43. MÔ HÌNH LIÊN THÔNG – LUÂN CHUYỂN GIỮA CÁC HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Thứ sáu - 06/12/2019 07:40
MÔ HÌNH LIÊN THÔNG – LUÂN CHUYỂN GIỮA CÁC HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM

NCS.ĐĐ. Thích Quảng Tịnh
 
 
DN NHẬP
Giáo dục Phật giáo một nhiệm vụ trọng tâm của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, nhằm đào tạo Tăng Ni tài năng đức hạnh, bên cạnh việc đào tạo tu dưỡng đạo đức cho hàng cư sĩ Phật tử tại gia, thanh thiếu niên Phật tử.
Đối với hàng xuất gia, theo quy định của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, cần phải trải qua các cấp học: cấp Phật học (2 năm - không bt buộc), Trung cp Pht học (4 m); Cao đng Pht học (3 m) hoặc Học viện Phật giáo (4 năm). Cả nước 4 học viện Phật giáo, bao gồm Học viện Phật giáo tại Nội, Huế, Thành phố Hồ Chí Minh Cần Thơ. Hiện tại, Học viện Phật giáo Việt Nam đang đào tạo cả ba bậc học cử nhân, thạc tiếnPhật học.
Những thành tựu của giáo dục Phật giáo nói chung, giáo dục học viện Phật giáo nói riêng rất nhiều, đã được đề cập rất nhiều. Bài viết này sẽ hầu như không nhắc lại. Nội dung của tham luận này đề cập đến những hạn chế của việc giáo dục đào tạo tại các học viện


*. Nghiên cứu sinh Tiếnkhoa Văn hóa học, trường Đại học Khoa học hội Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
 

Phật giáo tại Việt Nam, nhằm hướng đến sự đổi mới toàn diện, hội nhập sâu rộng với thế giới về phương thức điều hành giảng dạy tại học viện, để đạt được chuẩn quốc gia quốc tế về chất lượng cũng như môi trường đàoto thực sci mở, dân chủ theo triết “Lấy người học m trung mthay vì “xem người học là qun chúng.
Chúng tôi chủ yếu sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu, phân tích thống từ các nguồn tài liệu tin cậy sẵn, cũng như phương pháp quan sát tham dự vớicách một sinh viên tốt nghiệp từ học viện niên khóa 2009 - 2013.
Phạm vi nghiên cứu Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, học viện tại Huế Nội được sử dụng để so sánh đối chiếu. Thời gian nghiên cứu được xác định từ 1984 đến nay. Từ thời điểm Học viện Phật giáo Việt Nam được thành lập.
  1. TRIẾT GIÁO DỤC VIỆT NAM THẾ GIỚI
    1. Triết lý go dục một số quc gia trên thế giới
Triết lý giáo dục là khái nim chỉ cho tinh thần chđo của giáo dục, định hướng vận hành toàn bộ hoạt động giáo dục. Về hình thức, triết lý giáo dục phải được trình bày dưới dạng đúc, ngắn gọn. Về nội dung, triết lý giáo dục phải chỉ ra được những yêu cầu bản của sản phẩm nền giáo dục hướng tới, tức phải trả lời câu hỏi hoạt động dạy – học nhằm mục đích gì? Nền giáo dục muốn đào tạo ra con người như thế nào?
Theo GS. TSKH. Trn Ngọc Thêm, Triết lý giáo dục có thể hiu tưởng giáo dục được trình bày đúc, ngắn gọn về những yêu cầu bản của sản phẩm nền giáo dục đó hướng tới, nhằm đáp ứng các nhu cầu của hội trong một bối cảnh cụ thể - không gian
– thời gian nht định, có tác dụng định hướng cho hot động. Triết lý giáo dục không đồng nhất với mục đích, song mục đích giáo dục nội dung quan trọng nhất, mọi thành phần khác như đối tượng, nội dung, phương pháp giáo dục… đều từ đó ra”1.


  1. Trần Ngọc Thêm, “Triết giáo dục cho Việt Nam: Góc nhìn Trần Ngọc Thêm”: https://
 

phương Tây, triết lý giáo dục theo nghĩa rộng nhữngtưởng cốt lõi được chắt lọc từ thực tiễn hoặc từ lý luận triết học giáo dục. Khảo cứu về các nhàluận giáo dục, triết gia Bertrand Russull cho rằng: Ở bất cứ thời điểm nào, hai mục tiêu giáo dục luôn hướng tới hướng dẫn huấn luyện hành vi tốt cho con người2.
Theo Thích Viên Trí, hin có ba khuynh hướng về triết lý giáo dục đáng chú ý, đótriết lý giáo dục của hệ thống đại học tại Đức, Pháp và Hoa K. Tác giviết: Triết lý giáo dục của hệ thống đại học tại Đức cho rng đại học là nơi làm ra và phổ biến tri thc. Theo Albert Einstein, nếu nhà trường chỉ nơi sản xuất trao truyền kiến thức một sai lầm lớn của giáo dục, kiến thức chết chóc nhà trường thì phục vụ cho sự sống. Krisnamurti cũng đồng quan điểm với Einstein khi cho rằng giáo dục không chỉ học từ sách vở, nhớ những sự kiện, còn phải học cách nhìn cách lắng nghe những sách vở muốn nói, dù đó đúng hay sai. Giáo dục không chỉ vượt qua những kỳ thi, nhận văn bằng, tìm được công việc, lập gia đình, giáo dục phải khả năng giúp con người lắng nghe tiếng chim kêu, bầu trời xanh, những cảnh đẹp tuyệt vời của cây cỏ, núi rừng, cảm xúc cảm nhận chúng một cách trực tiếp thực thụ. Tất cả đó mới thật sự giáo dục.
Trong khi đó, các đại học tại Pháp lại chủ trương rng đại học đào to người lao động có ng lực phục vụ cho đt nước. Nghĩa là, vai trò của giáo dục ở đây chỉ nhiệm vụ huấn luyện con người trở thành công cụ theo khuôn mẫu định sẵn, đánh mất đi sự sáng tạo, sự tự do, không cảm nhận được ý nghĩa của cuộc sống.
Trong khi y, các đại học tại Âu Mlại cho rng đại học tôi luyn tư cách, bản lĩnh, nhân sinh quan cho thanh niên, tôn trọng sự phát trin con người cá nn. Câu nói này cn được hiu là con người tuy thể làm những mình muốn, nhưng không thể (chạy theo) những mình muốn. Nghĩa không phải khía cạnh nào của con



giaovn.blogspot.com/2018/12/triet-li-giao-duc-cho-viet-nam-goc-nhin.html
  1. Bertrand Russell, Education and Social Order, Routledge, London.
 

người cũng cần được phát triển, bởi lẽ nếu phát triển một cách tự do, tùy tiện hoặc phiến diện sẽ đưa đến sự mất cân đối trong mỗi cá nhân và cả hội. Bởi vì, mục tiêu của giáo dục không đơn giản chỉ giáo dục cá nhân biết tư duy hành động độc lập, phải hướng dẫn con người thấy mục tiêu cao cả nhất của đời sống của mình”3.
    1. Triết lý go dục ti Việt Nam
Trong xã hi Vit Nam thời phong kiến, tư tưởng chđo mà nền giáo dục xây dựng trên nền tảng văn hóa Nho giáo hướng tới dy/học để làm quan, nó có thể xem là triết lý giáo dục đại din4. tưởng này thể hiện được cả hai mục tiêu nghề nghiệp danh lợi; là tư tưởng giáo dục chung cho cả người dy ln người học. Triết lý này chi phối tất cả cáctưởng giáo dục còn lại: Để được làm quan thì phải thi cử, việc làm quan thi cử cần kiến thức thì người xưa chỉ tập trung dạy học đúng những kiến thức đó. Với mục tiêu thuộc bài để thi đỗ làm quan, chứ không phải sáng tạo để đưa hội tiến lên, thì phương pháp giáo dục phải lấy thầy làm trung tâm: “Kng thy đố mày làm nên.
Trong xã hi Vit Nam thời thực dân, triết lý giáo dục của chính quyền cai trị được thay đổi từ “học để làm quan” sang “học để làm công chức” phục vụ chính quyền thuộc địa, nghĩa về bản chất không thay đổi. Còn nếu nhìn từ lực lượng trí thức yêu nước đại bộ phận dân chúng thì tư tưởng “giáo dục yêu nước” thể hiện mục tiêu giành độc lập dân tộc với phương châm “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” thể xem triết lý giáo dục chủ đạo.
Ngay sau khi đất nước vừa giành được độc lập,tưởng giáo dục phổ biến lúc bấy giờ“Xây dựng một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam. Nn giáo dục nước Vit Nam Dân chCng hòađt trên ba nguyên tắc căn bản: đại chúng hóa, dân tộc hóa, khoa học hóa, theo tôn chỉ phụng sựtưởng Quốc gia dân chủ.miền Nam,

  1. Thích Viên Trí, “Tính khả thi của triết lý giáo dục Phật giáo”, https://www.dieungu. org/a18621/tinh-kha-thi-cua-triet-ly-giao-duc-phat-giao-thich-vien-tri
  2. Trần Ngọc Thêm, “Triết giáo dục cho Việt Nam: Góc nhìn Trần Ngọc Thêm”: https:// giaovn.blogspot.com/2018/12/triet-li-giao-duc-cho-viet-nam-goc-nhin.html
 

Việt Nam Cộng hòa quy định “Văn hóa giáo dục phải được đặt vào ng quốc sách trên căn bn dân tộc, khoa học và nn bn. Ngoài ra còn có các tư tưởng: Vừa hồng vừa chuyên,Giáo dục toàn din đức, trí, văn, th, mhay “Học mãi để tiến bộ mãi, “Học suốt đời, Xây dựng xã hi học tập.5
  1. GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG GIÁO DỤC HIỆN ĐẠI
    1. Khái niệm giáo dục truyền thống giáo dục hiện đại
nghĩa rộng, truyền thống chỉ cho các giá trị cổ xưa, lâu đời, thiên về ổn định trong khi hiện đại ám chỉ các giá trị mới, hiện đại thiên về thay đổi, cập nhật, phát triển. Giáo dục truyền thống thể được hiểu phương thức giáo dục cổ xưa, theo kiểu ông đồ dạy học, học sinh phải tuân thủ, nghe theo tuyệt đối không được phép cãi lời thầy giáo. Lối giáo dục này được bổ trợ bằng câu thành ngữ “Tiên học lễ hậu học văn” được treo ở mỗi lớp học. Với mục tiêu “con ngoan trò giỏi” suốt nhiều trăm năm nay được người Việt tôn sùng, xem triết lý giáo dục tuyệt đối. Tuy nhiên, thực tiễn cuộc sống luôn thay đổi, triết lý giáo dục kia cũng đã được không ít các nhà văn hóa, các chuyên gia giáo dục phân tích mổ xẻ, đưa ra kết luận cần phải thay đổi.
Chẳng hạn, GS. TSKH. Trần Ngọc Thêm, một chuyên gia về văn hóa Việt Nam từng nhận định: “Giáo dục Việt Nam hôm nay cần tập trung vào hai phần quan trọng nhất phẩm chất năng lực. “Ngoan” chính thuộc về phẩm chất, còn “giỏi” chính thuộc về năng lực. Về phẩm chất, nếu hiểu ngoan “lễ phép” thì được, nhưng đây không phải phẩm chất cần ưu tiên. “lễ phép” nguồn gốc từ chữ “Lễ” của Nho giáo (Tiên học lễ, hậu học văn); “lễ phép” thái độ được coi đúng mực, tỏ ra kính trọng người trên. bao gồm nét nghĩa nề nếp, tôn ty, nhưng cũng cả vâng lời. Còn nếu hiểu ngoan “dễ bảo, vâng lời” thì chắc chắn không một quốc gia phát triển nào trên thế giới đặt ra mục tiêu này.

  1. Trần Ngọc Thêm, “Triết giáo dục cho Việt Nam: Góc nhìn Trần Ngọc Thêm”: https:// giaovn.blogspot.com/2018/12/triet-li-giao-duc-cho-viet-nam-goc-nhin.html
 

Về năng lực, “giỏi” thường được hiểu “có trình độ cao, đáng được km phục, khen ngi. Nhưng trình độ cao về cái ? Lâu nay trong giáo dục năng lực, người Việt Nam thường chỉ chú ý hai thứ: một kiến thức, hai sự tinh khôn. Các thần đồng Việt Nam thường những người trí nhớ siêu phàm, cũng nhớ, cũng biết. Các truyện cổ trong sách giáo khoa thường khuyến khích sự tinh khôn (truyn Trí khôn, các truyn trng ứng xvới sứ thần Trung Quốc hoặc khi đi sứ ở Trung Quốc, chui truyn Trng Qunh...).
Kết quả người Việt Nam (truyền thống) Đông Nam Á thể “ngoan” hơn người Đông Bắc Á; người Đông Bắc Á thể “ngoan” hơn người châu Âu; người châu Âu thể “ngoan” hơn người Mỹ. Về “giỏi” cũng thế: chúng ta đã đang tự hào về những giải thi học sinh giỏi toán, lý quốc tế, về thứ hạng PISA “cao hơn nhiu nước phát trin. Nhưng sự tht là cái ngoanvà giiy ít giúp cho đất nước phát triển, lại càng ít hơn (nếu không nói zero) trong việc đóng góp vào thành tựu trí tuệ nhân loại”6.
Trong khi đó, giáo dục hin đại là li giáo dục dựa vào thực tin cuộc sống, tiếp thu cái hay cái mới của thế giới để áp dụng vào hoàn cảnh hội Việt Nam, không ngừng thay đổi, cập nhật phát triển, hướng đến một nền giáo dục chất lượng, hiệu quả thiết thực. Sự du nhập của các trào lưu văn hóa giáo dục phương Tây, sự quan sát, nghiên cứu, học hỏi của các nền giáo dục của các quốc gia hiện đại sẽ góp phần làm thay đổi quan niệm, nhận thức lề lối của giáo dục Việt Nam. Nếu như trước đây, việc thầy phạt, đánh đòn roi học trò điều hiển nhiên được phép, được cả hội thừa nhận (Đến nỗi, nghề thầy giáo còn được gọi “Gõ đầu trẻ”) thì trong nền giáo dục hiện đại, việc thầy xâm phạm đến thân thể danh dự của học sinh một trong những điều cấm kỵ, thường một phần trong cụm từ “Bạo lực học đường.
Nếu trong nền giáo dục truyền thống, học trò phải răm rắp vâng


  1. Trần Ngọc Thêm, “Đừng bắt triết lý giáo dục phải ôm tất cả”: https://vietnamnet.vn/ vn/giao-duc/khoa-hoc/dung-bat-triet-ly-giao-duc-phai-om-tat-ca-phan-3-348493.html
 

lời thầy cô, bất cứ sự phản kháng nào, ý kiến phản biện, tranh luận… đều những động thái nghiêm trọng, thể dẫn đến hạ bậc hạnh kiểm, đánh giá người thiếu đạo đức trầm trọng… thì trong giáo dục hiện đại, việc học sinh tư duy phản biện trái chiều với giáo viên lại được khuyến khích hơn bao giờ hết. Nếu như trong nền giáo dục truyền thống, học trò bắt buộc phải học thuộc lòng các bài văn mẫu, viết văn cũng theo quy cách, công thức quy định, phải học thuộc lòng theo lối từ chươngkhoa bảng, thì trong giáo dục hiện đại, việc dám nghĩ, dám làm, dám bảo vệ những quan điểm ngược đời, đôi khi lại được xem dấu hiệu của những học trò kiệt xuất. Các bậc thiên tài kiệt xuất như Newton, Galilei… đều nhữngnhân cá biệt như thế.
Như vậy, giáo dục hiện đại luôn tìm cách cải cách, thay mới nhiều yếu tố cổ xưa tính chất bảo thủ, trì trệ, ngăn cản sức sáng tạo cảm hứng đột phá của người học.
    1. Mối liên hệ giữa giáo dục truyền thống hiện đại
Trong đời sng xã hội, ni dung của truyn thống là cái được kế thừa, còn mục tiêu của cả quá trình kế thừa đổi mới tiến tới sự phù hợp với điu kin hin đi. Truyn thống là gch nigiữa quá khứ, hiện tại tương lai. Nếu giáo dục truyền thống cái đã từ trước và nhng cơ chế đc thù ca giáo dục ngày m nay là i mới, cái hiện tại của hội hiện đại thì giữa chúng luôn mối liên hệ biện chứng, ràng buộc chặt chẽ, hữu cơ. Mối quan hệ này tính hai mặt: Một mặt, truyền thống hiện đại thích ứng, hài hòa thúc đẩy lẫn nhau; mặt khác, giữa truyền thống hiện đại sự xung đột đối lập.
Theo Thị Hoài Thanh, mối quan hệ giữa truyền thống hiện đại - giữa giáo dục truyền thống giáo dục hiện đại được thể hiệnhai khía cạnh: Th nhất, giáo dục truyền thống sở, tiền đề của giáo dục hiện đại. Giáo dục truyền thống nền tảng của giáo dục hiện đại; thứ hai là, giữa truyền thống hiện đại đôi khi lại sự đối lập xung đột lẫn nhau7.


7. Lê Thị Hoài Thanh, “Truyền thống hiện đại trong giáo dục đạo đức”: http://www.
 

Như vậy, những yếu tố của giáo dục truyền thống không còn thích ứng vớihội hiện đại; những đặc trưng của giáo dục truyền thống vốn được coi trọng trong quá khứ nay không còn phù hợp với điều kiện mới; thậm chí, những yếu tố truyền thống vật cản đối với quá trình phát triển của giáo dục hiện đại. Giáo dục truyền thống giáo dục hiện đại đại biểu cho các thời đại khác nhau, bắt nguồn từ những điều kiện lịch sử - hội khác nhau.
  1. MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TẠI HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM
3.1.KháiquátvHcvinPhậtgoViệtNamtiThànhphHChíMinh
Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh được tnh lp vào m 1984 với tên gi là Trường Cao cp Pht học Vit Nam, nguồn gốc từ trường Đại học Vạn Hạnh, ngôi trường đại học đầu tiên của Phật giáo tại Việt Nam đã đào tạo thành công một thế hệ thanh niên Việt Nam khá toàn diện. Với mục tiêu ban đầu đào tạo những Tăng Ni sinh kiến thức đại học về giáocăn bản của các bộ phái Phật giáo, lịch sử Phật giáo Việt Nam văn hoá (Phật giáo) Việt Nam, để sau khi tốt nghiệp Cử nhân Phật học thể tiếp tục học cấp cao học, tiến sĩ, trở thành nghiên cứu viên Viện Nghiên Cứu Phật học, hoặc đảm trách các công tác chuyên môn, Pht stại Trung ương Giáo hội, Ban Trstại các tỉnh, tnh trong toàn quốc.
Cho đến nay học viện đã 35 năm tồn tại với 13 khóa đào tạo cử nhân chính quy, khóa đào tạo từ xa, đã tốt nghiệp với 11 phòng - khoa, hiện học viện đang đào tạo cử nhân khóa 14, hệ đào tạo từ xa khóa 4, đào tạo chương trình thạc tiếnPhật học8.
Về hệ thống tổ chức hành chính của học viện (Administration) gồm hai hội đồng bộ phận chuyên trách về hành chánh, đó Hội đồng điều hành (Executive Council) quyết định cấu tổ chức hành



lyluanchinhtri.vn/home/index.php/dao-tao-boi-duong/item/1000-truyen-thong-va-hien- dai-trong-giao-duc-dao-duc.html
    1. Trang thông tin Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh:  http:// www.vbu.edu.vn/
 

chánh chánh sách của Học viện Hội đồng Khoa học Học vụ (Research and Academic Council), quyết định chương trình giáo dục về Phật học, cũng như xét duyệt tiêu chí tuyển nghiên cứu sinh các hoạt động nghiên cứu chuyên ngành.
Hội đồng điều hành học viện gồm viện trưởng, các phó viện trưởng, tổng thư các phó tổng thư ký. Hội đồng khoa học gồm chủ tịch, các phó chủ tịch, thư ký, các phó thư ký, các ủy viên. Bộ phần hành chánh văn phòng gồm chánh chủ sự, trưởng phòng đào tạo, phó văn phòng, thủ quỹ.
Về chương trình đào tạo chi tiết, Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện đang đào tạo cả 3 cấp học cử nhân, thạc tiếnvới 11 chuyên ngành/khoa đào tạo, bao gồm: Khoa Hong pp, khoa Triết học Pht giáo, khoa Pht giáo thế giới, khoa Pht giáo Trung Quốc, khoa Pali, khoa Phạn tạng, khoa Pht giáo Việt Nam, khoa Phật pháp Anh ngữ, khoa Đào tạo sau đại học, khoa Công tác hội khoa Giáo dục mầm non.
Nội dung đào tạo được chia thành hai khối, theo phương thức tín chỉ, khối tổng quát đại cương khối chuyên ngành bao gồm các môn học thuộc các nhóm Khng thực dụng, Văn minh Triết học và Tôn giáo, Toán học và Khoa học tự nhiên và Nn văn học, Kiến thức tổng quát về Phật họckiến thức chuyên ngành về Phật học.
3.2. Những vấn đề còn tồn đọng cần được xem xét
Những thành tựu đạt được của Học viện Phật giáo Việt Nam cùng lớn, nhưng vẫn còn đó một số khiếm khuyết cần được thẳng thắn chỉ ra phương án khắc phục, đáp ứng mục tiêu của học viện “Đào tạo giới tri thức trẻ Phật giáo về các chiều kích học thuyết, lịch sử, tôn giáo văn hoá của Phật giáo Việt Nam từng bước trở thành một trung tâm quốc tế về đào tạo nghiên cứu Phật giáo. Nhiệm vụ chính của Học viện chủ yếu tập trung vào ba lãnh vực là: giảng dạy, nghiên cứu khoa học thông tin học thuật”9.

    1. Giới thiệu về học viện Phật giáo Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh: https://thuvi- enhoasen.org/a5937/hoc-vien-phat-giao-viet-nam-tai-tp-ho-chi-minh
 

Từ năm 2005, bắt nhịp cùng sự thay đổi phát triển của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam, học viện cũng thay đổi chương trình học niên chế với mỗi năm hai học kỳ thành hệ thống tín chỉ (course-credit/unit) theo hệ thống giáo dục tiên tiến phổ quát trên thế giới.
Quyền được chn môn hc và giảng viên giảng dy của Tăng Ni sinh viên
Về thuyết, khi đào tạo theo phương thức tín chỉ, học viên chỉ cần học nhận đủ các tín chỉ theo quy định thì thể tốt nghiệp, nhận bằng cử nhân. Các tín chỉ luôn sự chọn lựa, nghĩa trong khối các môn học bắt buộc học viên phải vượt qua, số môn học được tổ chức dạy phải nhiều hơn số môn học cần đủ. Thí dụ, trong khối các môn học bắt buộc, sinh viên bắt buộc phải vượt qua 6 môn học, thì ít nhất nhà trường phải tổ chức được 8-9 môn học (thuộc khối bắt buộc) cho sinh viên quyền chọn lựa. Như vậy, vừa cho sinh viên được tự do chọn lựa những môn học yêu thích, vừa thước đo chất lượng giảng dạy của giảng viên sự hài lòng của học viên.
Đến bao giờ, tại Học viện Phật giáo Việt Nam, Tăng Ni sinh viên được quyền chọn lựa môn học, chọn lựa người giảng dạy theo chương trình đào tạo, quyền chọn lựa học môn này với giảng viên A, không học môn kia với giảng viên B? Khi đó, chất lượng đào tạo nhất định sẽ được cải thiện. Các giảng viên bắt buộc phải tự thay đổi chính mình, phải nỗ lực soạn bài giảng, giảng hay hơn hấp dẫn Tăng Ni sinh viên hơn. Điều sẻ xảy ra nếu trong liên tiếp 2-3 học kỳ, một vị giảng viên không thể tổ chức lớp để giảng dạy môn học của mình không ai đăng hoặc số lượng quá ít?
Vai trò của phòng Sinh viên vụ
Trên thực tế, sinh viên không quyền lựa chọn các môn học, đặc biệt khối các môn học bắt buộc. Dẫn đến một tình trạng những vị giảng viên nào đứng lớp dạy các môn học bắt buộc một quyền năng giới hạn. Vấn đề cần đặt ra tính dân chủ của Tăng Ni sinh tại học viện, những đối tượng chính được phục vụ đến đâu?
 

quyền hạn của một vị giảng viên, kể cả trưởng khoa cao đến mức nào? khi các vấn đề tương tự như trên, ai sẽ người đứng ra bảo vệ Tăng Ni sinh viên? Ai, bộ phận nào sẽ thực thi côngtại một môi trường học viện Phật giáo?
các trường đại học bên ngoài hội, phòng Sinh viên vụ nơi bảo vệ quyền lợi, tiếng nói của sinh viên, nơi luôn nhộn nhịp đông vui, nơi sinh viên quyền lên tiếng nói đề đạt những nguyện vọng chính đáng của mình. Nhưng phòng Sinh viên vụ tại Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh (cũng như các học viện khác) luôn đóng cửa im lìm, hầu như chưa từng bất kỳ một trường hợp nào lên tiếng, bảo vệ Tăng Ni sinh.
Những điều trên, phần vượt qua khái niệm giáo dục truyền thống, tiệm cận đến các khái niệm mô hình giáo dục hiện đại. thể đụng chạm đến một số lượng giảng viên nào đó nhưng điều rất cần được lưu tâm xem xét.
  1. SỰ THỐNG NHẤT VỀ CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠYKHẢ NĂNG LIÊN THÔNG, CHUYỂN TIẾP HỌC VIÊN GIỮA CÁC HỌC VIỆN
Vấn đề thống nhất về chương trình giảng dạy tại 4 học viện duy nhất tại Việt Nam cũng một điều cần lưu tâm. Hiện tại cả nước 4 học viện Phật giáo tại Nội, Huế, Thành phố Hồ Chí Minh Cần Thơ (Nam tông). Về mặt mục tiêu, chủ trương không quá nhiều khác biệt. Nhưng khi một Tăng Ni sinh viên đang học tại một học viện Phật giáo tại một địa phương, những hoàn cảnh do nhân, muốn chuyển đến tiếp tục theo học các năm còn lại tại một học viện khác điều cùng rắc rối dường như chưa từng tiền lệ. trên thực tế, dường như chưa chế điều chuyển tăng ni sinh viên giữa các học viện, cho đào tạo tín chỉ vốn một trong những điều kiện cực kỳ thuận lợi để thực hiện việc đó.
Nếu một Tăng Ni sinh viên đang học năm 2 Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế, muốn chuyển vào Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, thì không biết phải bắt đầu từ đâu
 

phải làm thế nào. Trên thực tế, họ dường như không được chấp nhận, nếu được chấp nhận thì cũng phải học lại từ đầu, tất cả những đã học tại học việnđều phải vứt bỏ.
Một sinh viên đang học năm 3 tại một trong các trường đại học tại Việt Nam (Thuộc danh mục được Bộ Giáo dục Đào tạo Hoa Kỳ thừa nhận) khi chuyển sang Mỹ, vẫn được thừa nhận được phép học tiếp (dĩ nhiên phải học bổ túc một số tín chỉ bắt buộc), vậy rào cản nào, không thể cho phép một Tăng Ni sinh học viện Phật giáo chuyển từ nơi này đến nơi khác để tiếp tục học tập nghiên cứu? Đây cũng một câu hỏi bỏ ngỏ để các nhà giáo dục Phật giáo, các vị giáo sư, các nhà quản lý học viện Phật giáo cần lưu tâm tìm phương án giải quyết ổn thỏa.
Ở khía cạnh rộng hơn, hội liên thông với các trường đại học bên ngoài. Thực ra hội để Tăng Ni sinh viên học viện sau khi tốt nghiệp, học thêm 1-2 năm với các tín chỉ bổ sung tại các trường đại học bên ngoài không phải không khả thi. Đã từng những vị giáo hàng đầu của khoa Văn hóa học – trường Đại học Khoa học hội Nhân vănĐại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh thc mc với chúng tôi Tại sao học vin Pht giáokng đt vn đề đào tạo liên thông đào tạo với khoa Văn hóa học cũng như các khoa khác của trường?.
  1. VẤN ĐỀ CHẤT LƯỢNG ĐẦU RA HỘI CỐNG HIẾN SAU KHI TỐT NGHIỆP
Chất lượng đầu ra của Tăng Ni sinh viên học viện hội cống hiến cũng một vấn đề lớn cần được lưu tâm xem xét. Vềthuyết, Tăng Ni sinh viên tốt nghiệp học viện, được cấp bằng cử nhân thể độc lp nghiên cứu, ging dy và gánh vác các Pht sự cp Trung ương đến địa phương. Nhưng trên thực tế, một Tăng Ni sinh viên khi tốt nghiệp học viện Phật giáo, trình độ thực lực như thế nào?
Nếu so sánh, thì hiểu biếtbản lĩnh của họ được bao nhiêu phần trăm các cử nhân tốt nghiệp đại học chính quy bên ngoài hội? Công tâm xét, thì kém hơn nhiều, kém hơn về phương pháp luận, về khả năng giải quyết các tình huống, cả hiểu biết về kiến thức nền tảng.
 

đâu tạo nên chất lượng đó? Tác giả Thích Thanh Thắng, nhận định: “Hiện nay, việc phải chạy theo chỉ tiêu của các trường đại học đã cho ra một sản phẩm giáo dục ở chất lượng thấp. Sự khủng hoảng của nền giáo dục phần nào đã ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục Phật học tại các trường Phật học. Không chỉ việc thi cử chưa nghiêm túc, trình độ thẩm định chưa cao ngay cả việc nhờ vào các mối quan hệ gửi gắm, gần như giáo dục Phật học vẫn cho ra những sản phẩm giáo dục chưa đạt chuẩn. Nhìn thẳng vào thực tế này để thấy sự mâu thuẫn một khi bằng cấp trở thành chiếc bình phong để một số người mượn vào đó tìm kiếm danh lợi. Nói thế để thấy, ngay cả ở môi trường giáo dục Phật học ở nước ngoài, nếu thiếu một môi trường chuẩn căn bản thì bằng cấp đó, cho dù được ghi học vị tiến sĩ thì cũng chỉ một thứ bằng cấp giả hiệu, nhiều khi gây áp lực ngay cả đối với người đang nắm giữ bằng cấp ấy. Bởi lẽ chưa nói đến vai trò tu tập giới định tuệ của một hành giả, trình độ Phật học dẫu cũng phải được tăng ni sinh chứng tỏ qua khả năng nghiên cứu, đọc viết, thuyết trình10
Cần định hướng như thế nào để một cử nhân Phật học xuất thân từ học viện Phật giáo, những tố chất đạt chuẩn về nền tảng sở như ở thế tục, lại những thế mạnh về trình độ đặc trưng của giới tu sĩ Phật giáo?
Đại học Mahachulalongkorn, Thái Lan, một Tăng Ni sinh tốt nghiệp tại trường ngoài việc hoàn tất các chương trình nghiên cứu, học tập bắt buộc, họ đều phải trải qua một qua trình thực tập thiền tọa tập trung, thời gian thể liên tục 1 tuần, 10 ngày hoặc 2 tuần theo từng cấp học cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ, gần như một hình thức nhập thất chuyên tu. Vượt qua cửa ải này, thể xem đạt một môn học về thực hành tâm linh. Nên chăng, học viện Phật giáo tại Việt Nam nên nghiên cứu mô hình này để linh hoạt áp dụng. Một trung tâm nghiên cứu đào tạo Phật học lớn hàng đầu đất nước như học


  1. Thích Thanh Thắng, “Mô Hình nào cho Học viện Phật giáo Việt Nam”: http://www. daophatngaynay.com/vn/giao-duc/11299-Tham-luan-ve-mot-mo-hinh-Hoc-vien-Phat-hoc- tai-Viet-Nam.html
 

viện Phật giáo, chưa hội nghị khoa học hàng năm, chưa tạp chí nghiên cứu Phật học chuyên sâu, tạo sân chơi cho Tăng Ni sinh viên làm quen phát triển năng lực nghiên cứu, dường như một thiếu sót lớn. Nên chăng những quy định về yêu cầu các bài báo nghiên cứu, các quyển sách xuất bản như một trong những yêu cầu để tốt nghiệp?
Tác giả Thích Thanh Thắng nhận xét đầy chua cay: “Nếu giáo dục Phật học không thể tạo ra một môi trường giáo dục đặc thù, thì một thời gian không xasẽ đi vào bế tắc, thậm chí khủng hoảng nếu cứ tiếp tục đi theo mô hình của giáo dục thế tục. Bởi đi theo mô hình đó, đơn thuần chỉ sự bổ sung các kiến thức hợp thức hoá bằng cấp cho đầu ra, như vậy giáo dục Phật học không khác thể hiện một sự nguỵ biện, lấy cái học đa văn thế tục làm thành một thứ Phật học giả hiệu, không đến nơi đến chốn”11.
Một vấn đề khác cũng cần được đề cập đó sự chồng chéo, dẫm đạp lên nhau của các nội dung lĩnh vực đào tạo. Học viện Phật giáo Vit Nam có hẳn một khoa “Hong pp, mục đích là to nên những Tăng Ni trẻ năng lực để hoằng pháp lợi sinh, thuyết pháp giảng kinh, tổ chức sự kiện, đem Phật giáo vào sâu trong cuộc sống của qun chúng nn dân. Trong khi đó, Ban Hong pp Trung ương cũng hẳn một trường đào tạo cao – trung cấp giảng (Chùa Hòa Khánh - Bình Thạnh). Hai chương trình này, hai nhóm đối tượng học viên này lại dường như chẳng mối liên hệ với nhau. Đó vừa một sự lãng phí về nguồn lực, thời gian kinh phí đào tạo, lại một nghịchkhác là, người tốt nghiệp chương trình cao – trung cấp giảng thì được cấp bằng giảng sư, nhưng người tốt nghiệp khoa hoằng pháp thuộc học viện thì cũng chỉ được cấp bằng cử nhân như bao nhiêu chuyên khoa khác. Đó chưa nói, bao nhiêu phần trăm Tăng Ni sinh viên tốt nghiệp cử nhân từ học viện đủ tự tin bản lĩnh cũng như hội để ngồi trên pháp tòa


  1. Thích Thanh Thắng, “Mô hình nào cho Học viện Phật giáo Việt Nam”: http://www. daophatngaynay.com/vn/giao-duc/11299-Tham-luan-ve-mot-mo-hinh-Hoc-vien-Phat-hoc- tai-Viet-Nam.html
 

thuyết pháp, tổ chức các sự kiện? Điều thực ra quyền hạn chủ yếu nằmnhững vị trụ trì. đa phần các vị trụ trì lại không học khoa Hoằng pháp của học viện.
Việc giải quyết nhu cầu đóng góp cho Tăng Ni sinh tốt nghiệp một nhu cầu cấp bách thiết thực. Nếu không, học học viện, tốt nghiệp học viện chỉ việc làm cho có, học xong cũng chẳng biết làm gì, vậy tiếp tục kiếm hội đi du học để giết thời gian, học mãi cho đến khi cầm tấm bằng tiếntrở về, cũng lại càng không hội để cống hiến. Sự lãng phí về thời gian, tiền bạc công sức cùng lớn.
KẾT LUẬN
Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện đang đơn vị đi đầu trong cả bốn học viện Phật giáo tại Việt Nam. hình quản lý, đào tạo, các hoạt động tu tập vẫn biểu mẫutưởng để các học viện còn lại noi theo một điều không cần bàn cãi. Tuy nhiên, hoạt động đã tốt rồi, nếu nỗ lực thay đổi làm mới, sẽ tạo hội tốt hơn đi đến đóng góp hiệu quả cao của Phật giáo hội.
Tham luận này, bỏ qua các thành tựu to lớn của học viện, không phải không nhận ra, nhưng trong nội dung hạn hẹp của một bài tham luận, chỉ muốn đóng góp cho hội thảo những ưu tư, kiến nghị của một người đã từng học trải nghiệm môi trường của học viện, những đóng góp, kiến nghị, xây dựng đó thông qua các vấn đề: luận về triết lý giáo dục đông tây, các quan niệm về giáo dục truyền thống giáo dục hiện đại, khái quát về mô hình đào tạo của học viện đề xuất những điểm cần cải tiến, đặt vấn đề về việc thống nhất chương trình đào tạo giữa các học viện, tiến đến khả năng lưu chuyển các học viện từ học viện này sang học viện khác; vấn đề cuối cùng mấy điều bàn bạc về chất lượng Tăng Ni sinh tốt nghiệp hội cống hiến của họ sau khi tốt nghiệp học viện.
Trên tất cả, Phật giáo Việt Nam cần ý thức tự hào về một học viện Phật giáo đang dần hoàn thiện chính mình trong suốt 35 năm qua, không ngừng vươn lên những tầm cao mới.




Tài liệu tham khảo
“Giới thiệu về Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh 2010”: https://thuvienhoasen.org/a5937/hoc-vien- phat-giao-viet-nam-tai-tp-ho-chi-minh
Lê Thị Hoài Thanh, 2015, Truyn thống và hin đại trong giáo dục đo đức, http://www.lyluanchinhtri.vn/home/index. php/dao-tao-boi-duong/item/1000-truyen-thong-va-hien-dai- trong-giao-duc-dao-duc.html.
Thích Thanh Thắng, “Mô hình nào cho Học viện Phật giáo Việt Nam”: http://www.daophatngaynay.com/vn/giao-duc/11299- Tham-luan-ve-mot-mo-hinh-Hoc-vien-Phat-hoc-tai-Viet-Nam. html
Thích Viên Trí, Tínhkhthicủatriếtlýgiáodục Phtgiáo, https:// www.dieungu.org/a18621/tinh-kha-thi-cua-triet-ly-giao-duc- phat-giao-thich-vien-tri
Trần Ngọc Thêm, 2016, “Đừng bắt triết lý giáo dục phải ôm tất cả”: https://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/khoa-hoc/dung-bat-tri- et-ly-giao-duc-phai-om-tat-ca-phan-3-348493.htmlTrn Ngọc Thêm, 2018, Triết lý giáo dục cho Vit Nam: Góc nhìn Trn Ngọc Thêm”: https://giaovn.blogspot.com/2018/12/triet-li- giao-duc-cho-viet-nam-goc-nhin.html
Trang thông tin Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, http://www.vbu.edu.vn/

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây