều kích học thuyết, lịch sử, tôn giáo văn hóa của Phật giáo Việt Nam.
    • Hỗ trợ ứng dụng các nguyên lý triết học đạo đức Phật giáo trong cuộc sống.
    • Hỗ trợ phát triển đời sống tâm linh cá nhân cũng như cộng đồng thông qua việc hành trì thiền ứng dụng đạo đức.
    • Tăng cường ý thức cộng đồng về các nguyênPhật giáo.
    • Đáp ứng các nhu cầu giáo dục nghiên cứu về Phật giáo Việt Nam.
    • Đóng góp vào sự phát triển đất nước Việt  Nam  thanh bình thịnh trị.
- Từng bướctrtnhmộttrungmquốctếvđàotovànghiên cứu Phật giáo. Nhiệm vụ chính của Học viện chủ yếu tập trung vào ba lãnh vực là: giảng dạy (teaching), nghiên cứu khoa học (scholarly research) thông tin học thuật (academic communication).
Thông qua chương trình của các khóa học, Học viện sẽ giới thiệu từ căn bản đến chuyên sâu các nguyên lý triết học ứng dụng hành trì của Phật giáo, thông qua các truyền thống Nam tông với văn hệ Pàli, Bắc tông với văn hệ Sanskrit, Tây Tng, Trung Quốc, Nhật Bản Việt Nam.
Sức  mạnh  học  thuật  của  Học  viện  bao  gồm  việc   giới thiệu các chương trình cử nhân Phật học với nhiều chuyên ngành 
khác nhau như bộ môn Pāli và Đông Nam Á, bộ môn Phạn Tng và Pht giáo n Đ, Tây Tng, bộ môn Pht giáo Trung Nht Hàn, bộ môn Phật giáo Việt Nam, bộ môn Lịch sử Phật giáo bộ môn Triết học Pht giáo.
            Các nhóm bộ môn vừa nêu sẽ giúp sinh viên đi sâu vào từng chuyên ngành Phật học, làm nền tảng cho các chương trình Cao học TiếnPhật học về sau. Như đã được thực tế chứng minh thông quastnhcôngtrongcáclãnhvực Phtscủasinhviênttnghip, Học viện Phật giáo Việt Nam trung tâm giáo dục Phật học hàng đầu tại Việt Nam, nơi đó, giá trị của truyền thống hiện đại, lý thuyết thực tiễn, kiến thức hành trì luôn song hành với nhau, góp phần xây dựng một đạo Phật Việt Nam theo tinh thần nhập thế tương dung. thể nói, Học viện đã những định hướng ràng, tiêu chí chuẩn mực, tạo niềm tin nền tảng vững chắc về lâu dài. vậy, đối với những chương trình đào tạo của Giáo hội, Tăng Ni đều tham gia rất nhiệt tình, hoan hỷ. Tăng Ni thể hiện sự tin tưởng vào nền giáo dục, mục tiêu giáo hội cũng như Học viện đề ra trong các định hướng đường lối.
Tăng Ni tin vào đầu ra của các khóa học, sau khi tốt nghiệp, những kiến thức được sẽ giúp họ tiếp cận cuộc sống một cách tự tin, vững chãi và được cống hiến chung cho sự nghiệp của Giáo hội nền giáo dục Phật giáo.
             Trên tinh thần bình đẳng về giới, về tri thức, Phật tánh, Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh đã cải cách thành công việc dạy học theo chương trình tín chỉ cho cả Tăng Ni sinh viên kể từ năm 2005 (khóa 6). Việc này cũng nghĩa không phân biệt Tăng hay Ni, học đủ tín chỉ sẽ được tốt nghiệp tiếp tục học lên Cao học.
             Những Tăng Ni sau khi tốt nghiệp Thạc sĩ, Tiến khả năng giảng dạy, đều được Học viện tạo điều kiện đứng lớp giảng dạy cho Tăng Ni khóa sau. Ban đầu việc chư Ni khả năng đứng lớp dạy cho cả chư Tăng trẻ khiến không ít những phản đối kịch liệt từ chư Tôn đức, nhất các vịcác tỉnh thành trong cả nước. Nhưng với 
tâm niệm kế thừa mạng mạch Phật pháp một cách đúng nghĩa. Hòa thượng khai sáng Học viện cũng như chư Tôn đức trong hội đồng điều hành đã vượt qua những thách thức ban đầu. Đáng nói hơn đến nay, Học viện đã thực hiện theo sự chỉ đạo của Hòa thượng Viện trưởng mở trường nội trú cho cả Tăng Ni. Nâng cao chương trình dạy học đem lại kết quả khả quan cho Tăng Ni một cách bình đẳng.
            Tóm lại, dù Thánh chúng hay phàm chúng, phàm người xuất gia sau khi đã thọ Cụ túc giới, ai cũng phải nương vào các giới điều để làm mực thước sinh hoạt hằng ngày trong cuộc sống. Ngoài việc thực hiện giới điều của Tỳ-kheo hai trăm năm mươi giới, Tỳ-kheo-niba trăm bốn mươi tám giới, thì chư Tăng Ni đều phải y cứ vào “Tứ y pháp”10 để sống. Đời sống của người xuất gia nói chung, rất thanh đạm, nhưng cũng những lúc uyển chuyển tùy duyên. Trước nht là phải tự tn vn động, có nim tin nh lit vào Chánh pháp đức Phật đã dạy, thứ nữa chính bản thân. mục đích hướng đến giải thoát, lợi mình lợi người, hành giả vượt qua các chướng ngại của tự ngã, mặc cảm, của giai cấp, giới tính, để phát huy đúng nghĩa của người đệ tử Phật cần làm. Sống hết mình bằngtưởng giải thoát, cho đời nguồn động lực sống bình đẳng, nguồn tri thức tận đức Bổn đã truyền dạy.
             Thiết nghĩ, trong môi trường nào cũng những điểm ưu khu- yết, Học vin cũng kng ngoại l. Trong phương pp ging dy của giảng viên, trong cách làm việc thái độ của các nhân viên văn phòng, cũng như các ban quản viện Tăng Ni tại Học viện cũng cần thực hiện thêm việc lắng nghe để hiểu thế hệ trẻ đang gặp phải điều gì, mong muốn như thế nào, họ đangtrạng thái nào, nguyên nhân từ đâu… để kịp thời chấn chỉnh định hướng cho họ.
Tâm chung của người xuất gia, nhất Ni giới, tuy nói sống với tinh thần bình đẳng, nhưng họ cũng bị ảnh hưởng sự giáo dục 
của gia đình từ bé, thậm chí một số tỉnh thành trong cả nước vẫn chưa thật sự bình đẳng. Đôi khi gặp phải khó khăn trong một số lĩnh vực học tập sinh sống tại Học viện, nhưng không tiện nói, hay không dám nói ra ý kiến của mình. Nên chăng Học viện thùng thư góp ý, để thấu hiểu hơn về những vấn đề tồn tại của Tăng Ni, của trường phấn đấu hoàn thiện. Như vậy, thì nếp sống lục hòa cọng trụ sẽ dễ thực hiện, hạn chế việc gút mắc trong lòng của Tăng Ni cũng như các ban trong Học viện. Người người đều hiểu thương, cảm thông nhau hơn thì sự thành công sẽ cao hơn trong nền giáo dục Phật giáo.




 
***




Thư mục tham khảo
Kinh Trung Bộ, tập I, II, III, Thích Minh Châu (dịch) (1973) Pā- li-Việt đối chiếu, NXB. Tu Thư Đại Học Vạn Hạnh. Kinh Trường Bộ(2001), NXB. Tôn giáo, Nội.
Kinh Tương Ưng Bộ - Samyutta Nikaya, do Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt. Tập I - Thiên Kệ, Chương III, Tương Ưng Kosala, I. Phẩm Th Nhất. VI. Người Con Gái (S.i,86)
Trung Bộ Kinh, Thích Minh Châu (dịch tóm tắt) (2010), NXB. Văn hóa Sài Gòn.
Trường Bộ Kinh III, Pāli-Việt đối chiếu, Thích Minh Châu (dịch) (1972), Viện Đại Học Vạn Hạnh xuất bản.
Nārada Thera, Phạm Kim Khánh (dịch) (1994), Đức Phật Phật Pháp, NXB. Thuận Hóa.
Nguyễn Thiên Thuận (2007), Nhân Cách Văn Hóa Của Đức Phật, NXB. Văn Hóa Sài Gòn.
Thích Tâm Minh (2006), Đức Phật-Vị sứ giả hòa bình, NXB. Tôn giáo, Nội.
Thích Viên Trí (2013), Phật giáo qua lăng kính xã hội, NXB. Phương Đông.
Trí Quang biên tập (2001), Trích Pháp cú Nam tông, NXB. Tôn giáo, Nội.
Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng Việt, NXB. Đà Nẵng.
Walpola Rahula, Thích Nữ Trí Hải (dịch) (2009), tưởng Phật học, NXB. Văn hóa Sài Gòn.
Theo nguồn:Lịch sử hình thành phát triển của Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh. trên trang web Học viện (THE VIETNAM BUDDHIST UNIVERSITY IN HCM CITY).
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây