45. TĂNG NI SINH TỐT NGHIỆP HỌCVIỆNPHẬTGIÁOVIỆTNAMDUHỌCNƯỚCNGOÀI: KHÓ KHĂN VÀ GIẢI PHÁP

Thứ sáu - 06/12/2019 07:31
TĂNG NI SINH TỐT NGHIỆP
HỌCVIỆNPHTGIÁOVIỆTNAMDUHỌCNƯỚCNGOÀI: KHÓ KHĂN GIẢI PHÁP
(Trường hợp điển cứu tại Sri Lanka, Ấn Đ)

 
NCS.ĐĐ. Thích Đồng Tâm
 
  1.  DN NHẬP
Nhằm đánh dấu chặng đường 38 năm Giáo hội Phật giáo Việt Nam (7/11/1981 - 7/11/2019) thành lập, phát triển phụng sự nhân sinh cũng như 35 năm thành lập Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, đây hội cùng nhìn lại sự nghiệp giáo dục đại học sau đại học đã đạt được những thành tựu quan trọng đáng tự hào bên cạnh cũng cần nghiêm túc đánh giá những thiếu sót, hạn chế trong quá trình đạo tạo của Học viện. Số lượng Tăng ni sinh sau khi tốt nghiệp từ Học viện đã tiếp tục đi du học tại nhiều nước trên thế giới với các chương trình Thạc sĩ, Phó Tiến sĩ, Tiến sau Tiếnngày một tăng nhanh qua các năm. Sau khi tốt nghiệp trở về nước, họ đã phụng sự cho Giáo hội một cách tích cực hiệu quả, góp công lớn vào những thành tựu quan trọng của Học viện cũng như Giáo hội trong nhiều lĩnh vực văn hoá, giáo dục, quản hành chính, từ thiện hội, v.v... thể nói trong điều kiện còn nhiều khó khăn hạn chế về công tác tổ chức đào tạo của Học viện, lực lượng Tăng ni sinh du học đã đáp ứng một số lượng lớn cho nguồn nhân lực của Phật giáo để đáp ứng nhu cầu phát triển ngày càng nhanh mạnh của Phật giáo Việt Nam trong nước nước ngoài. Câu hỏi đặt ra liệu những sinh viên sau khi tốt nghiệp chương trình Cử nhân của Học viện Phật giáo Việt Nam đủ đáp ứng được những điều kiện học tập các chương trình sau đại học tại nước ngoài hay không? Những khó khăn hạn chế cựu Tăng ni sinh sau tốt nghiệp phải đối mặt khi du học gì? Liệu họ thấy hài lòng với chất lượng đào tạo của Học viện Phật giáo Việt Nam? Mong muốn cũng như những giải pháp được đề xuất về phía Học viện nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho Tăng ni sinh du học ra sao? Bài tham luận này sẽ giúp trả lời những câu hỏi đó với mục đích chính cung cấp cái nhìn tổng quan, đánh giá lại chương trình đào tạo cũng như những cải cách, giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo đại học cũng như sau đại học của Học viện đáp ứng tiêu chuẩn chung của quốc tế đồng thời giúp Tăng ni sinh tốt nghiệp Học viện lựa chọn du học nước ngoài đạt được hiệu quả cao nhất trong học tập nghiên cứu. Đề tài tham luận cũng phản ánh sự đánh giá mức độ hài lòng của Tăng ni sinh tốt nghiệp về chất lượng đào tạo của Học viện qua đó đề xuất hướng giải quyết cho vấn đề đặt ra. Phương pháp nghiên cứu tác giả lựa chọn sử dụng phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc thu thập dữ liệu phục vụ cho bài nghiên cứu. Sởtác giả chọn phương pháp nghiên cứu này sau khi suy xét cẩn thận mọi khía cạnh dựa trên tình hình thực tế của bài nghiên cứu, dựa trên thông tin căn bản thì đối tượng phỏng vấn Tăng ni sinh tốt nghiệp Học viện đang du học tại nước ngoài. Ấn Độ và Sri Lanka được lựa chọn hai nước này có số lượng sinh viên đông cũng như chất lượng đào tạo Phật học hàn lâm cao, nhiều chư tôn đức thạc đức Việt Nam cũng từng du học tại hai nước này. Việc phỏng vấn bán cấu trúc sẽ giúp người được phỏng vấn thể tự do thể hiện quan điểm suy nghĩ cũng như cách đánh giá, cung cấp nhiều thông tin hơn cho những câu hỏi đưa ra. Để thu thập dữ liệu, tác giả đã tiến hành lựa chọn 25 cựu Tăng ni sinh đã tốt nghiệp Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh đang du học các chuyên ngành Phật học tại Sri Lanka Ấn Độ. Dữ liệu sau đó được xử phân tích để đưa ra kết quả nghiên cứu một cách khách quan chính xác nhất.
  1. TỔNG QUAN CHUNG VỀ CÁC HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAMTHÀNH TỰU GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CỦA CÁC HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM
          Kể từ sau sự kiện trọng đại đất nước thống nhất (30/04/1975), thì gần 3 năm sau, một sự kiện quan trọng khác đối với Phật giáo tại miền Bắc, ngày 01.01.1978, nhà nước cho phép Hội Phật giáo Thống nht tnh lp Trường Cao cp Pht học Vit Nam và trường Tu học Pht pp Trung ương. Còn tại khu vực min Nam, vic tnh lp Trường Cao cp Pht học vào m 1984 và m 1997 nâng cấp thành Học viện Phật giáo Việt Nam tiền thân của Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh do Hòa thượng Thích Minh Châu sáng lập1 đánh dấu bước tiến quan trọng trong giáo dục Phật giáo bậc đại học. Gần đây nhất Học viện Phật giáo Vit Nam tại Huế, Hà Ni và Học vin Pht giáo Nam Tông Khmer tại Cần Thơ khẳng định sự giáo dục đầy đủ toàn diện, rộng khắp của Phật giáo. Có thể điểm qua một số thành tựu nổi bật các học viện Phật giáo Việt Nam đạt được trong lĩnh vực giáo dục bậc đại học như sau.
Từ năm 1983-1997, Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh kế thừa Đại học Vạn Hạnh (1964-1975) liên kết giáo sư và ging viên với các trường Đại học Tng hợp Thành phố HChí Minh, Đại học phạm. Tăng Ni sinh tốt nghiệp khóa I khóa II của Học viện phần lớn đều trở thành cán bộ lãnh đạo chủ chốt của các Ban Trị sự Tỉnh Thành hội Hội đồng Trị sự Học viện Pht giáo Vit Nam Tm 1997-2005 Trường Cao cp Pht học



    1. Nguyễn Công Lý, Nghĩ về giáo dục Phật giáo Việt Nam, tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 11 (149), 2015, tr. 46-64.
 

Việt Nam sở II tại Thành phố Hồ Chí Minh được chính thức đổi tên thành Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh đào tạo được 2 khóa cử nhân Phật học đạt được các thành tựu quan trọng về quan hệ ngoại giao quốc tế quốc nội ngày càng đa dạng hơn, đáp ứng nhu cầu nghiên cứu đào tạo của Học viện ở quy mô một trường đại học Phật giáo. Từ 2006 trở đi, Học viện thay đổi chương trình học niên chế với mỗi năm hai học kỳ thành hệ thống tín chỉ (course-credit/ unit) theo hệ thống giáo dục tiên tiến phổ quát trên thế giới. Số lượng sinh viên ghi danh thi tuyển sinh theo học ngày càng nhiều, sau mỗi khóa, đã làm cho Học viện trở thành trung tâm thu hút các học giả các nhà nghiên cứu từ nhiều nơi trên thế giới2.
Tiếp theo, Học viện Phật giáo Việt Nam tại Nội sở đào tạo Phật học lớn nhất miền Bắc, được thành lập từ năm 1981, cho đến nay đã hàng nghìn tăng, ni sinh được vinh dự đón nhận bằng tốt nghiệp cử nhân Phật họcCao đẳng Phật học. Sau 24 năm, sở của Học viện đặt tại chùa Quán Sứ với hai phòng học, từ năm 2006 đến nay, Học viện đã chính thức một sở mới với diện tích trên 10ha tại Sóc Sơn, Nội, đủ điều kiện về sở vật chất cảnh quan tu học, phục vụ tốt nhất cho tăng, ni sinh tu học. Trong nhng m qua, học vin đã kng ngng đi mới cả chiu sâu chiều rộng, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo. Đặc biệt, để đảm bảo triển khai nội dung chương trình giáo dục đào tạo của học viện cũng như tạo sự yên tâm tu học của tăng, ni sinh, học viện đã quyết định bảo đảm miễn phí 100% kinh phí ăn 90% kinh phí đào tạo của tăng, ni sinh trong suốt thời gian tu học3.
Th ba, Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế tiền thân Trường Cao cp Pht học Vit Nam tại Huế (Quyết định tnh lập Số 07–QĐ/TGCP ngày 22 tháng 4 năm 1997 do Ban Tôn giáo


    1. HT. Thích Giác Toàn, “Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh: Từ quá khứ đến hiện tại”, http://www.vbu.edu.vn/vbunews/vbunews-detail/AP-202/Hoc-vien- PGVN-tai-TP-HCM:-Tu-qua-khu-den-hien-tai.html
    2. Cẩm Vân, “Học viện Phật giáo Việt Nam tại Nội”, https://thuvienhoasen.org/ a5939/hoc-vien-phat-giao-viet-nam-tai-ha-noi
 

Chính phủ chấp thuận). Số lượng sinh viên tốt nghiệp qua các khóa đã vượt hơn 1.000 sinh viên4. Cuối cùng Học viện Phật giáo Nam tông Khmer đã khẳng định được vị thế sự phát triển của mình trong khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo; đóng góp phát huy vai trò của mình vào những thành tựu chung Giáo hội Phật giáo Việt Nam đạt được sau 35 năm. Đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục, Phật giáo Nam tông Khmer cũng đạt được những thành tựu đáng kể, quan trọng cho Phật giáo Nam tông Khmer tại Việt Nam5.
Sau khi tốt nghiệp tại các Học viện, nhiều Tăng ni sinh qua các thế hệ đã lựa chọn tiếp tục chương trình học tập nghiên cứu Phật học bậc cao tại nước ngoài. Nhiều quốc gia nền đào tạo Phật giáo phát triển đa phầnchâu Á được đông đảo Tăng ni sinh Việt Nam chọn lựa. thể chia thành 2 nhóm chính dựa theo tính chất đặc điểm đào tạo theo hướng nghiên cứu trong Phật học: nhóm nước đào tạo Phật học sử dụng tiếng Anh như Ấn Độ, Sri Lanka, Thái Lan, Myanmar với thế mạnh nghiên cứu đào tạo về Phật giáo Nguyên thuỷ, Nam truyền Theravada trong đó cổ ngữ Pali được sử dụng làm công cụ nghiên cứu chính; nhóm nước đào tạo Phật học sử dụng tiếng Trung và các ngôn ngkhác như Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản với thế mạnh nghiên cứu đào tạo về Phật giáo Đại thừa (Mahayana), Phật giáo Bắc truyền trong đó sử dụng Hán cổ Sanskrit (Phạn văn) làm công cụ nghiên cứu chính. Ngoài 2 nhóm chính trên còn 1 nhóm Tăng ni sinh theo học nghiên cứu về Kim Cang Thừa (Vijrayana hay Tantrayana) ch yếu học ở vùng Dharamshala, n Đ, Bhutan, Nepal bng tiếng Tng và Sanskrit cổ. Tuy nhiên số lượng Tăng ni sinh theo học tại các nước này chiếm số lượng không đáng kể. Theo thống bộ, số lượng Tăng ni sinh du học Phật pháp tại các nước đào tạo bằng tiếng Anh (năm 2019) như sau:



    1. Số liệu đăng trên website học viện: (http://vba.edu.vn/hvpg.aspx?KenhID=107&Tieu DeID=55&LoaiTieuDe=1&LoaiKenh=2&l=vn)
    2. Kim Chươi, Những giải pháp đào tạo Học viện Phật giáo Nam tông Khmer”, https://phat- giao.org.vn/nhung-giai-phap-dao-tao-o-hoc-vien-phat-giao-nam-tong-khmer-d29071.html
 
 
2019 Ấn Độ Sri Lanka Thái Lan Myanmar Tng s
Số lượng 140 65 180 90 485
Tỷ lệ % 28.87 % 13.4 % 37.11% 18.56% 100%


H1. Biểu đồ tỷ lệ Tăng ni sinh Việt Nam đang du hc ti c nước
đào tạo tiếng Anh năm 2019
Từ số liệu trên ta thể thấy rằng Thái Lan nước số lượng Tăng ni sinh lựa chọn đông nhất với 180 du học sinh chiếm tỷ lệ 37,11 % do điều kiện địagần Việt Nam nhiều nét tương đồng về văn hoá, kinh tế, hội. Ấn Độ quê hương của Phật giáo xếp vị trí thứ 2 với số lượng 140 du học sinh chiếm 28,87% tổng số Tăng ni sinh du học, thứ ba Myanmar 90 Tăng ni sinh du học (chiếm tỷ lệ 18.56%) cuối cùng Sri Lanka – được như ngôi sao đang lên, điểm đếntưởng cho việc du học Phật pháp trong những năm gần đây với số lượng 65 Tăng ni sinh chiếm 13,4% tổng số du học sinh trong nhóm. Đề tài nghiên cứu lựa chọn Ấn Độ Sri Lanka làm địa điểm khosákiến cựu Tăng ni sinh của Học viện Phtgiáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh đang du học tại 2 quốc gia trênthỏa mãn các điều kiện như quốc gia nền đạo tạo Phật giáo phát triển, nhiều thế hệ chư tôn thiền đức đã từng du học tại đây, Tăng ni sinh tốt nghiệp nhiều đóng góp cho Phật giáo trong nước cũng như thế giới.
Ấn Độ được biết như cái nôi của nền văn minh nhân loại, đồng thời cũng quê hương của Phật giáo nơi hàng triệu Tăng ni, Phật
 

tử trên toàn thế giới những khách hành hương muốn ít nhất một lần tìm về để tìm hiểu Phật giáo chiêm bái Tứ Động Tâm – bốn thánh tích linh thiêng thuộc Ấn Độ Nepal. Nhiều trường Phật giáo nổi tiếng của Ấn Độ như Đại học New Delhi, Đại học Nalanda, Đại học Allahabad, Đại học Pune, Đại học Gautam Buddha, v.v… nơi đã từng đào tạo nhiều tăng tài cho nền Phật giáo nước nhà qua nhiều thế hệ. Hiện tại số lượng Tăng ni sinh du học tại Ấn Độ 140 vị theo học chính thức các chương trình đào tạo tại các trường đào to, khong 50 vđang tu tập và học tiếng Tng và Pht giáo Kim Cang thừa tại các ngôi chùa Tây tạngkhu vực Dharamshala, Ấn Độ. Số lượng du học sinh này không được đưa vào số liệu chính thức không theo học các trường Đại học hàn lâm của Ấn Độ. một điểm đặc biệt trong 140 du học sinh đang du học tại Ấn Độ thì hơn 95% tốt nghiệp từ Học viện Phật giáo Việt Nam tại Việt Nam đang theo học các chương trình sau đại học như thạc sĩ, phó tiến sĩ, tiến sĩ. Tỷ lệ sinh viên học Cử nhân Phật học (BA) rất ít (khoảng vài người). Điều này được lý giải do hầu hết chương trình đào tạo cử nhân Phật học tại Ấn Độ bằng tiếng Hindi (Hindi medium) đó rào cản lớn ảnh hưởng đến việc lựa chọn học Cử nhân Phật học tại Ấn Độ so với các nước khác.
 
 
Biểu đồ tỷ lệ du học sinh theo cấp học tại Ấn Độ
Sau Đại học - 90%

Cử nhân - 3%


Chương trình
khác


H2. Biểu đồ tỷ lệ du học sinh phân theo cấp độ đào tạo tại Ấn Độ 2019
Nếu Ấn Độ được biết như nơi khởi nguồn của Phật giáo thì Sri
 

Lanka được biết tới như hòn đảo thiêng giữ gìn lưu truyền chánh pháp. Đất nước Phật giáo Nam truyền này hiện số lượng Phật tử chiếm 70,1% dân số. Đây cũng quốc gia Phật giáo thuần thành, người dân hiền lương, điềm đạm, hội trật tự đạo đức. Ngũ giới nền tảng đạo đức căn bản của hội, được xem chuẩn mực đạo đức cho con người noi theo. Sri Lanka giữ gìn rất tốt những truyền thống văn hóa Phật giáo tốt đẹp từ thời xa xưa cho đến tận bây giờ. Ngày Chủ nhật ngày rằm (Poya day) hầu hết các cửa hàng đều đóng cửa để người dân đi chùa tu học, cúng dường, nghe Pháp. Phật tử cung kính, cúng dường, hộ trì chùa chiền Tăng ni tu học. Cố Trưởng lão HT. Thích Minh Châu có thể được xem là thế hệ du học sinh Phật pháp người Việt Nam đầu tiên đến Sri Lanka để học tập Pali Phật học. Tiểu sử Hòa thượng ghi lại rằng: Do trong quá trình nghiên cứu Kinh - Luật - Luận Hán tạng, nhận thấy cách phiên âm các từ ngữ Pali, Sanskrit khác nhau, chưa sự thống nhất khiến bản văn trở nên khó hiểu nên Hòa thượng xin phép bổn Hi Pht học Trung phần cho phép mình sang Sri Lanka và n Độ học về Kinh, Luật, Luận, Pali Sanskrit để sau này về nước phục vụ việc nghiên cứu Phật học nước nhà. Vào năm 1952, được sự chấp thuận của Giáo hội Hòa thượng bổn sư, Hòa thượng Thích Minh Châu xuất dương du học tại Sri Lanka. Thời gian đầu tại Kelaniya, Hòa thượng đã miệt mài học Pali Anh văn; sau 3 năm chuyên cn học tập, m 1955, Hòa thượng được Trường Đại học Tích Lan (Ceylon University) tặng bằng Pháp (Saddammcariya). Sau đó, Hòa thượng sang Ấn Độ theo học tại Nava Nalanda Mahavihara thuộc Đại học Bihar (Ấn Độ)6. Từ khoảng mười năm trở về trước, Sri Lanka vẫn còn khá mới mẻ chưa được biết rộng rãi với nhiều người học Phật tại Việt Nam nhưng những năm gần đây, số lượng du học sinh Việt Nam đến đất nước này một đông hơn. Theo đó, trước năm 2010 khoảng 5-10 du học sinh thì cho đến thời điểm hiện tại, số lượng Tăng ni sinh sinh viên Việt Nam học tại Sri


    1. Tiểu sử Trưởng lão Hoà thượng Thích Minh Châu, https://quangduc.com/a49120/01- tieu-su-truong-lao-hoa-thuong-thich-minh-chau (truy cập 26/08/2019)
 

Lanka đã vượt hơn 65 vị, con số này tăng lên sau mỗi năm. Hiện nay, Sri Lanka đã trở thành địa điểm du học Phật pháp được nhiều Tăng ni sinh Việt Nam tin tưởng chọn lựa. Theo khảo sát bộ của tác giả, số lượng Tăng ni du học sinh tại Sri Lanka vào khoảng trên dưới 65 người. Trong đó chiếm phần lớn là học viên cao học - thc sĩ (khoảng 15 vị), phó tiến sĩ MPHIL (15 vị) tiến(khoảng 5 vị), cử nhân BA khoảng dưới 25 vị, số còn lại 20 vị học Diploma các ngành tiếng Anh, Phật học, Pali, Sanskrit.
 
Biểu đồ tỷ lệ du học sinh theo cấp học tại Sri Lanka
2019
Tiến sỹ-PHD - 9% Phó TS - MPhil-15% Thạc sỹ - MA -23% Cử nhân - BA - 38%


H3. Biểu đồ tỷ lệ du học sinh phân theo cấp độ đào tạo tại Sri Lanka 2019
Hầu hết du học sinh Việt Nam theo ngành Phật học, một số nhỏ học cổ ngữ các ngành khác.khoảng 6 trường đại học lớn thu hút đông sinh viên Việt Nam theo học tại Sri Lanka, trong đó 65% sinh viên học tại Trường Đại học Kelaniya (Colombo), 15% sinh viên học tại SIBA Campus (Kandy), 7% học tại Peradeniya (Kandy) và 10% học tại BPU (Colombo), 3% học tại Trường Đại học Sri Jayawadenapura (Colombo).
 

 
  1. NHỮNG KHÓ KHĂN, HẠN CHẾ CỦA TĂNG NI SINH TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM THƯỜNG GẶP PHẢI KHI DU HỌC PHẬT PHÁP TẠI NƯỚC NGOÀIMỨC ĐỘ HÀI LÒNG VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO CỦA HỌC VIỆN
Để khảo sát những khó khăn, hạn chế cựu Tăng ni sinh tốt nghiệp Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh gặp phải khi du học Phật pháp tại nước ngoài, cụ thể tại Sri Lanka Ấn Độ, tác giả đã tiến hành phỏng vấn 25 Tăng ni sinh hiện đang học tại 2 quốc gia trên. Tiêu chí về người được lựa chọn phỏng vấn phải đáp ứng 2 yêu cầu bản sau:
  • Tốt nghiệp Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh
  • Đang theo học các chương trình đào tạo sau đại học (MA, MPhil, PHD) tại các trường đại học chính thống của Sri Lanka Ấn Độ.
Các vị Tăng ni sinh này được áp dụng phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc xoay quanh 3 vấn đề chính sau:
    1. Những khó khăn, hạn chế gặp phải khi du học tại nước ngoài.
    2. Đánh giá mức độ hài lòng về chất lượng đào tạo của Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh.


Kelaniya - 55% SIBA Campus - 23% PBU -10%
Sri Jayawadenapura - 6%

Nagananda - 3%

Peradeniya - 1%

H4. Tỷ lệ Tăng ni sinh Việt Nam du hc ti Sri Lanka phân theo trường đại học 2019
 
 
    1. Đề xuất ý kiến, đóng góp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của Học viện,đáp ứng tiêu chuẩn học thuật quốc tế tạo điều kiện cho Tăng ni sinh tốt nghiệp hội nhập bắt kịp với sự phát triển ngày càng nhanh mạnh của nền đào tạo Phật học trên thế giới ngày nay.
Kết quả phân tích dữ liệu phỏng vấn cho thấy, những khó khăn hạn chế Tăng ni sinh du học phải đối mặt bao gồm 6 vấn đề chính với tỷ lệ như sau:
  1. Yếu kém về ngoại ngữ (Anh văn), thuật ngữ chuyên ngành Anh văn Phật pháp: 21/25 (84%)
  2. Cổ ngữ Pali: 13/25
  3. Kinh nghiệm nghiên cứu, học thuật, kỹ năng mềm: 8/25
  4. Tài chính: 3/25 (Sri Lanka)
  5. Khác biệt văn hoá: 2/15
  6. Th tục visa: 3/25 (Sri Lanka)
  7. sở lưu trú trong quá trình học: 4/25
  8. Những khó khăn khác: thiếu đoàn kết 4/25
  9. Không gặp khó khăn: 2/25
 

 
Thủ tục visa -12%


Khác biệt văn hoá -8%


Tài chính -12%

Kinh nghiệm nghiên cứu, học thuật, kỹ năng mềm - 32%
 

Không
 
Cổ ngữ Pali - 52%

Yếu kém về Tiếng Anh, thuật ngữ chuyên
ngành AVPP - 84%
 
0%           20%           40%          60%           80%         100%

 
           
         
         
         
 
Không cảm thấy khó khăn - 8%

Khó khăn khác - 16%
 

Không
 
Cơ sở lưu trú -16%
 
0
 
5
 
10              15              20              25              30
H5. Nhng khó khăn chyếu mà Tăng ni sinh gặp phi khi hc ở nước ngoài
Từ kết quả phân tích dữ liệu cho thấy, khó khăn lớn nhất hầu hết các Tăng ni sinh du học gặp phải trong quá trình học yếu kém về ngoại ngữ (tiếng Anh). tới 21/25 Tăng ni sinh cho rằng họ gặp khó khăn trong việc sử dụng tiếng Anh phục vụ việc học tập nghiên cứu ở nước ngoài chiếm tỷ lệ rất cao 84% tổng số sinh viên được phỏng vấn. Đa phần Tăng ni sinh cho biết họ yếu kỹ năng giao tiếp nghe nói, điều này ảnh hưởng đến việc tiếp thu bài giảng trên lớp cũng như tương tác với giảng viên. Tăng ni sinh cho biết do đặc thù giảng dạy tiếng Anh ở Việt Nam thiên về ngữ pháp, viết đọc hiểu ít chú trọng tới nghe nói nên Tăng ni sinh cảm thấy rất khó khăn trong lúc học. Nhiều Tăng ni sinh rất ngại sợ khi phải giao tiếp với giảng viên sinh viên nước ngoài, đặc biệt phần thuyết trình môn học (individual presentation) phần lớn các sinh viên cho
 

rằng không đạt kết quả cao do khả năng thuyết trình hạn chế. Để khắc phục tình trạng yếu kém ngoại ngữ, nhiều Tăng ni sinh lựa chọn đi học thêm Anh văncác trung tâm ngoại ngữ trong khi những Tăng ni sinh khác học nhóm cùng bạn chọn cách tự học. Bên cạnh Anh văn giao tiếp thì thuật ngữ Anh văn Phật pháp (Buddhist Terminology) cũng là một đim yếu mà đa phần Tăng ni sinh phải đối mặt. Các vị Tăng ni sinh cho rằng ngoại trừ khoa Anh văn Phật pháp của Học viện Phật giáo Việt Nam thì những sinh viên khoa khác không được dạy trang bị đầy đủ về thuật ngữ chuyên ngành Anh văn Phật pháp để thể đáp ứng nhu cầu du học tại nước ngoài.
Khó khăn lớn tiếp theo Cổ ngữ chủ yếu Pali với kết quả phân tích cho thấy chiếm tới hơn phân nửa số lượng Tăng ni sinh trả lời phỏng vấn (52%). Việc dạy cổ ngữ PaliHọc viện Phật giáo Việt Nam ngoại trừ khoa Pali khoa Anh văn Phật pháp bắt buộc thì những sinh viên các khoa còn lại lựa chọn trên sở tự nguyện 1 trong 3 cổ ngữ: Hán cổ, Pali Phạn tạng. Những sinh viên thiếu định hướng ngay từ đầu việc cần thiết của Pali trong học tập ng- hiên cứu ở các nước sử dụng tiếng Anh trong đào tạo khiến họ hụt hẫng mất rất nhiều thời gian cho việc học Pali lại từ đầu. Một số Tăng ni sinh đã học cổ ngữ PaliHọc viện cho rằng việc dạy Pali ở học viện chỉ mới đáp ứng kiến thức mức căn bản, chưa đủ phục vụ cho việc học nghiên cứu ở bậc sau đại học ở nước ngoài.
Khó khăn thứ ba chiếm tỷ lệ 32% trong tổng số Tăng ni sinh gặp phải là kinh nghiệm nghiên cứu, học thuật, kỹ năng mềm (soft- skills) phục vụ cho việc học tập nước ngoài. Phương thức đào tạo hệ đại học sau đại học ở nước ngoài chú trọng về khả năng tự học, tự nghiên cứu dựa trên hướng dẫn của giảng viên, người học đòi hỏi phải tư duy logic, khả năng biện luận, đánh giá phê bình các vấn đề học thuật bên cạnh đó nhiều trường áp dụng công nghệ thông tin (IT-based educational approach) vào nghiên cứu giảng dạy khiến Tăng ni sinh gặp nhiều bỡ ngỡ, lúng túng. Ngoài ba khó khăn chủ yếu trên những khó khăn khác mà Tăng ni sinh gặp phải chiếm
 

tỷ lệ nhỏ không quan trọng lắm đa phần mọi người đều tự mình khắc phục vượt qua được dễ dàng hơn. Đó khó khăn về mặt tài chính (12%), khác biệt văn hoá cụ thể thức ăn đậm mùi cà-ri (8%), thủ tục xin cấp gia hạn visa (12%), sở lưu trú, chỗ ở nhà trọ chiếm 16% những khó khăn khác chiếm 16% bao gồm thiếu truyền thông, những bất hoà xích mích trong nội bộ cộng đồng Tăng ni sinh du học với nhau. một điều khá thú vị từ kết quả ng- hiên cứu cho thấy ngoài 3 khó khăn chủ yếu về: ngoại ngữ, cổ ngữ, kinh nghiệm nghiên cứu - kỹ năng mềm hầu hết Tăng ni sinh du học tại Sri Lanka Ấn Độ gặp phải thì những khó khăn còn lại đa phần (hơn 90%) đến từ Tăng ni sinhdu học tại Sri Lanka. Điều này thể được lý giải rằng do Ấn Độ đất nước quen thuộc với cộng đồng Tăng ni sinh du học của Việt Nam từ trước đến nay, số lượng Tăng ni sinh đông đảo nhận được sự hỗ trợ từ phía cộng đồng Tăng ni sinh du học ở tại Ấn Độ từ phía Việt Nam khá lớn trong khi đó Sri Lanka điểm du học khá mới mẻ chưa được nhiều người biết đến cũng ít nhận được sự quan tâm ủng hộ từ cộng đồng Phật giáoViệt Nam hơn so với Ấn Độ.
Xét về phân bố cư trú của Tăng ni sinh du học tại Sri Lanka, 85% Tăng ni du học sinh tập trung ở thủ đô Colombo, còn lại 15% học tập tại thành phố Kandy-Peradeniya. do cuộc sống tại thủ đô có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc học tiếng Anh, đi lại và sinh hoạt. Tuy vậy, khó khăn sinh viên học ở Colombo phải đối mặt chi phí sinh hoạt (tiền nhà trọ, đi lại) khá cao khí hậu khá nóng so với những vùng cao nguyên Kandy, Peradeniya. Về nơi cư trú thì tới 75% Tăng ni sinh Việt Nam phải thuê nhà trọ, thuê sở lưu trú chi nhánh của chùa để trọ học, 20% sinh viên lưu trú tại các chùa của người bản xứ Sri Lanka, 5% còn lạitrong túc của trường đại học.
Cuộc sống xa gia đình, xa thầy tổ, xa quê hương một mình trên đất khách không phải điều dễ dàng. Hầu như du học sinh nào khi sang Sri Lanka học cũng gặp phải những khó khăn nhất định. Bốn năm trước, thầy C.Đ. (Thành phố Hồ Chí Minh) một mình
 

sang Sri Lanka theo học chương trình cử nn Pht học tại Trường Kelaniya theo sự giới thiệu của một người Sri Lanka - vốn bạn của huynh đệ thầy tại Việt Nam. Thời gian đầu với vốn tiếng Anh còn hạn chế, cổ ngữ Pali chưa thành thạo, thầy phải nỗ lực tự học rất nhiều. Ngoài giờ học trên lớp, phần lớn thời gian thầy phải đi học tiếng Anhhọc thêm cổ ngữ Pali. Ban đầu thầy trọ trong một ngôi chùa Sri Lanka, thức ăn nặng mùi cà-ri, học tập vất vả cũng như tham dự sinh hoạt Phật sự trong chùa khiến thầy rất mệt mỏi. Thầy tâm sự chương trình học nặng, chưa quen với cách dạy trực tiếp từ văn bản cổ ngữ Pali nên thầy phải nỗ lực gấp mười lần người bình thường. Sau hai năm miệt mài, thầy đã vượt qua những khó khăn ban đầu, đạt thành tích học tập tốt đã tốt nghiệp thạc sĩ. Một khó khăn khác Tăng ni sinh tại Sri Lanka phải đối mặt việc tìm chỗ ở. Những sinh viên may mắn túc thì thuận lợi nhiều cho việc học: vừa an toàn, chi phí rẻ lại nhiều hội thực tập giao tiếp tiếng Anh với sinh viên quốc tế. Tuy nhiên số lượng túc không nhiều. Hiện tại chỉ Học viện Phật giáo Quốc tế SIBA Campus hỗ trký túc xá cho sinh viên quốc tế và Trường BPU có dành ký túc cho sinh viên hệ cử nhân. Còn lại các trường khác, sinh viên phải tự tìm nhà trọ để ở. Một số vị may mắn tìm được chủ nhà trọ Phật tử tốt bụng, lấy giá rẻ, phòng ốc sạch đẹp, an ninh, yên tĩnh nhưng cũng một số vị phải lao đao gặp chủ nhà trọ không đàng hoàng. M.T. (Đà Lạt) đã phải chuyển nhà đến 3 lần chủ nhà trọ thường xuyên phá hợp đồng, tăng giá phòng. Khi dọn đi, chủ nhà trọ nơi thuê không chịu trả lại số tiền đặt cọc nhà trước 6 tháng nhiều lần tìm cách lẩn tránh. Việc tìm nhà trọ cho những sinh viên mới sang một cực hình, đòi hỏi sức kiên nhẫn cần chút may mắn. G.H.C (Thành phố Hồ Chí Minh) khi mới sang phải mất công chuyển nhà tới 4 lần mất gần 5 tháng mới tìm chỗ trọ ưng ý. Nhà trọColombo dao động từ 100-200 USD/1 tháng, vài sở thuộc chùa chỉ lấy phí điện nước thì khoảng 50 USD. Một số chùa không lấy tiền trái lại, Tăng sinh thỉnh thoảng thêm chút tiền từ các hoạt động Phật sự của chùa lưu trú. Số sinh viênchùa của người Sri Lanka không nhiều, chủ yếu các hệ
 

phái Nam tông, tuy không tốn chi phí ănnhưng lại bị ảnh hưởng thời gian học hành do phải thường xuyên đi Phật sự, chấp tác v.v... Trung bình, mi vị ở nhà trọ học phải trtin nhà tr, chi păn uống, đi lại mỗi tháng khoảng 200-300 USD cộng tiền học phí dự chi khoảng 3.500 - 4.000 USD/người/năm.
Nhiều tấm gương học tập nghiên cứu tốt như Chánh Thân (tốt nghiệp tiến sĩ) với công trình dịch thuật Tiểu bộ kinh Luật tạng song ngữ Pali - Sinhala - Việt Nam được Hội đồng Tăng thống Sri Lanka tán dương, ca ngợi, nhiều vị tham gia nhiều hội thảo khoa học quốc tế với những bài tham luận được đánh giá cao về mặt ng- hiên cứu, học thuật. còn nhiều lắm những thế hệ Tăng ni ngày đêm miệt mài bên trang sách, nỗ lực vượt qua khó khăn, học tập không ngừng để mong một ngày hội trở về phụng sự đạo pháp cho quê hương.
Phần quan trọng thứ hai đánh giá mức độ hài lòng của Tăng ni sinh tốt nghiệp của học viện đang du học. Câu hỏi đưa ra Nếu cho điểm đánh giá mức độ hài lòng về chất lượng đào tạo của Học viện theo thang điểm từ 1 - 10 thì quý thầycho bao nhiêu điểm?” Sau khi thu thập dữ liệu, tác giả đã chuyển đổi số điểm thực tế từ 1-10 thành nhóm mức độ hài lòng:
Từ 0 – 4 điểm: Không hài lòng Từ 5 – 6 điểm: Hài lòng
Từ 7 – 8 điểm: Khá hài lòng Từ 9 – 10 điểm: Rất hài lòng
Kết quả xửthống như sau:
  Không hài lòng Hài lòng Khá hài lòng Rất hài lòng
Số lượng 0 9 10 6
Tỉ lệ % 0% 36% 40% 24%
             
 

 
Mức độ hài lòng về chất lượng đào tào của học viện

Không hài lòng - 0% Hài lòng -36%
Khá hài lòng - 40%
Rất hài lòng - 24%

H6. Mức độ hài lòng về chất lượng đào tạo của Học viện 2019
Kết quả thống cho thấy không Tăng ni sinh nào cảm thấy không hài lòng về chất lượng đào tạo của học viện. Mức độ khá hài lòng chiếm tỷ lệ cao nhất (40%), mức độ trung bình hài lòng tương đối cao (36%) trong khi đó tỷ lệ rất hài lòng chiếm mức kh- iếm tốn (24%).
Khi hỏi lý do việc cho mức điểm khá cao từ 7-10 tương ứng với mức chọn lựa “khá hài lòng” “rất hài lòng” của Tăng ni sinh thì được câu trả lời khá bất ngờ, khoảng 60% Tăng ni sinh trả lời nếu xét một cách khách quan họ sẽ đánh giá chất lượng đào tạomức trung bình nhưng lại cho điểm cao tình cảm riêng, sự dạy dỗ quan tâm giúp đỡ của các vị giáo thọ tại Học viện khiến họ cảm kích chọn cho điểm cao hơn số điểm thực sự.
  1. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC, HỖ TRỢ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO CỦA HỌC VIỆN
Bên trên kết quả phân tích từ dữ liệu thu thập được phản ánh những khó khăn hạn chế Tăng ni sinh du học nước ngoài thường gặp phải. Dựa thực tế, tác giả tổng hợp đưa ra những đề xuất nhằm giải quyết những khó khăn trước mắt cũng như củng cố, nâng cao chất lượng đào tạo tại Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng các Học viện Phật giáo tại Việt Nam nói chung để tiếp cận hội nhập chất lượng đào tạo mang tính quốc tế
 

trong quá trình đổi mới hội nhập toàn cầu. Những giải pháp đề xuất được tổng hợp từ ý kiến trực tiếp của Tăng ni sinh du học phần kiến nghị của tác giả dựa trên tổng quan bài nghiên cứu.
Th nhất, tăng cường cải tiến việc giảng dạy ngoại ngữ tại Học viện là điều quan trng cần thiết nht để giúp Tăng ni sinh đkhnăng hội nhập tiếp cận với nền giáo dục tại nước ngoài. Bên cạnh kỹ năng đọc hiểu thì kỹ năng nghe nói giáo tiếp, thuyết trình cần được chú trọngnâng cao. Anh văn Phật pháp ngoài dạy cho sinh viên chuyên ngành Anh văn Phật pháp thì sinh viên các khoa khác cn được bổ sung môn thut ngPht học (Buddhist Terminology) vốn được dạy vào học kỳ 1 năm nhất tại các trường đại học nước ngoài giúp sinh viên kiến thức vốn từ vựng chuyên biệt dùng trong giảng dạy nghiên cứu Phật học. Thiết nghĩ, chúng ta thể thành lập câu lạc bộ tiếng Anh Phật pháp, câu lạc bộ nghiên cứu hoặc thuyết trình, sinh hoạt chuyên đề tiếng Anh tạo môi trường cho sinh viên thực tập nâng cao khả năng ngoại ngữ nhất Anh văn Phật pháp để giúp cho việc du học sau này.
Th hai, về việc dạy học cổ ngữ Pali cần thiếtvấn định hướng cho sinh viên ngay từ đầu nhất đối với những sinh viên có ý định du học sau khi tốt nghiệp. Việc giảng dạy Pali không chỉ dạy trong chương trình còn thể tổ chức dạy cấp bằng các khóa học Diploma Pali riêng cho sinh viên học viện. Bên cạnh đó thể tổ chức các hoạt động ngoại khóa Pali nhằm khơi dậy niềm đamhứng khởi học nghiên cứu Pali của sinh viên dụ seminar chuyên đề Pali, các cuộc thi tìm hiểu Pali, Jataka Dramma (thi diễn kịch về chuyện tiền thân Đức Phật), hỗ trợ học bổng cho Tăng ni sinh học khoa Pali, Sanskrit, v.v…
Th ba, nhằm giúp cải thiện nâng cao kỹ năng nghiên cứu học thuật, kỹ năng mềm, Học viện cần phải đổi mới cách dạy học phương pháp nghiên cứu khoa học. một điều Học viện Phật giáo Việt Nam chưa làm tốt như các trường đại học bên ngoài tổ chức cuộc thi nghiên cứu khoa học sinh viên. Kỹ năng nghiên cứu khoa học của Tăng ni sinh Học viện thực sự rất kém do đa phần học lý thuyết
 

thiếu thực hành. Do đó khi qua nước ngoài du học, Tăng ni sinh gặp khó khăn khi viết tiểu luận (assignments), luận văn, luận án tốt nghiệp (dissertation/thesis), theo quan sát thì rất ít Tăng ni sinh du học tham gia viết bài cho các hội thảo khoa học quốc tế trong ngoài nước.
Th tư, việc cải cách giáo dục đào tạo bậc Đại học Sau đại học cần thiết phải thực hiện đồng bộ từ thấp lên cao. Quá trình đổi mới cải cách giáo dục Phật giáo không chỉ thực hiệnbậc Đại học mà phải bt đu từ giai đon Trung cp – Cao đng theo hướng chuẩn quốc tế để tạo một nền tảng vững chắc từ ban đầu nhằm tiết kiệm thời gian công sứcbậc Đại học.
Th năm, tăng cường tổ chức chương trình quan hệ hợp tác, chuyển đổi, giao lưu trao đổi sinh viên quốc tế cũng như mở rộng hợp tác đào tạo, liên thông với các trường đào tạo Phật học trên thế giới. Đây thể được xem hướng đi giải quyết vấn đề giá trị công nhận của văn bằng đào tạo của Học viện vốn hiện nay còn nhiều hạn chế bất cập.
Th sáu, vn đề hỗ trtài chính, trao hc bổng cho Tăng ni sinh du học cần được quan tâm hơn nữa. Thực tế từ trước tới giờ Tăng ni sinh tự túc tìm nguồn hỗ trợ chi phí du học do nhận được rất ít sự hỗ trợ từ Giáo hội trong khi lượng Tăng ni sinh du học tốt nghiệp sẽ bổ sung đóng góp rất lớn cho công tác của Giáo hội. Nên chăng chúng ta cần quy hoạch dự trù ngân sách hỗ trợ cho Tăng ni sinh du học bằng các hình thức trao học bổng cho sinh viên giỏi, quỹ tín dụng hỗ trợ cho vay du học lãi suất 0%, quỹ hỗ trợ những trường hợp khó khăn, cấp thiết như ốm đau bệnh tật của Tăng ni sinhgặp rủi ro khi du học ở nước ngoài.
Thby, vic thành lp Ban Đi diện Tăng ni sinh du hc ở c quc gia có Tăng ni sinh Việt Nam du hc là cần thiết nhằm nắm bt tình hình học tập, hỗ trợ sinh viên mới sang trong việc học tập, visa, chỗ ở, hỗ trợ bệnh tật cũng như tạo mối gắn kết chặt chẽ với Giáo hội Phật giáo nước nhà để đồng hành cùng Phật giáo Việt Nam trong các sự kiện trọng đại.
 
 
  1. KẾT LUẬN
Nếu Thân Nn Trung, trong bài văn bia khoa Nm Tut, niên hiệu Đại Bảo thứ 3 (1442) nói rằng: Hiền tài nguyên khí quốc gia”, được dựng vào năm Hồng Đức thứ 15 (1484) thì trong Đạo pp chúng ta cũng thy được rng: “Tăng tài là nguyên khí Pht go. Hin tài được hiu là người có cả tài ng và đức hạnh, đem hết tài năng đức hạnh ấy phục vụ cho Tổ quốc giang sơn. Người ấy vừa hiền lại vừa tài và nói như ngôn ngữ bây giờ, người ấy vừa tài lại vừa đức, người gương mẫu về đạo đức suốt đời chăm lo tu dưỡng phẩm hạnh cho bản thân. Tương tự Tăng tài những tu sĩ đầy đủ phẩm hạnh đạo đức tài năng trong Phật pháp giúp Phật pháp trường tồn. Tăng tài vừa kế thừa tiếp nối mạng mạch của Phật giáo vừa đảm nhận công tác hoằng pháp lợi sinh. Đầu tư cho Phật giáo tương lai đầu tư cho tầng lớp kế thừa tiếp nối của Phật giáohiện tại. Tại Sri Lanka Ấn Độ, dấu ấn, thành tích danh tiếng của các bậc tin nn như Đại Trưởng lão HT. Thích Minh Châu các vị tôn túc khác rất lớn, điều này cũng một áp lực đặt lên vai thế hệ Tăng ni du học sinh trẻ ý thức trách nhiệm tu học sao cho xứng đáng với tầm vóc của những bậc tiền nhân, làm rạng danh Phật giáo Việt Nam trên trường quốc tế.gặp nhiều khó khăn trên bước đường du học, tâm sự với chúng tôi, Tăng ni sinh Việt Nam đều tự nhủ vẫn phải luôn phấn đấu vượt qua những khó khăn đạt nhiều thành tích cao trong nghiên cứu, học tập. Tăng ni sinh đang du học ở nước ngoài cần được quan tâm đặc biệt họ thế hệ kế thừa của Phật giáo, nguồn nhân lực trình độ cao nếu những quan tâm hỗ trợ đúng mực thì chúng ta sẽ được một thế hệ Tăng ni sinh kế thừa đủ tài đức phụng sự đóng góp sức mình cho sự phát triển của Phật giáo Việt Nam trong hiện tại mai sau.




***




Tài liệu tham khảo
Nguyễn Công Lý, Nghĩ Về Giáo Dục Phật Giáo Việt Nam, tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 11 (149), 2015, p. 46-64
HT, Thích Giác Toàn, Hc Viện PGVN ti Tp.HCM: TQuá KhĐến Hiện Ti, http://www.vbu.edu.vn/vbunews/vbunews-de- tail/AP-202/Hoc-vien-PGVN-tai-TP-HCM:-Tu-qua-khu-den- hien-tai.html
Cẩm Vân, HVPGVN tại Nội, https://thuvienhoasen.org/ a5939/hoc-vien-phat-giao-viet-nam-tai-ha-noi
Kim Chươi, Những giải pháp đào tạoHọc viện Phật giáo Nam tông Khmer, https://phatgiao.org.vn/nhung-giai-phap-dao- tao-o-hoc-vien-phat-giao-nam-tong-khmer-d29071.html
Tiu sTrưởng lão hoà thượng Thích Minh Châu, https://quang- duc.com/a49120/01-tieu-su-truong-lao-hoa-thuong-thich- minh-chau (truy cập 26/08/2019)
Thích Đồng Tâm, Tăng Ni sinh du học tại Sri Lanka, https://giacn- go.vn/vanhoa/phatgiao/2017/08/17/7FC0C1/
  

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây