46. VAI TRÒ NI GIỚI TRONG HỌCVIỆNPHẬTGIÁOVIỆTNAMTẠITP.HỒCHÍMINH

Thứ sáu - 06/12/2019 07:26
VAI TRÒ NI GIỚI TRONG
HỌCVIỆNPHTGIÁOVIỆTNAMTITP.HCHÍMINH

 
TS.NS. Thích Như Nguyệt
 
 
MỞ ĐẦU
           Ni chúng Việt Nam mặt khá sớm trong lịch sử Phật giáo nước nhà, vào khoảng năm 40 – 43, hình ảnh chư Ni với chiếc áo nâu bình dị đã xuất hiện khá sớm từ thời kỳ Hai Trưng, như công chúa Bát Nàn, Thiều Hoa những vị nữ tướng của Hai Bà. Sau khi phụng sự nước nhà trong công việc bảo vệ lãnh thổ, đánh đuổi giặc ngoại bang, lẽ tuổi đã xế chiều nên một số nữ tướng đã chọn con đường nương nơi cửa Phật để tu hành1, hướng dẫn một số tín đồ tại địa phương tu tập, chú trọng phần phát triển tâm linh hơn công tác phng sự. Đến thời kLý Trn, lịch sPht giáo đã ghi lại những hình ảnh Ni Diệu Nhân, Ni Tuệ Thông một trong số các vị Ni nổi tiếng thời đó, giới đức tinh nghiêm, tuệ giác thông suốt, được xem bậc tông của Ni chúng. Ni Tuệ Thông từng được vua Trn Nghệ Tông ban hiu Tuệ Thông đại sư2. Nhng giai đoạn tiếp theo rất nhiều vị Ni từng lãnh đạo Ni chúng tại 
các Ni trường, Phật học viện3. Thông qua các Phật sự của chư Ni tiền bối chúng ta thể thấy chư Ni chưa điều kiện để thể hiện hết khả năng của mình, chỉ thực hiện trong khuôn khổ hạn chế của Ni chúng, nhất đối với công tác giáo dục. Do văn hóa Việt Nam ít nhiu chịu nh hưởng văn hóa Trung Quốc cho thy tinh thần trọng nam khinh nữ vẫn còn, trong đó Ni giới cũng bị ảnh hưởng, trên một số phương diện hội còn hạn chế rất nhiều khả năng của Ni chúng. May thay, ngày nay các hoạt động giáo dục của Ni chúng đã một thay đổi rệt. Bài viết chỉ đề cập đến công tác giáo dục, đặc biệt tại Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hòa thượng Viện trưởng thượng Trí hạ Quảng đã đưa ra nhiều thay đổi, nhằm khích lệ tinh thần tu học cũng như tạo điều kiện cho Ni chúng phát huy khả năng của mình, Hòa thượng đã cho phép giảng viên Ni tham gia công tác giảng dạy tại Học viện.
    1. ĐẠI HỌC VẠN HẠNH, TIỀN THÂN HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
            Năm 1965, viện Cao đẳng Phật học Sài Gòn được đổi thành Viện Đại học Vạn Hạnh. Năm 1966 Viện Đại học Vạn Hạnh tiến nh xây dựng cơ sở mới tại 222 đường Trương Minh Ging (nay là đường Văn Sỹ) do Hòa thượng Thích Minh Châu Viện trưởng. Viện mở thêm 05 phân khoa: Phân khoa Phật học (Hòa thượng Thích Mãn Giác, Hòa thượng Thích Trí Tịnh làm Khoa trưởng), phân khoa Văn khoa (Hòa thượng Thích Thiên Ân, Đại đức Thích Nguyên Tánh, Giáo sư Nguyn Đăng Thục làm Khoa trưởng), pn khoa Khoa học hội (Giáo Tôn Thất Thiện, Giáo Bùi Tường Huân… làm Khoa trưởng), Phân khoa Giáo dục (Đại đức Thích Nguyên Hng làm Khoa trưởng), Trung m Ngoại ng(Giáo sư Cẩm Quỳnh làm Giám đốc), Hòa thượng làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút Tạp chí Tưởng.
             Năm 1975 – 1976, sau khi nước nhà thống nhất, Hòa thượng bàn giao Viện Đại học Vạn Hạnh cho Bộ Giáo dục quản lý. Sau 
đó, Hòa thượng trở về sở II (Thiền viện Vạn Hạnh, quận Phú Nhuận), thành lập Phật học viện Vạn Hạnh4. Đại học Vạn Hạnh bấy giờ một đại học tư thục như bao nhiêu trường đại học khác, giảng viêncả nam nữ, nhưng hình ảnh giảng viên Ni cũng rất giới hạn. Trong thời knày vic học tập của Ni chúng còn rt hạn chế. Một svị bằng cấp đại học, nhưng đối với bằng cấp thạchay tiến sĩ thì rất hiếm, bởi các bậc tiền bối quan niệm rằng Ni chúng học đến đâu về chùa cũng chỉ làm nhang, bán nhang, tương chao… Do hoàn cảnh chung, lúc đó chùa Ni đều dựa vào kinh tế tự túc. Tuy quý Ni trưởng, Ni lúc đó dù không học vị cao nhưng cách giáo dục tự viện rất nghiêm khắc mang lại hiệu quả cao, kết quả này được do sự giáo dưỡng của các bậc tiền bối, Ni giới đã sản sinh biết bao bậc Ni tài cho Giáo hội, như Ni trưởng Diu Tánh, Sư trưởng Như Thanh, Ni trưởng Diu Tn, Ni trưởng Huyn Học, Ni trưởng Diên Trường, Ni trưởng Diu Kng, Ni trưởng Đàm Thu, Đàm Son, Đàm Hữu, Đàm Tín… Quý Ngài đều bậc lãnh đạo Ni chúng kiệt xuất đương thời ở 3 miền.
    1. HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÀNH LẬP
            Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh được tnh lp vào m 1984 với tên gi là Trường Cao cp Pht học Việt Nam, tiền thân trường Đại học Vạn Hạnh, ngôi trường đại học đầu tiên của Phật giáo tại Việt Nam đã đào tạo thành công một thế hệ Tăng ni Việt Nam hiện đang giữ những vai trò then chốt trong các cp Giáo hi từ Trung ương đến đa phương. Trường lúc đó chỉ dãy nhà cấp 4 với 3 gian, một gian làm văn phòng, hai gian còn lại lớp học dành cho Tăng Ni. Mái trường này tồn tại đến giữa khóa IV. Bấy giờ giảng viên những bậc cao Tăng thạc đức, như: HT. Thích Minh Châu, HT. Thích Thanh Kiểm, Thích Thanh Từ, HT. Thích Từ Thông, HT. Thích Trí Quảng. Nhị vị Ni trưởng TN. Như Đức TN. Trí Hải, hai vị Ni đầu tiên giảng dạy tại trường Cao cấp Phật học Việt Nam sở II trong thời kỳ đó. Nhị vị Ni trưởng đều phụ trách giảng dạy môn Giới luật cho Ni, ngoài ra Ni trưởng Trí Hải còn có nhiu bài thuyết ging sâu sc vTrung Bộ kinh bằng tiếng Anh cho Tăng ni sinh các khóa III, IV, V5, Ni trưởng chính thức giảng viên hữu của trường Cao cấp Phật học Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh, bấy giờ số lượng sinh viên còn rất khiêm tốn.Năm 1989, giáo Trần Phương Lan, nữ phật tử đầu tiên được mời tham gia giảng dạy môn Anh văn tại trường Cao cấp Phật học Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh. Đồng thời, giáo còn được Hòa thượng Viện trưởng sáng lập Thích Minh Châu giao phó công tác phiên dịch kinh điển ra tiếng Việt, như Bổn Sanh (Những chuyện tiền thân của Đức Phật, 10 quyển). Ngoài ra, giáo còn phiên dịch cuốn The Historical Buddha (Đức Phật lịch sử) của
H.W. Schuman biên soạn sách giáo khoa về Phật pháp bằng tiếng Anh, như Buddhism through English Reading (3 quyển), Sangha Talk, v.v…
Năm 2009, giáo Trần Phương Lan được Hội đồng Điều hành Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh đề cử làm PKhoa Anh văn Pht pp (khóa VIII). Trong thời gian này giáo sư đã hoàn tnh được quyn I, cuốn sách “Đức Pht Gotama.6
Năm 2009 Hòa thượng thượng Trí hạ Quảng nhậm chức vụ Vin trưởng, thay cho Trưởng lão Hòa thượng Vin trưởng sáng lập Thích Minh Châu. Hòa thượng đã cùng Hội đồng Điều hành nỗ lực xây dựng phát huy truyền thống đào tạo các thế hệ Tăng tài cho Phật giáo Việt Nam, đáp ứng các nhu cầu Phật sự, giải quyết các vấn nạn của thời đại. Sau mỗi khóa nhiều Tăng ni sinh tốt nghiệp, đã góp phần phục vụ Giáo hội, chung tay làm cho Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh trở thành trung tâm thu hút các học giả các nhà nghiên cứu đến từ nhiều nơi trên thế giới. Hàng trăm sinh viên sau khi tốt nghiệp Học Viện đã du học 
nhiều nước, đã sắp tốt nghiệp Tiến Cao học Phật học cũng như các ngành học liên h. Trong số sinh viên du học tốt nghip trvề nước tham gia giảng dạy tại Học viện cũng như các trường Cao đng, Trung cp Pht học các tỉnh tnh, có một slà chư Ni. Tại Học viện Phật giáo cuối khóa IV trở đi hình ảnh giảng viên Ni được tham gia công tác giảng dạy tại Học viện Phật giáo Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh bắt đầu khởi sắc nhưng chưa nhiều.Kể từ niên học 2005 của khóa VI trở đi, Học viện nhấn mạnh đến việc cải cách nội dung giáo dục, thay đổi chương trình học niên chế với mỗi năm hai học kỳ thành hệ thống tín chỉ theo hệ thống giáo dục tiên tiến phổ quát trên thế giới. Việc tuyển sinh không dựa theo chương trình bốn năm một lần, sẽ tuyển sinh hai năm một lần, để dần dần tiến tới mỗi năm một lần theo thông lệ. Tuy nhiên, hệ thống tín chỉ đến khóa XI (2015-2019) mới được áp dụng hoàn toàn.
        Được sự cho phép của Ban Tôn giáo Chính phủ, năm 2011 Học viện bắt đầu đào tạo chương trình cao học (M.A.); Năm 2019 đào tạo chương trình tiến Sĩ, (Ph.D.). Chương trình cử nhân, tuyển sinh mỗi năm. Hiện nay Học viện đang tiến hành thủ tục xin phép mở khoa Pht học Quốc Tế, scho sinh viên nước ngoài đến Hc vin học tập nghiên cứu. Hy vọng trong quá trình giao lưu, học tập, đội ngũ giảng viên Ni sẽ hội để phát huy khả năng của mình nhiều hơn.
    1. GIẢNG VIÊN NI
Trước ngày đt nước thống nht, quý Tôn túc Ni có đứng lớp giảng dạy tại các Ni trường, Phật học viện… nhưng cũng chỉ trong phạm vi của Ni. Đến cuối thập niên 90, trong phong trào du học nước ngoài số lượng chư Ni không thua kém chư Tăng. Tuy vậy, khi trở về nước phục vụ công tác giảng dạy tại các trường Phật học lúc bấy giờ giảng viên Ni cũng không quá đầu năm ngón tay. Một vấn đề được đặt ra tại sao chư Ni trình độ trong ngoài nước rất nhiều về phục vụ thì không bao nhiêu. Đây cũng lý do chúng ta nên tìm hiểu. Phải chăng do khả năng giảng dạy yếu kém, không được đứng lớp sinh viên chư Tăng, hay do mọi người không quen nhìn hình ảnh Ni đứng lớp chư Tăng tham gia học tập? Cuối thập niên 80, tại trường Cao cấp Phật học Việt Nam, hình ảnh ging viên Ni chỉ có hai v. Trong khi ging viên nữ bên ngoài thì được mời vào giảng dạy, nhưng Ni lại không được cho phép tham gia ging dy đông. Trong khi các nước Pht giáo phát trin như Đài Loan, Hồng Kông….. thì không giới hạn điều này, họ chủ trương xét trên mặt học thuật, nghiên cứu chứ không phải lập trường hành trì. Đến khóa IV Học viện bắt đầu xuất hiện giảng viên Ni, nhưng cũng còn quá khiêm tốn. Số lượng đông hơn đến khóa VI thì Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, đội ngũ ging viên Ni khá đông, nht là khoa Trung - Nht - Hàn lúc by giờ hai môn cổ ngữ (Hán cổ và Pali) cũng như Hán Hiện đại. Số lượng chư Ni học vị thạc sĩ, tiếntốt nghiệp tại các nước về Việt Nam phục vụ công tác giảng dạy tại các trường Phật học khá nhiều, nở rộ bắt đầu từ khóa VII (2009), cũng lúc Hòa thượng đương nhiệm nhậm chức Viện trưởng. Đến nay giảng viên Ni trong khoa Trung có số lượng đông nht so với các khoa. Hin có 6 vTăng 24 Ni, hầu hết đều học vị tiến sĩ, chỉ 3 vị thạc sĩ. Hiện tại các khoa đều giảng viên Ni. Từ khóa VII trở đi Học viện thật sự cho phép chư Ni đứng vào hàng giảng viên hữu, không giới hạn như trước đây. Đây một thay đổi lớn đối với Ni chúng.
           Đc bit, m 2015 do Phân ban Ni giới Trung ương khởi xướng, xin Học viện cho phép mở khoa Giáo dục Mầm non, khoa thứ 11 trong số các khoa của Học viện. Hòa thượng Viện trưởng cũng như Hội đồng Điều hành thấy được sự cần thiết này, nên đã liên kết với trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Sinh viên tham gia đều chư Ni một số ít nữ Phật tử. số năm đầu 100, trải qua 4 năm rưỡi học thực tập, chỉ còn phân nửa được đậu tốt ng- hiệp. Đây khóa học Mầm non trong Phật giáo đầu tiên, đào tạo chính thống kể từ sau ngày đất nước thống nhất. Tuy nhiên hiện nay số sinh viên này chưa đất dụng võ. Hy vọng trong thời gian không xa sẽ một số trường Mầm non để chư Ni sinh tốt nghiệp 
nơi làm việc theo sở trường của mình, cũng như mang lại lợi lạc nhiều hơn đối với con em Phật tử.
    1. ĐỜI SỐNG NỘI TRÚ
           Sau 4 năm thi công, ngày 08/05/2016 (02-04/Bính  Thân), Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, cơ sở II khánh thành giai đoạn 1 đi vào hoạt động, cũng lần đầu tiên Tăng ni sinh Học viện đời sống nội trú, được miễn học phí, an âm tu học, không phân tâm các việc bên ngoài, việc tu học thuận tiện tiến bộ hơn. Nếungoại trú mỗi ngày Tăng ni sinh phải trải qua đoạn đường khoảng 30km để đến trường, gặp lúc thời tiết mưa to gió lớn thì sẽ rất khó khăn, còn phải lo vấn đề học phí, trong khi ni trú thì min phí hoàn toàn. Trong đời sng ni trú của Tăng ni, số lượng sinh viên tăng dần theo các khóa 490 vị (khóa 11), 626 vị (khóa 11, 12), 694 vị (khóa 12, 13), tính luôn Ban Quản viện thì trường hạ hơn 700 vị.
          Nhằm giữ gìn truyền thống của hàng xuất gia, cuối năm 2018 nội viện bắt đầu dùng bình bát để thọ trai. Đầu mùa An cư 2019, đồng bộ mang một loại giày. Đây một đặc thù của Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh. Thời khóa tu học hằng ngày, bình thường cũng như ba tháng An cư giống nhau. Nguồn kinh phí chính dựa vào sự ủng hộ các Mạnh Thường Quân, nhất là Hòa thượng Vin trưởng, Thượng ta Trưởng ban Bảo trợ Thích Thanh Phong, Thượng tọa Phó Viện trưởng Thích Nhật Từ… trong buổi giảng định kỳ hằng tháng, Hòa thượng dạy: “Tăng Ni sinh lo tu học cho tt, vic kiếm cơm để Hòa thượng lo. Tht xúc động đào tạo Tăng tài, nguồn nhân lực cho Phật giáo Việt Nam, tuổi cao như thế ấy Hòa thượng vẫn đều đặn thuyết giảng, nhất trong mùa An cư năm 2019, mỗi tuần chủ nhật Hòa thượng đều giảng để các Phật tử tại gia khắp nơi về nghe pháp phát tâm cúng dường, lo cho đời sng Tăng ni. Hòa thượng lại dy: Trong đời sng tu nh, mình phải có nim tin thì vic làm mình mới tnh tựu. Quả tht, niềm tin nên những công trình lớn của Phật giáo tại Thành phố Hồ Chí Minh đều do Hòa thượng xây dựng, nhất công trình 
Học viện Phật giáo Việt Nam. Nếu xét theo khu vực thì đây một Học viện Phật giáo tầm cỡ. Ngay buổi đầu Tăng ni sinh nội trú Hòa thượng Viện trưởng, Hội đồng Điều hành cùng Ban Quản viện cũng gặp không ít khó khăn về mặt tinh thần, như áp lực từ sự quá lo lắng của các bậc Tôn túc Ni, nghĩ rằng Tăng ni sinh sống trong một môi trường sẽ những điều bất lợi xảy ra, như sự liên hệ, gần gũi, sự việc này cũng khiến lãnh đạo Học viện không sao tránh khỏi lo lắng. Đến mùa An cư thứ 04, Hòa thượng mới thật sự yên tâm. Đời sống Tăng ni không thiếu thốn, không vấn đề xảy ra. Đây cũng chính là câu trả lời thực tế cho quý Tôn túc Ni nói riêng, Bổn sư của Tăng ni sinh nói chung được yên lòng.
           Hết năm thứ 2 của đời sống nội trú, bắt đầu năm thứ 3 Hòa thượng quyết định cho Tăng ni tụng kinh riêng, điều này nhằm để cho chư Ni hội thực tập dẫn chúng trong nghi thức tụng niệm cũng trong năm này mọi thứ gần như ổn định. Một lần nữa Hòa thượng đã tạo hội cho Ni chúng Học viện điều kiện vươn lên, nhưng luôn thúc liễm trong việc tu hành.
KẾT LUẬN
           Từ những thay đổi trên cho thấy Hòa thượng một vị Cao tăng trong thời hiện đại, đã bao lần tạo điều kiện để Ni chúng phát huy khả năng vốn của mình. Hòa thượng Viện trưởng với tâm từ, không phân biệt, nên số lượng Ni chúng nội trú khá đông. Điều đó cho thấy Ngài đã đang thực hiện được đại hạnh nguyện độ tha, nhất trong công tác giáo dục nói chung đối với chư Ni nói riêng. Hòa thượng đã nhiều lần khuyến hóa, tạo điều kiện để Ni chúng phát huy khả năng vốn có, tinh tấn tu tập hơn nữa để xóa tan tất cả những lo lắng của chư Tôn đức Ni. Đây một khích lệ lớn lao đối với Ni chúng. Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh đã đào tạo nhiều lớp thế hệ trẻ Tăng ni, trong số đó Ni không ít, ở phạm vi trong ngoài nước nơi nào đạo tràng xuất gia thì nơi đó Ni chúng tham gia công tác giáo dục, hoằng pháp, v.v... Sự cải cách của Hòa thượng trong quy chế, truyền thống của Học viện Phật giáo Việt Nam một điều khích lệ rất lớn đối với Ni 
chúng. Ngài đã giúp Ni chúng xóa tan tính tự ti mặc cảm, mạnh dạn trong công việc được giao phó, đồng thời mở ra một chân trời mới để Ni chúng điều kiện đem khả năng cống hiến cho ngôi nhà chung của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.


 
***




Tài liệu tham khảo
Ban Giáo dục Tăng ni Trung ương, Giáo dục Pht go skế thừa và phát triển trong giáo dục Phật giáo Việt Nam định hướng phát triển, Nxb. Tôn giáo, Nội, 2012.
Tài liu Hi nghị kỳ IV khóa VII, Trung ương Giáo hi Pht giáo Việt Nam, 2015.
Tài liu Hi nghị tng kết công tác Pht sư Phân ban Ni giới Trung ương, 2015.
Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo Kỷ niệm 30 năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam (1981- 2011), Nxb. Tôn giáo, 2012.
Tỳ-kheo-Ni Như Đức, Lược sử Ni giới Bắc tông Việt Nam, Nxb. Tôn giáo, 2009.
Thích Nht Từ chỉ đo, Hc viện Pht go Việt Nam ti TP.HCM shình thành phát triển, Nxb. Hồng Đức, 2017.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây