40. ĐỔI MỚI GIÁO DỤC ĐẠIHỌCPHẬTGIÁO LIÊN HỆ HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thứ sáu - 06/12/2019 07:54
ĐỔI MỚI GIÁO DỤC ĐIHỌCPHTGIÁO LIÊN HỆ HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
 
TS.ĐĐ. Thích Không
 
 
  1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong bi cnh toàn cu hóa và hi nhập quốc tế, ng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào nguồn lực lao động. Cạnh tranh nguồn lực lao động đòi hỏi người lao động không những kiến thức chung còn phải kỹ năng nghề nghiệp, năng lực thực hành nghề nghiệp, tác phong thái độ làm vic chuyên nghip. Trước bi cnh đó, Nghị quyết 29-NQ/TW của Ban chấp nh Trung ương khóa XI đã nhấn mạnh đến nhim vụ đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo đại học, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa hội nhập quốc tế.
Thiết nghĩ, nhiệm vụ đổi mới căn bản toàn diện này cũng cần được thực hiện trong môi trường giáo dục Phật giáo hiện nay, cụ thể giáo dục đại học Phật giáo. Bởi lẽ giáo dục luôn nằm trong xu hướng vận động của khoa học công nghệ biến đổi không ngừng.đổi mới chúng ta mới thể tiếp tục đào tạo ra những thế hệ Tăng Ni tài đức với đầy đủ năng lực, phẩm chất để cống 
hiến cho đạo pháp, phụng sự cho Giáo hội thành công trong hoằng pháp.
Để giáo dục đại học Phật giáo đáp ứng yêu cầu hội hội nhập quốc tế đòi hỏi phải những định hướng, chiến lược cách làm mang tầm mô của Giáo hội kết hợp với nỗ lực tự thân của các sở đào tạo trong đổi mới toàn diện từ chương trình đào tạo, phương pháp tiến hành quá trình dạy học, đánh giá kết quả đầu ra đến nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, gắn đào tạo với sự phát trin khoa học công ngh. Trong phạm vi bài viết này tác gipn tích làm các đề xuất căn bản đối với việc đổi mới hoạt động, chương trình đào tạo đại học Phật giáo; từ đó liên hệ vào việc đổi mới hoạt động đào tạoHọc viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh.
  1. NỘI DUNG
Để thích ứng với bối cảnh thời đại, tăng cường khả năng cạnh tranh đòi hỏi các trường đại học, cao đẳng trong hệ thống giáo dục quốc gia phải đổi mới hoạt động đào tạo. Về mục tiêu, đặc trưng giáo dục Phật giáo không hướng đến việc cạnh tranh, so sánh với bất kỳ loại hình giáo dục nào trong nước cũng như trên thế giới. Xong, đặc trong bối cảnh sự phát triển của thời đại thì giáo dục đại học Phật giáo Việt Nam cũng cần sự thay đổi để không bị lạc hậu, vị thế trong nước lẫn quốc tế, góp phần nâng cao vai trò, uy tín của tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Theo tác giả, giáo dục đại học Phật giáo hiện nay cần thực hiện đổi mới trên một số khía cạnh sau:
Th nhất, cần thay đổi quan điểm đào tạo trong quá trình đổi mới
Trong thời đại mới, người ta skng còn quá quan trng đến tấm bằng một cách hình thức cũng như quan tâm đến nguồn gốc xuất thân hay những mối quan hệ của người học khi ra trường, vấn đề kiến thức, trình độ chuyên môn, kỹ năng hoằng pháp, đạo hạnh người tu sĩ… Do đó, vấn đề đặt ra đối với người thầy không phải đi tìm lời giải cho bài toán: Tăng ni sẽ học được kiến thức gì, kỹ 
năng qua mỗi bài giảng, mỗi giờ lên lớp. Yêu cầu mới cần đi tìm ẩn số cho bài toán: Tăng ni học bài đó để làm gì? Vận dụng tri thức được trang bị qua mỗi bài học vào tu tập, vào thực tiễn cuộc sống đầy sôi động như thế nào? Điều này, đòi hỏi người thầy không chỉ đóng vai trò của nhà phạm cần linh hoạt trong nhiều vai diễn khác nhau mới thể tìm ra lời giải thỏa đáng của bài toán trong mô hình giáo dục hiện đại.
Mặt khác, trong cuộc cách mạng công nghệ 4.0, hội dành cho tất cả mọi người như nhau. Ai năng lực thực sự, trình độ chuyên môn tốt, kỹ năng thể tạo ra nhiều giá trị cho hội, người đó sẽ thành công. vậy, thực hiện đổi mới phải bắt đầu từ tư duy, cách nghĩ, cách làm, cách quản lý của Hội đồng điều nh. Trong đó, cn khc phục tư duy bảo th, trì tr, hình thức lớp bài, đọc chép, bnh tnh tích, hư danh, chy theo bng cp. Trong bối cảnh mới, sự thành công của một sở giáo dục không phải số lượng sinh viên họ đào tạo, thành tích nhà trường đạt được đánh giá qua sản phẩm đầu ra sinh viên họ đào tạo cống hiến được cho hội.
Th hai, đổi mới chương trình đào tạo
Chương trình đào tạo đóng vai trò cùng quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng đào tạo, từ thực trạng chương trình đào tạo còn nhiều bất cập như hiện nay các sở đào tạo đại học Phật giáo cần thống nhất đầunhiều hơn trong việc nghiên cứu xây dựng chương trình đào tạo theo hướng tăng tính chuyên sâu vào môn học, đảm bảo sự cân đối giữa lý thuyết với thực hành, đặc biệt phải gắn với việc vận dụng Phật pháp giải quyết các vấn đề thực tiễn hội. Đa số các Đề cương môn học trong các trường Phật học hiện nay đều đặt nặng hầu như các giờ thuyết chưa sự phân bố hài hòa với giờ thực hành/ thảo luận hay tự học trước sau lên lớp.
Ngoài ra, cần quan tâm xây dựng hoàn chỉnh chương trình đào tạo theo học chế tín chỉ hướng đến tăng cường các môn học tự chọn bên cạnh các môn học bắt buộc tạo điều kiện thuận lợi cho Tăng ni dễ dàng đăng học theo trình độ, khả năng, tốc độ và 
nguyện vọng lựa chọn khác nhau. Lưu ý, tự chọn thực sự chứ không phải áp đặt lên Tăng ni. Thực tế đã chứng minh việc áp dụng học chế tín chỉ nhiều ưu điểm, giải pháp tối ưu để đạt được mục tiêu của giáo dục hiện đại, cách thức tổ chức này tạo sở cho các trường đại học nghiên cứu, áp dụng chuyển đổi phương pháp thực hiện hoạt động dạy học nặng về truyền thụ kiến thức, coi việc dạy học trung tâm sang hình thức đào tạo lấy người học làm trung tâm trong quá trình đào tạo nhằm phát huy tính chủ động, tích cực của người học. Chương trình đào tạo được cập nhật thường xuyên đáp ứng nhu cầu của hội; công khai nội dung các chương trình đào tạo xuất xứ chương trình tham khảo trên trang thông tin điện tử của trường.
Nhà trường cần công khai chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo, xây dựng chương trình đào tạo theo định hướng ứng dụng, chú trọng khung năng lực của Tăng ni sau khi ra trường trên sở nghiên cứu các yêu cầu mới trong hội với từng chuyên ngành đào tạo. Nhà trường cần xác định mỗi Tăng ni một người hoằng pháp viên, trụ trì trong tương lai, với khung năng lực bao gồm các thành tố như kiến thức chuyên môn, kỹ năng hay khả năng áp dụng Phật pháp, vận dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào việc tổ chức cuộc sống tu học, hoằng pháp thái độ phụng sự đầy đủ ý thức, tinh thần trách nhiệm trong sự liên đới với tổ chức Giáo hội, hội.
Th ba, đổi mới hoạt động đào tạo theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các yếu tố nội dung, chương trình, phương pháp, thời gian, không gian
Giáo dục đại học theo hướng mở cần phải những điều chỉnh nhất định về chương trình theo hướng cập nhật thường xuyên về kiến thức đa dạng từ nhiều nguồn tài liệu; sử dụng giáo trình, tài liệu trong nước hoặc ngoài nước một cách linh hoạt, nội dung giảng dạy phải bám sát phù hợp yêu cầu thực tiễn của chuyên ngành đào tạo. Với đặc trưng khuyến khích việc tự học, tự nghiên cứu của nền giáo dục mở người học được lựa chọn nội dung, phương pháp, địa điểm, thời gian học tập, thực tập, thực tế; được phát huy năng 
lực tự thân tính tích cực, tự giác của mình trong việc tìm kiếm chiếm lĩnh tri thức; người học cũng thể chủ động trình bày kinh nghiệm học tập, kết quả nghiên cứu hay những ý tưởng sáng tạo cho một vấn đề cụ thể như một diễn giảng, họ vừa tham gia học tập vừa tham gia các dự án cộng đồng, hỗ trợ giảng viên trong việc truyền đạt kiến thức đến các huynh đệ đang cùng học.
Th tư, đổi mới phương pháp dạy học
Sự phát triển công nghệ thông tin, công cụ kỹ thuật số, hệ thống kết nối mạng và siêu dữ liệu sẽ là những công cụ và phương tiện tốt để thay đi cách thức tổ chức và phương pp ging dy. Trước đây, giảng viên người cung cấp kiến thức chính chủ yếu cho sinh viên, ngoài ra, sinh viênthể tiếp thu kiến thức từ sách vở, tài liệu một số nguồn khác nhưng không nhiều. Ngày nay, sinh viên thể tiếp nhận thông tin, kiến thức từ rất nhiều nguồn phong phú, đa dạng, không hạn chế về không gian thời gian. Các phương thức học tập chủ yếu đang thịnh hành học theo nội dung chương trình đã được thiết lập sẵn sự hướng dẫn của giảng viên, tự học, tự nghiên cứu theo nhóm nhỏ học trên mạng thông qua nền tảng kỹ thut s. Trong khi đó, ở các trường đại học Pht giáo hin nay, mô hình dạy học chủ yếu vẫn theo định dạng cũ. Hình ảnh giáo dục truyền thống đã trở nên quen thuộc, mặcTăng ni sinh học theo học chế tín chỉ nhưng vẫn tổ chức như học biên chế theo năm, các lớp học với số lượng quá đông khi trên 200 người. Hình thức đọc chép vẫn duy trì, Tăng ni sinh lắng nghe giảng viên giảng bài ghi chép lại bằng bút, trên giấy để về học thuộc lòng.
Trong khi đó, trên thế giới và các trường đại học tiêu biu trong nước đã chuyển đổi lớp học truyền thống bằng các lớp học trực tuyến, lớp học ảo với công cụ hỗ trợ như các cảm biến kết nối không gian mạng… Không gian học tập cũng sẽ đa dạng hơn, thay những phòng thực hành hay phòngphỏng truyền thống, thì người học thể trải nghiệm học tập bằng không gian ảo, thể tương tác trong điều kiện như thật thông qua các phần mềm hệ thống mạng. Tài nguyên học tập số trong điều kiện kết nối không 
gian thật ảo sẽ cùng phong phú, không gian thư viện không còn địa điểm cụ thể nữa, thư viện thể khai thác ở mọi nơi với một số thao tác đơn giản. Chương trình học cũng được thiết kết đa dạng hơn, cụ thể hơn đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người học.
Th năm, đổi mới hoạt động kiểm tra đánh giá trong dạy học
Phương thức kiểm tra, đánh giá tác dụng như bánh lái điều chỉnh phương thức dạy học của giảng viên và phương pháp học tập của sinh viên. Kiểm tra như thế nào thì dy và hc như thế y. Theo quan điểm phát triển năng lực, việc đánh giá kết quả học tập không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức đã học làm trung tâm chú trọng khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống cuộc sống khác nhau.
Kiểm tra đánh giá năng lực của Tăng ni sinh ý nghĩa rất quan trọng. Việc kiểm tra đánh giá khách quan, nghiêm túc, đúng cách, đúng hướng sẽ động lực mạnh mẽ khích lệ sự vươn lên trong học tập, nghiên cứu của Tăng ni sinh. Muốn vậy, các tiêu chí đánh giá cần vừa mang tính toàn diện, vừa mang tính cụ thể, thể định lượng dễ dàng (sử dụng thang đo nhận thức của Bloom), tác dụng khích lệ, phát triển năng lực tư duy, khả năng nắm bắt vấn đề, độc lập, sáng tạo của sinh viên và chú trọng đến các tiêu chí đánh giá sự tiến bộ của người học. Phương pháp đánh giá cần sự kết hợp thu hút sự tham gia của nhiều chủ thể bên cạnh sự đánh giá của người giảng viên; sử dụng đánh giá quá trình đánh giá kết quả cuối cùng để phát huy tính tích cực của người học. Áp dụng nhiều hình thức kiểm tra một cách linh hoạt phù hợp giữa thi viết, thi vấn đáp, thi trắc nghiệm,… Tùy vào đặc trưng môn học, khối lượng kiến thức, chuyên ngành lựa chọn, phối hợp vận dụng linh hoạt các hình thức phù hợp nhằm đạt được hiệu quả cao công bằng. Nội dung thi phải đảm bảo toàn diện phù hợp với mục tiêu môn học trong Đề cương chi tiết, gắnluận với thực tiễn. Tránh các đánh giá theo kiu buộc Tăng ni sinh phải học thuộc lòng các nội dungthuyết, học không đào sâu chỉ đối phó trong các kỳ thi, thiếu tính tư duy, vận dụng sáng tạo. Dễ dẫn đến hiện tượng 
mùa thi, luyn thi, học t, học đi phó, xy ra tình trng quay cóp, nhờ người thi hộ,...
Th sáu, tận dụng tất cả các nguồn lực
Chọn lọc những kinh nghiệm của những nước nền giáo dục Phật giáo phát triển để áp dụng cho nền giáo dục Phật giáo nước ta. Việc này sẽ giúp chúng ta giảm bớt khó khăn, tiết kiệm được thời gian, đi đúng hướng phát triển của thế giới. Khi đó, chất lượng Tăng ni sinh do nền giáo dục Phật giáo Việt Nam đào tạo mới đủ trình độ để hợp tác tổ chức các hoạt động mang tính quốc tế trên toàn cầu.
Tham mưu, đề xuất các ý kiến với các quan, bộ, ban ngành liên quan về các chính sách, chủ trương đào tạo nhằm tận dụng nguồn hỗ trợ từ nhà nước, chính quyền trong hoạt động đào tạo của các trường.
Liên kết với các trường đại học, cao đẳng bên ngoài trong hoạt động đào tạo nhằm tận dụng được thế mạnh của các trường bên ngoài, rút ngắn khoảng cách giữa đào tạo, nghiên cứu triển khai. Mặt khác, tăng cường việc gắn kết giữa sở giáo dục với các tự viện, quan, tổ chức liên quan bên ngoài, để họ trở thành “cánh tay nối dài” trong hoạt động đào tạo của các trường Phật học, nhằm sử dụng hiệu quả trang thiết bị công nghệ của họ phục vụ cho công tác đào tạo, hình thành năng lực thực tiễn cho Tăng ni sinh trong quá trình đào tạo thực tập. Việc này sẽ rất hiệu quả đối với các chuyên ngành hoằng pháp, công tác hội, ngoại ngữ, lịch sử,…
Tăng cường hợp tác các sở đào tạo, các tổ chức quốc tế trong hoạt động đào tạo, tăng cường các hoạt động hợp tác đa phương, song phương trong các lĩnh vực như nghiên cứu khoa học, trao đổi học thuật, đào tạo, bồi dưỡng giảng viên, cán bộ quản lý, quản trị nhà trường,… nhằm trao đổi kinh nghiệm tích lũy những tiến bộ nâng tầm uy tín sở giáo dục Phật giáo Việt Nam.
  1. NHỮNG ĐỔI MỚI TRONG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO CỦA HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NHỮNG NĂM QUA
Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh (Học viện) hiện 12 khoa bao gồm các khoa Pāli, Sānskrit, Phật học
 
Trung Quốc, Pht giáo Vit Nam, Lịch sPht giáo, Triết học Pht giáo, Phật học tiếng Anh, Phật học tiếng Trung, Hoằng pháp, Công tác hội, phạm mầm non, Đào tạo từ xa.
Tin tn của Học vin là Trường Cao cp Pht học Vit Nam, được thành lập vào những năm đầu của thập niên 80, thế kỷ XX, để nối tiếp truyền thống giáo dục của Đại học Vạn Hạnh, một trường đại học tổng hợp đào tạo đa ngành khoa học với nhiều thành phần xã hi theo học. Năm 1997, Trường Cao cp Pht học Vit Nam được chính thức đổi tên thành Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh phát triển cho đến ngày nay. Học viện thực hiện sứ mệnh chính “đào tạo các thế hệ Tăng tài đức để kế thừa gia tài Phật pháp” cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Kể từ năm 2006, Học viện thay đổi chương trình học niên chế với mỗi năm hai học kỳ thành hệ thống tín chỉ theo hệ thống giáo dục tiên tiến phổ quátcác trường đại học, cao đẳng hiện nay. Việc tuyển sinh diễn ra năm hai lần thời gian đổi thành tuyển sinh hàng năm. Số lượng sinh viên ghi danh tuyển sinh theo học ngày càng nhiều, sau mỗi khóa, đã làm cho Học viện trở thành trung tâm thu hút các học giả và các nhà nghiên cứu từ nhiều nơi trên thế giới (từ khóa đầu chỉ hơn 50 Tăng ni sinh viên, ba khóa trở lại đây, số lượng Tăng ni sinh viên tăng lên từ 500 đến 700 người).
Không ngừng đổi mới hoạt động đào tạo, Học viện đã tăng cường các mối quan hệ hợp tác với một số trường đại học trên thế giới. Với Ấn Độ, Đại học Mumbai, Đại học Nalanda. Với Nepal, có Đại học Pht giáo Lumbini. Với Trung Quốc, có Đại học Bắc Kinh, Đại học Phúc Kiến, Viện Khổng Tử. Với Đài Loan, Đại học Phật Quang. Với Thái Lan, Đại học Mahachulalongkorn, Đại học Mahamakut. Hàng năm, Học viện tổ chức hoặc đồng tổ chức hội thảo cấp quốc gia quốc tế, thu hút nhiều học giả khắp nơi trên thế giới tham dự.
Được sự cho phép của Ban Tôn giáo Chính phủ Bộ Giáo dục Đào tạo, năm 2015, Học viện mở khóa cao học đầu tiên đến 
nằm 2019 bắt đầu đào tạo tiến Phật học, góp phần cung ứng nguồn nhân lực phát triển giáo hội đất nước theo hướng bền vững.
Hoạt động đào tạo Học viện đang được đổi mới theo hướng lấy sinh viên làm trung tâm. Tính tích cực của sinh viên được phát huy trong nhiều hoạt động, trong đó đặc biệt trong học tập ng- hiên cứu. Việc quản lý học tập của sinh viên bớt dần tính hành chính áp đặt, tăng dần tính tự giác của sinh viên theo phương châm thu hút sinh viên học tập bằng tính hấp dẫn của bài giảng tính bổ ích thiết thực của việc lên lớp. Học viện cũng đã bắt đầu quan tâm đến sinh viên không chỉ trong quá trình họccả sau khi tốt nghiệp ra trường, trong quá trình phát triển thăng tiến.
Ngoài chức năng của một tôn giáo, đạo Phật còn được xem như một nghệ thuật sống (The Art of Living) khả năng giải quyết những rắc rối trong đời sống thường nhật, đồng thời đem lại hạnh phúc cho những ai học ứng dụng triết lý này. lý do này càng ngày càng rất nhiều người quan tâm, nghiên cứu, học tập hành trì theo con đường giáo dục Phật giáo. Nắm bắt nhu cầu này, Học viện đã thành lập Khoa “Đào tạo từ xa – Online - cấp Cử nhân Phật học” kéo dài trong 4 năm học dành cho mọi tầng lớp hội, số lượng sinh viên của mỗi khóa học lúc lên đến cả ngàn người.
Không chỉ đổi mới về quy mô, chương trình đào tạo. Học viện còn chú trọng vào việc đầu sở vật chất cho nhà trường. Một lần nữa Học viện lại gặp khó khăn về mặt sở vật chất. Năm 2006, Học viện được Nhà nước cấp đất tại Minh Xuân thuộc huyện Bình Chánh để tiến hành xây dựng một sở giáo dục mang tầm cỡ quốc gia quốc tế với diện tích lên đến 25ha. Năm 2012, Học viện đã khởi công xây dựng giai đoạn một đến nay đã tiến hành xây dựng giai đoạn hai của công trình. Dự kiến, khi toàn bộ công trình sở Minh Xuân được hoàn tất, thì đây nơi tu học Phật học nội trú lớn nhất nước, đồng thời môi trường ứng dụng, hành trì các pháp môn trong đạo Phật, nhằm giúp hàng ngàn Tăng ni sinh viên thể sống đời đạo đức trải nghiệm tâm linh hài hòa giữa các truyền thống Nguyên thủy Đại thừa.
 
Nhìn chung, đến nay Học viện đã những đổi mới căn bản toàn diện về hoạt động đào tạo của mình để không ngừng hội nhập phát triển trong nước khu vực. Tuy nhiên, qua quá trình tìm hiểu từ đồng nghiệp, chúng tôi nhận thấy Học viện cần tăng cường hơn nữa việc đổi mới nội dung, đổi mới chương trình đào tạo đổi mới cách thức kiểm tra đánh giá hết sức cần thiết không chỉ nâng cao chất lượng thuần túy phục vụ đạo pháp cấp thiết phục vụ cho hội ngành hoằng pháp của Giáo hội.
  1. KẾT LUẬN
Với xu thế phát triểnhội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, giáo dục đại học Phật giáo cần những bước đổi mới căn bản, toàn diện nhằm nâng cao chất lượng đầu ra, đáp ứng yêu cầu hội, đảm bảo tính thiết thực chiều sâu, chất lượng lẫn khả năng cống hiến, phụng sựcác ban, ngành trực thuộc Giáo hội trong nước quốc tế. Với thực trạng sinh viên tốt nghiệp từ các trường Học viện, cao đẳng trở về trụ xứ cũng chỉ biết tham gia vào lĩnh vực nghi lễ, ứng phó đạo tràng không biết tạo “đất dụng võ” đang gia tăng hàng năm do không đáp ứng được những yêu cầu mới không ngừng biến đổi của hội về cả năng lực chuyên môn lẫn kỹ năng cần thiết. Chúng tôi đã đề xuất một số định hướng nhằm đổi mới các khâu trong hoạt động đào tạo của các sở giáo dục đại học Phật giáo hiện nay như đổi mới chương trình, phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá, cách thức tổ chức đào tạo theo khung năng lực của quốc tế để ngành giáo dục Phật giáo theo kịp những thay đổi của thời đại tiếp tục phát triển, thực hiện sứ mạng của mình. Từ những phân tích cụ thể, chúng tôi đã lấy Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh làm minh họa điển hình về sự đổi mới trong hoạt động giáo dục đào tạo. Hy vọng, bài viết sẽ gợi mở cho chúng ta thêm một vài suy nghĩ mới trong giáo dục đại học Phật giáo hiện nay.

 
***




Tài liệu tham khảo
Giáo hội Phật giáo Việt Nam (2012),Giáo dục Phật giáo Việt Nam định hướng Phát triển”, Nxb. Tôn giáo.
Hiệp hội các trường Đại học, Cao đẳng Việt Nam (2018), Kỷ yếu Hội thảo quốc gia: Đổi mới căn bản toàn diện hoạt động đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng, Nxb. Đà Nẵng.
Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Chính phủ về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường hội nhập quốc tế.
Phạm Thị Huyền (2011), Xây dựng chương trình đào tạo đại học theo định hướng mới nhằm đáp ứng nhu cầuhội, Hội thảo quốc gia: Giáo dục đại học Việt Nam, do Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức.
Phúc Nguyên, Những bước tiến trong công tác giáo dục-đào tạo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, http://btgcp.gov.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây