4. GIÁO DỤC PHẬT GIÁO Ở VIỆT NAMTHỜI HIỆN ĐẠI

Thứ sáu - 06/12/2019 20:41
GIÁO DỤC PHẬT GIÁO Ở VIỆT NAMTHỜI HIỆN ĐẠI
 
PGS.TS. Nguyễn Công

 
  1. GIÁO DỤC PHẬT GIÁOVIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX
Sang thế kỷ XX, nhất 45 năm đầu thế kỷ XX, giáo dục Phật giáo sự chuyển hướng, đặc biệt trong phong trào chấn hưng Phật giáo từ những năm 20 cho đến trước Cách mạng Tháng Tám 1945. Thời gian này, tại các Tổ đình, Tự viện lớn ở các vùng miền đều tổ chức các khóa học từ cấp (cơ bản), đến trung cấp cao hơn để đào tạo tăng tài, phụng sự cho Giáo hội đạo pháp, các tỉnh ở Nam kỳ (Sài Gòn, Gia Định, Rịa, Vĩnh Long, An Giang, Rạch Giá…) những nơi khởi xướng đầu tiên, sau đó mới lan ra Trung k(Huế, Bình Định), và Bắc k(Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng).
- Ở Nam kỳ, trong công cuộc vận động chấn hưng Phật giáo tại miền đất này, vị danh tăng đầu tiên cần được tôn vinh Hòa thượng Khánh Hòa. Đương thời Hòa thượng đã du hành khắp các Tổ đình ở Nam kỳ để vận động chấn hưng kêu gọi các bậc tôn túc trong Giáo hội hưởng ứng, trong số đó các vị Hòa thượng như: Huệ Quang, Pháp Hải, Khánh Anh vị trẻ Thiện Chiếu. Các vị này đã cộng tác chặt chẽ với Hòa thượng Khánh Hòa trong suốt thời 
gian hoạt động của phong trào chấn hưng. Từ đó, một tổ chức tăng sĩ được hình thành: Hội Lục Hòa liên hiệp vào năm 1923 với mục đích là vận động thành lập một Hội Phật giáo Việt Nam toàn quốc, đây sở đầu tiên của phong trào chấn hưng Phật giáo hồi nửa đầu thế kỷ XX, nhưng rất tiếc cuộc vận động thành lập một Giáo hội Phật giáo thống nhất của cả nước lại bất thành. Sau đó, Hòa thượng Khánh Hòa chỉ đạo các vị Từ Nhẫn, Chơn Huệ, Thiện Niệm tổ chức xây dựng Thích học đường Phật học thư . Chính Hòa thượng Khánh Hòa Thiện Chiếu còn vận động Phật tử hữu m ủng hộ tài chính để mua bộ Tc Tng kinh gồm 750 bộ cho thư xã. Hòa thượng còn chủ trương ra tờ tập san Phật học bằng Quốc ngữ: Pháp Âm. Đây tờ tạp chí đầu tiên của Phật giáo trong phong trào chấn hưng. Không bao lâu sau, Thiện Chiếu cho ra đời tờ Phật hóa tân thanh niên, nhằm hướng tới giới thanh niên trí thức tân thời. Hòa thượng còn vận động để thành lập Hội Nam kỳ Nghiên cứu Phật học Sài Gòn vào năm 1931, với sự cộng tác của các cư sĩ như Phạm Ngọc Vinh, Huỳnh Văn Quyền, Trần Nguyên Chấn, Trần Văn Khuê, Nguyễn Văn Nhơn, Văn Phổ, Nguyễn Văn Cần… Tạp chí Từ bi âm của Hội được ra đời trong lúc này. Bên cạnh vai trò hoằng dương chánh pháp thì tờ tạp chí này còn có một đóng góp lớn phổ thông hoá, đại chúng hóa Phật học qua phương tiện chữ Quốc ngữ.
Năm 1935 tại An Giang, Hội Lưỡng Xuyên Phật học cho ra đời tờ Duy tâm Phật học do Hòa thượng Huệ Quang làm Chủ nhiệm. Tiếp theo năm 1936, Hội Phật học Kiêm tế được thành lập cho xuất bản Tạp chí Tiến hóa vào năm 1938 do Thiện Chiếu làm cố vấn. Bồ đề tạp chí xuất bản năm 1936 tại Sóc Trăng do Hòa thượng Phước Clàm Tng biên tập. Cũng trong m 1936, Hi Thiên Thai Thiền giáo tông Rịa - Vũng Tàu cho xuất bản tờ Tạp chí Bát Nhã âm. Tịnh độ Phật hội ở Sài Gòn cho xuất bản Tạp chí Pháp âm Phật học vào năm 1937. Cũng tại Sài Gòn, vào năm 1941, Tạp chí Phật pháp chỉ Niết bàn được ra mắt bạn đọc.
Trong phong to chấn hưng Pht giáo ở Nam k, bên cnh các vị 
đã nêu, còn phải kể đến những đóng góp của các vị Hòa thượng như: Liên Tôn, Bích Liên, Trí Thin với công lao chủ trương hay c cho phong trào; viết báo tuyên truyền; thuyết giảng phổ biếntưởng Phật pháp, đào tạo tăng tài v.v…
  • Trung k, m 1933, tại Huế, Hi An Nam Pht học được thành lập xuất bản Tạp chí Viên âm do bác Đình Thám chủ trương. Sau đó, báccòn thành lập Đoàn Phật học Đức Dục, một dạng của tổ chức Gia đình Phật tử sau này. Năm 1937 tại Bình Định tờ Tam bảo chí ra đời, do Hòa thượng Trí Hải làm chủ bút, Hòa thượng Giác Chánh làm Phó Chủ bút.
  • Bắc kỳ, tại Nội, Hòa thượng Thanh Thao cho xuất bản tờ Tiếng chuông sớm năm 1935. Cũng trong năm này, tờ Đuốc Tuệ ra đời, do cư sĩ Nguyễn Năng Quốc làm Chủ nhiệm, Hòa thượng Trung Thlàm Chủ bút. Có thể nói đây là to chủ lực trong phong trào chấn hưng Phật giáoxứ Bắc. Tờ tạp chí này đã quy tụ nhiều tên tuổi trí thức lớn lúc bấy giờ như Đinh Gia Thuyết, Trần Trng Kim, Bùi K, Thiu Chửu Nguyn Hữu Kha v.vMột m sau, 1938, tờ Tạp chí Quan Âm được xuất bản do cư sĩ Lương Văn Tuân làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút.
Chính các Hội Phật học, các lớp các trường Phật học được mở ra tại các trung tâm vùng miền, các tờ báo Phật giáo ở cả ba miền đã góp phần tích cực trong phong trào vận động chấn hưng Phật giáo hồi nửa đầu thế kỷ, cùng những đóng góp rất to lớn vào sự nghiệp giáo dục Phật giáo Việt Nam, giúp cho Phật giáo nước nhà chuyển mình để bước sang một trang sử mới.
  1. GIÁO DỤC PHẬT GIÁOVIỆT NAM TỪ 1945 ĐẾN 1975
Nửa sau thế kỷ XX, từ năm 1946 đến 1954, cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp, giành lại độc lập tự do cho dân tộc. Hưởng ứng lời kêu gọi của Chính phủ, với tinh thần Phật giáo nhập thế, Hòa cùng dân tộc, thực hiện việc hộ quốc an dân, cùng tinh thần Bi - Trí - Dũng mà nhiu vsư trẻ ở Trung k, Nam kđã được Bổn Giáo hội cho phép, các vị đã cởisa để khoác chiến bào, nhiều vị đã hy sinh đất nước. được hành động cao cả này nhờ các vị đã thấm nhuần tinh thần tinh hoatưởng của nền giáo dục Phật giáo nước nhà do các vị Bổn chư Tổ trao truyền.
Từ sau năm 1954 đến năm 1975, đất nước bị chia cắt bởi hiệp định Genève, thì trên miền Bắc, thể nói Phật giáo vẫn hoạt động nhưng kng phát trin là bao. Trong khi đó Pht giáo ở min Nam điều kiện phát triển mạnh nhiều thành tựu nổi bật. Riêng về lĩnh vực giáo dục, ở bậc giáo dục phổ thông thì tại các tỉnh thành, qun huyn đã có nhiu trường Tiu học Bồ đ, Trung học Bồ đề do Giáo hội mở ra. Các trường Bồ đề này dạy học theo chương trình của Bộ Giáo dục (Sài Gòn cũ) đề ra,học thêm giáo Phật giáo mỗi tuần từ 01 đến 02 tiết. Còn giáo dục đại học thì đã Viện Đại học Vạn Hạnh được thành lập từ năm 1964 với nhiều khoa, phân khoa khác nhau, do Hòa thượng Thích Minh Châu làm Viện trưởng, đào tạo hai bậc Đại học Cao học.
Bên cạnh những Phật học viện đã từ trước vẫn tiếp tục hoạt động trở lại, thì trong giai đoạn này lần lượt có nhiều Phật học viện được thành lậpcác trung tâm lớn như Huế, Quảng Nam, Bình Định, Nha Trang, Sài Gòn - Gia Định, Cn Thơ, An Giang… để đào tạo tăng tài phụng sự cho Giáo hội Đạo pháp.
  1. GIÁO DỤC PHẬT GIÁOVIỆT NAM TỪ 1975 ĐẾN NAY
Sau khi đất nước thống nhất, các vị tôn túc của Phật giáo hai miền đã vận động để thống nhất Phật giáo. Tháng 11 năm 1981, Đại hội Phật giáo được diễn ra tại chùa Quán Sứ Nội thống nhất các tông phái, hệ phái Phật giáo. Từ cái mốc lịch sử này, Phật giáo Việt Nam bước sang trang mới. Từ đây, các tông phái, hệ phái đều sống trong ngôi nhà chung: Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Giáo hội Phật giáo Việt Nam được Hiến pháp nước Cộng Hòa hội Chủ nghĩa Việt Nam thừa nhận, thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, được đề cử ứng cử vào Hội đồng Nhân dân các cấp: xã, phường; huyện, quận; tỉnh, thành phố cao hơn Quốc hội. Cũng từ đây, Giáo hội Phật giáo nhiều hội điều kiện, nhiều thuận duyên để hoạt động Phật sự, trong đó lĩnh vực giáo dục.
Sau nhiều năm gián đoạn, đến đây các trường Phật học được phục hưng hoạt động trở lại, để từ đó ngày càng phát triển về số lượng lẫn chất lượng, với hệ thống quy mô bề thế như hiện nay. thể nói trong lịch sử giáo dục Phật giáoViệt Nam, chưa bao giờ nền giáo dục Phật giáo phát triển với những thành tựu vượt bậc như trong hiện tại. Đặc biệt từ sau năm 1981, Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập, thống nhất các hệ phái tông phái Phật giáo ở cả hai miền để hoạt động trong một ngôi nhà chung, lần lượt tại các tỉnh thành, Giáo hội đã thành lập các trường Phật học: Sơ cp và Trung cp. Còn ở các trung m lớn có lớp Cao đng và trường Cao cấp (nay Học viện).
Cũng cần lưu ý sau ngày đất nước thống nhất, gần 3 năm sau, một sự kiện quan trọng trên miền Bắc, ngày 01/01/1978, Nhà nước cho phép Hi Pht giáo Thống nht tnh lp Trường Cao cp Pht học Vit Nam và trường tu học Pht pp Trung ương. Còn ở min Nam, Nhà nước cho phép tnh lp Trường Cao cp Phật học vào năm 1984, để đến năm 1997 nâng cấp thành Học viện Phật giáo Việt Nam (nay Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh) do Hòa thượng Thích Minh Châu sáng lập.
Tiếp theo, lần lượt tại trung tâm các vùng miền, các Học viện Phật giáo Việt Nam được Nhà nước cho phép cấp đất xây dựng, tạo điều kiện để Giáo hội thành lập Học viện như tại Huế, rồi Nội gần đây Cần Thơ.
Cũng từ đó, góp phần cho công tác tuyên truyền phổ biếntưởng giáonhà Phật, các công tác Phật sự việc hàng loạt tờ báo, tập san, tạp chí Pht giáo ra đời ở các vùng min. Trong đó, đáng kể nht là Tp chí Văn hoá Pht go của Trung ương Giáo hi Pht giáo Việt Nam chủ trương, Tạp chí Nghiên cứu Phật học của Phân viện Phật giáo Việt Nam tại Nội, Tạp chí Khuông Việt của Học viện Phật giáo Việt Nam tại Nội, chuyên san Thế giới Phật giáo của Học viện Phật giáo Việt Nam tạiThành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt Tuần báo Giác Ngộ Nguyệt san Giác ngộ của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh. Bên cạnh, một vài tờ tạp 
chí của các hệ phái cũng ra mắt bạn đọc như Tạp chí Phật giáo Nguyên thuỷ của hệ phái Phật giáo Theravàda (Nam truyền), tờ Hoa Đàm tiếng nói của nữ giới Phật giáo Việt Nam, Tạp chí Đạo Phật Khất của hệ phái Phật giáo Khất sĩ, tủ sách Đạo Phật ngày nay do TT.TS. Thích Nhật Từ chủ trương, còn nhiều tờ báo, tạp chí, tập san nữa… Nhiều buổi giảng thuyết của các vị Hòa thượng, Thượng toạ, Đại đức, Ni trưởng, Ni diễn ra tại các Thiền viện, Tự viện, Tịnh xá… đã được ghi âm in đĩa CD phổ biến rộng rãi trong hội v.v…
Những tờ báo, tạp chí này cùng với những buổi thuyết pháp, những pháp thoại được in đĩa đã tác dụng những đóng góp không nhỏ trong sự nghiệp phổ cập giáo dục Phật giáo đến toàn cộng đồng hội.
Riêng về sở giáo dục Phật giáo với tổ chức trường lớp chặt chẽ, chính quy thì tính đến nay, theo con số thống của Ban Giáo dục Tăng Ni Trung ương (m 2012), giáo dục Pht giáo đã có những thành tựu đào tạocác bậc học như sau1:
  • cấp cấp Phật học: 50 lớp mở tại các địa phương quận huyện trong cả nước, đã đào tạo được 3.500 Tăng Ni sinh; đang đào tạo 2.500 Tăng Ni sinh. 36 lớp cấp Phật học Pali Khmer 2.777 Tăng sinh đang theo học.
  • Trung cp Pht học trong cả nước hin có 35 trường mở tại các trung tâm tỉnh thành, trong đó 30 trường nội trú; đã đào tạo được 7.315 Tăng Ni sinh; đang đào to 2.611 Tăng Ni sinh. Trung cấp Pali 03 trường 95 lớp; 5.197 Tăng sinh theo học; đã đào tạo 2.700 Tăng sinh.
  • Cao đẳng Phật học hiện 08 lớp đặt tại Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Lâm Đồng, Đồng Nai,  Rịa - Vũng Tàu, Bạc Liêu; đã đào tạo được 1.056 Tăng Ni sinh; đang đào tạo 690 Tăng ni sinh.
  • Bậc Cử nhân Phật học thì 04 Học viện Phật giáo được thành lập tại bốn trung tâm lớn: Thành phố Hồ Chí Minh, Huế, Nội Cần Thơ (Học viện Phật giáo tại Cần Thơ Học viện Phật giáo Nam tông Khmer). Các Học viện này đào tạo theo chương trình 4 năm, Tăng Ni sinh tốt nghiệp được cấp bằng Cử nhân Phật học theo chuyên ngành đã học. Hiện đã đào tạo 4.826 Tăng Ni sinh; đang đào tạo 1.684 Tăng Ni sinh.
  • Bậc Sau đại học thì hiện chỉ được Nhà nước cho phép mở thí điểm hệ Cao học Phật học để cấp bằng Thạc sĩ ở Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, hiện đang đào tạo, chưa tốt nghiệp, khoảng gần 200 học viên đang theo học.
  • Cũng cn phải kể đến lớp đào to Trung cp ging sư và Cao cấp giảng do Ban Hoằng pháp Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức, sở đặt tại chùa Hòa Khánh quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Lớp học này đến nay đã đào tạo được 5, 6 khóa/mỗi bậc học, mỗi khóa từ trên 100 đến dưới 200 Tăng Ni sinh theo học, sau 3 m học xong Trung cp ging sư, Tăng Ni sinh mới được theo học tiếp Cao cấp giảng cũng với thời gian đào tạo 3 năm.
  • Bên cạnh, cần phải tính thêm số lượng không nhỏ Tăng Ni sinh đang theo học chương trình Cao học để lấy bằng Thạc Nghiên cứu sinh để lấy bằng Tiếntại các sở đào tạo Sau đại học ở trong nước nước ngoài, riêng du học nước ngoài, nhiều nhất và chyếu là ở n Đ, Nht Bn, Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Myanmar…chưa thể thống chính xác, nhưng đối tượng vừa nêu thể lên đến vài ba trăm vị.
Điều chúng tôi còn băn khoăn Giáo hội Phật giáo được Nhà nước Bộ Giáo dục & Đào tạo cho phép mở trường các cấp, đào tạo cấp văn bằng các bậc học. hệ thống giáo dục Phật giáo do Ban Giáo dục Tăng Ni Trung ương qun lý, nhưng văn bng chỉ giá trị trong nội bộ Giáo hội Phật giáo Việt Nam, chứ không có giá trị tương đương như văn bằng các bậc học theo chương trình do Bộ Giáo dục & Đào tạo quản lý, Hiệu trưởng các trường công nhận cấp văn bằng.
các Chủng viện Thần học của Giáo hội Thiên Chúa giáo cũng vậy, nghĩa văn bằng được Chủng viện cấp chỉ giá trị trong nội bộ Giáo hội Thiên Chúa giáo. Lấy dụ về văn bằng Cử nhân Phật học hay Cử nhân Thần học. Theo tôi được biết, ở nước ngoài người ta đã công nhận những văn bằng này của Giáo hội. Những tu sĩ đã tốt nghiệp Cử nhân Phật học (đối với Học viện Phật giáo), hay Cử nhân Thần học (đối với Chủng viện Thần học) thì khi sang du học ở một nước nào đó theo hệ Cao học (lấy bằng Thạc sĩ) hay Nghiên cứu sinh (lấy bằng Tiến sĩ), nếu học đúng chuyên ngành thì vẫn được hệ thống giáo dục các nước đó thừa nhận, đồng ý cho học, nếu người học đủ năng lực bằng cấp hợp lệ.
Nước ngoài thì công nhận văn bằng của Giáo hội, trong khi đó ở trong nước thì Bộ Giáo dục & Đào tạo lại chưa công nhận như một văn bằng tương đương. Chẳng hạn, một vị tu sĩ đã tốt nghiệp Cử nhân tại Học viện Phật giáo, muốn học tiếp Thạcđúng hay gần với chuyên ngành đào tạo Cao học (như ThạcĐông phương học, Triết học Đông phương chẳng hạn) tại một cơ sđào to Sau đại học nào đó ở trong nước thì lại không được; vị đó muốn học Thạc sĩ thì phải bằng Cử nhân do trường Đại học cấp (dù văn bằng 2 hay bằng Đại học tại chức) trường này phải nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân do Bộ Giáo dục & Đào tạo quản lý, phải học bổ sung một số môn bắt buộc để bổ túc kiến thức, nhằm chuyển đổi tương đương. Vấn đề này sẽ được chúng tôi trình bàymục tiếp theo khi đề xuất việc cải cách, cải tiến chương trình đào tạo quản trị giáo dục Phật giáo.
  1. MỘT VÀI KIẾN NGHỊ
Trên sở điểm lại một cách lược về giáo dục Phật giáo qua các giai đoạn lịch sử, để từ đó, chúng tôi nêu lên mấy suy nghĩ bước đầu cùng đề xuất vài vấn đề cần cải tiến hệ thống giáo dục Phật giáo nhằm đáp ứng yêu cầu mới của thời đại hiện nay như sau:
    1. Cần cải ththng t chức Ban Giáo dục Tăng Ni Trung ương, cải tiến vấn đề Quản trị giáo dục Đại học Phật giáo
Được biết theo Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam theo Quy chế hoạt động của Giáo hội thì toàn bộ công tác giáo dục và đào to của Pht giáo do Ban Giáo dục Tăng Ni Trung ương qun lý, chỉ đo. Tôi cũng được biết, xut phát từ tinh thần từ bi hxả, từ hạnh sống lục Hòa Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã tổ chức Hi đồng Trsự, Ban Trsự từ Trung ương đến đa phương theo kiểu mặt trận, tức phân bổ đềucác cấp, lại kiêm nhiệm nhiều công việc trong cùng một lúc.
Xin chỉ nói riêng ở Ban Giáo dục Tăng Ni Trung ương, có thể thy: Hòa thượng Trưởng ban đồng thời là PChtịch Thường trực Hội đồng Trị sự, lại đồng thời Viện trưởng Học viện Phật giáo Vit Nam tại Huế. Các vPTrưởng ban cũng kiêm nhim nhiu vic như thế, ví dụ: HT PTrưởng ban, đồng thời là PChủ tịch Hội đồng Trị sự, lại đồng thời Phó Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh; vị Hòa thượng Phó Chủ tịch kiêm Viện trưởng Học viện Phật giáo Vin trưởng Vin Nghiên cứu Pht học, kiêm một Trưởng ban của Hội đồng Trị sự… Đó chưa kể các vị còn bao nhiêu công việc Phật sự khácđịa phương tại Thiền viện, Tự viện nơi các vị đang trụ trì. Các vị Thường trực, Chánh phó thư ký, Uỷ viên cũng nhận nhiều kiêm nhiệm như thế.
Tt cả được cơ cu nn sự theo kiu mt trn như Trưởng, Pban Giáo dục của các tỉnh thành; các chức sắc ở 04 Học viện Phật giáo phải các Uỷ viên của Ban, v.v... Về cấu nhân sự, không riêng Ban Giáo dục Tăng Ni các Ban khác cũng vậy, nói chung rất đông, đến ba, bốn khi đến trên năm mươi vị, chủ yếu kiêm nhiệm rất nhiều, trong khi nhân sự chuyên trách cho từng đầu việc thì hầu như lại thiếu vắng. Thiết nghĩ các vị lãnh đạo tối cao của Hội đồng Chứng minh Hội đồng Trị sự nên chăng cần cải tiến, cải tổ lại hệ thống cấu tổ chức của các Ban, trong đó Ban Giáo dục Tăng Ni, theo thiển ý như sau:
  • Tinh giảm sao cho bộ máy gọn nhẹ, thiết nghĩ không phải bất cứ Trưởng, Pban nào ở cp tỉnh tnh, ở Học vin nào cũng được cấu vào Ban, phải chọn lọc sao cho tinh gọn, chọn người hợp khả năng đúng chuyên môn.
  • Về thành phần cấu, bên cạnh chọn người phẩm hạnh tốt, chuyên môn cao tiêu chuẩn hàng đầu, các vị còn phải người biết thạo công việc, nhiệt tình với Phật sự. Nên cấu chuyên trách nhiều hơn kiêm nhiệm.
  • Lãnh đạo Giáo hội nên mạnh dạn mời những vị cư sĩ tâm với Phật sự, trình độ chuyên môn cao (tức học hàm, học vị) kinh nghiệm trong lĩnh vực giáo dục, để cấu vào Ban Giáo dục Tăng Ni. Được biết, từ năm 1981 đến nay,Ban Hoằng pháp Ban Giáo dục dường như Giáo hi Trung ương kng cơ cu tnh phần cư sĩ vào hai ban này. Điều này khác với Giáo hội Ấn Quang trước năm 1975. Nếu sự đồng thuận của Chư vị giáo phẩm, thì tôi xin tự nguyện tham gia cố gắng vận động một số chuyên gia đồng nghiệp đạo tâm cùng thực hiện nhiệm vụ này, chú ý tất cả đều làm công quả cho Giáo hội chứ không đòi hỏi quyền lợi gì, sẽ cùng với Chư vị lãnh đạo Ban để suy nghĩ thiết kế chương trình khung, tổ chức biên soạn sách giáo khoa, giáo trình các bậc đào tạo Phật học.
  • Trên cơ sở đó, Trưởng ban pn công các tnh viên trong Ban phụ trách các đầu việc: Theo dõi kiểm tra từng bậc học (sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học); Biên soạn chương trình khung; giáo trình - sách giáo khoa, tài liệu tham khảo các môn cho các bậc học; Theo dõi chất lượng đội ngũ với kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng; Tổ chức hội giảng hàng năm giữa các trường cùng cấp để khích lệ thúc đẩy tinh thần tự giác nâng cao trình độ chuyên môn; Tổ chức hội thảo khoa học trong Ban khoảng 2 năm/một lần.
  • Hot động của Ban cn có sự đồng bộ và nht quán từ Trung ương đến địa phương: tỉnh thành, quận huyện; từ Ban đến các Học vin, trường Cao đng, trường Trung cp, trường Sơ cp. Muốn vphải quy chế, nội quy hoạt động cụ thể cùng những biện pháp tiến hành sao cho khoa học thực tế.
    1. Cần cải tiến, bổ sung, cập nhật chương trình giáo dục Phật giáocác bậc học, từ Sơ cấp, Trung cấp, Cao đẳng đến Đại học Sau đại học, nhất chương trình đào tạo Đại học Sau đại học để đáp ứng tốt hiện thực mới của thời đại.
Hiện tôi được biết Ban Giáo dục Tăng Ni đã Dự thảo Quy chế Giáo dục Phật giáo Việt Nam; Quy chế đào tạo liên thông trình độ Cao đng và Đại học; Chương trình Trung cp Pht học; Chương trình Cao đẳng Phật học; Chương trình Cử nhân Phật học; Chương trình ThạcPhật học. Đây một nỗ lực rất lớn của Ban, nhưng xem ra việc này cần phải đầuvắt óc suy nghĩ tốn nhiều công sức mới thể một Quy chế bản chương trình khung của các bậc học sao cho hoàn thin. Tôi nói như thế là bởi thy bn Quy chế Chương trình còn đơn giản quá, chỉ nêu được nội dung trọng tâm trọng điểm, chẳng hạn chương trình khung các bậc học chỉ nêu yêu cầu tổng quát cấu trúc chương trình với các môn học cụ thể (chỉ tính dung lượng số trang còn giản lược: bản Quy chế Giáo dục Phật giáo: 15 trang A4; Quy chế đào tạo liên thông: 06 trang A4; Chương trình Trung cp Pht học: 02 trang; Chương trình Cao đẳng Phật học: 03 trang; Chương trình Cử nhân Phật học: 05 trang; Chương trình ThạcPhật học: 08 trang).
Trên sở đó, thiết nghĩ, lãnh đạo Ban nên lấy ý kiến đóng góp từ các chuyên gia kinh nghiệm xây dựng chương trình, các nhà khoa học có liên quan để hoàn thiện chương trình khung với lượng thời gian cụ thể cho từng bậc học, từng năm học, sao cho khoa học đạt được mục tiêu của yêu cầu giáo dục Giáo hội Phật giáo đã đề ra.
Tôi nghĩ, chương trình khung của hệ Trung cp (3 m), hệ Cao đẳng (2 năm) như Ban đã đề ra vừa sức khoa học, nhưng cần định hướng cụ thể hơn. Riêng chương trình của hệ đào tạo Cử nhân Thạc sĩ thì cần nên xem lại cân nhắc thêm. Chương trình Cử nhân hiện được chia thành 5 nhóm kiến thức: giáo dục đại cương; 
sở Phật học; bổ trợ chuyên ngành Phật học; ngoại ngữ bổ trợ; chuyên ngành Phật học.trong chương trình tính đến đặc thù của từng khoa nhưng lại đưa ra một khung bắt buộc trong 4 học kỳ (từ học kỳ 5 đến học kỳ 8), mỗi học kỳ học 5 môn chuyên sâu về Phật học, mỗi môn 45 tiết. Đành rằng, những môn học bắt buộc chung cho tất cả các khoa khi đã phân chuyên ngành rất tốt, thiết thực, khoa học bổ ích, nhưng các khoa còn thời gian đâu nữa bố trí thêm môn học chuyên ngành đặc thù của khoa? 
Dường
như trong bản chương trình khung này chỉ dùng để đào tạo Cử nhân Phật học chung nhất chứ chưa tính đến chuyên ngành từng khoa. lẽ khi biên soạn nên chú ý chỉ cần 3 khối kiến thức: khối kiến thức giáo dục đại cương; khối kiến thức giáo dục sở; khi kiến thức giáo dục chuyên ngành. Trong đó giáo dục đại cương giáo dục sở nên bố trí trong 3 học kỳ đầu. Sau đó phân chuyên ngành, khối chuyên ngành cần học trong 5 học kỳ thì mới thể đạt chất lượng chuyên sâu (hiện nay, khi đi vào chuyên ngành, các Học viện chỉ bố trí học 4 học kỳ, tức năm 3 4; còn năm 1 2 thì học chương trình đại cương sở). Trong chương trình khung, nên bổ sung thời lượng học đy đủ các môn chung (thuộc khối giáo dục đại cương, giáo dục sở) với nội dung, thời lượng, yêu cầu môn học, kết quả đạt được, y như chương trình đào tạo đại học của Bộ Giáo dục & Đào tạo quản lý. Đây yếu tố đầu tiên cũng sở khoa học để xin phép Bộ Giáo dục & Đào tạo công nhận văn bằng Cử nhân Phật học ngang cấp hay tương đương với giá trị như các văn bằng Cử nhân khác do các trường Đại học cấp theo sự phân nhiệm của Bộ Giáo dục & Đào tạo. Bên cạnh, cũng nên chú ý tăng cường nâng cao học bổ sung các môn văn hóa bản như Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Ấn Độ, Lịch sử các nước Đông Á, Lịch sử văn học Việt Nam, Văn hoá Phật giáo, đặc biệt Tiếng Việt thực hành. Bởi qua thực tế rất nhiều năm giảng dạy tại Học viện Phật giáo, chúng tôi thấy Tăng Ni sinh còn thiếu yếu về kiến thức mảng này, riêng về hành văn diễn đạt, chính tả thì đa phần chưa thông, chưa gãy gọn, chặt chẽ, tiếng 
Việt chưa thạo thì làm sao học viên thể viết luận văn tốt nghiệp cho hoàn chỉnh được?. Về thời lượng, hiện tại, các trường đại học trên thế giới nước ta đang giảm tải, tinh lọc, chương trình khung được thiết kế theo học chế tín chỉ, chỉ còn 141-142 tín chỉ thôi, mỗi tín chỉ 15 tiết, mỗi tiết 50 phút. Nên chăng khi thiết kế chương trình khung đại học, Ban Giáo dục Tăng Ni cũng phải tính đến thời lượng này. Về chương trình đào tạo Cao học để nhận học vị ThạcPhật học, với bản Dự thảo, theo tôi quá nặng nề,tôi vẫn biết học viên được học nhiều thì càng tốt, nhưng liệu trong 2 năm với dung lượng kiến thức nhiều như thế, liệu học viên tiếp thu hết hay không? Cụ thể như sau: Kiến thức chung 09 tín chỉ; Kiến thức sở ngành 12 tín chỉ; Kiến thức tự chọn2 16 tín chỉ (gồm Phật giáo Nguyên thuỷ [16 tín chỉ; Phật giáo bộ phái [16 tín chỉ]; Phật giáo Đại thừa - Phát triển [16 tín chỉ]; Luận văn tốt nghiệp [10 tín chỉ]. Tng cng: 09 + 12 + 16 + 10 = 47 tín ch. Trong chương trình quy định mỗi môn 3 tín chỉ, tức 45 tiết. Theo tôi, để thể được Bộ Giáo dục & Đào tạo dễ dàng công nhận văn bằng Thạc Phật học tương đương giá trị như những văn bằng Thạckhác do Bộ quản, nên chăng phải bổ sung các môn: Tin học cấp độ B; Ngoại ngữ cp độ B2 Châu Âu, hoặc Toefl trình độ đu vào 450, đu ra là 500; Triết học 120 tiết (chng chỉ Triết học nên mời thỉnh giảng từ các trường đào tạo Sau đại học); Phương pháp luận nghiên cứu khoa học. Còn các môn chuyên ngành thì nên học từ 15 đến 18 môn học chuyên sâu của chuyên ngành, mỗi môn chỉ thiết kế 02 tín chỉ.
    1. Cần biên soạn sách giáo khoa, giáo trình tài liệu tham khảo các môn học của chương trình các bậc học để dùng thống nhất trong các trường Phật học của cả nước. Hiện tại, theo tôi được biết tại các trường thuộc hệ thống giáo dục Phật giáo, trong chương trình đào tạo về bản khá tương đồng với chương trình khung, bởi để khỏi tốn kinh phí thỉnh giảng, các trường tự thiết kế cho mình giảng dạy cái mình đã để thể đảm nhiệm chứ chưa tính đến lô-gic chương trình đào tạo với chất lượng của nó. Hiện tại tôi cũng chưa nội dung chương trình khung các bậc học Ban Giáo dục Tăng Ni đề ra, các trường thực hiện như thế nào, đúng chương trình khung hay chưa? Hiện tại cũng chưa một bộ sách giáo khoa, giáo trình thống nhất dùng chung cho các trường Phật học các cấp. Việc này, kính đề nghị Ban Giáo dục Tăng Ni cần gấp rút kế hoạch nên tổ chức một Hội nghị mở rộng, mời thêm các cư sĩ chuyên gia để bàn phân công biên soạn đầy đủ, hệ thống bộ sách giáo khoa, giáo trình môn học của các bậc học thuộc giáo dục Phật giáo để dùng chung cho cả nước.
    1. Cần bồi dưỡng tri thức, kỹ năng phạm tinh lọc đội ngũ giảng dạy (giáo thọ sư)nhà trường Phật học của các bậc đào tạo, nhất Học viện. Việc này, hiện tạicác trường Phật học chú ý, nhưng thành thực nói thì làm chưa triệt để, chưa đến nơi đến chốn. Tôi được biết có nhiu ging viên ít hoặc kng có khng phạm. Bỏ thì thương vương thì tội, ta lại sống theo hạnh lục Hòa, vị tha, thế nên kế hoạch tinh chọn bồi dưỡng nghiệp vụ phạm cho đội ngũ này để họ thể đáp ứng được yêu cầu giáo dục Giáo hội đã đề ra.
    2. Nên chăng tại các Học viện Phật giáo mở thêm một khoa mới: Khoa phạm Phật giáo. Để đáp ứng yêu cầu giảng viên cho các trường Phật học các bậc học, lẽ tại các Học viện Phật giáo, bên cạnh các khoa đã có, cần mở thêm khoa phạm Phật học, y như các khoa phạm của trường Đại học hay trường Đại học phạm của Bộ Giáo dục & Đào tạo đã làm. như thế, Ban Giáo dục Tăng Ni nên tham khảo chương trình khung của nhà trường phạm để thiết kế chương trình sao cho khoa học hợp lý.
    3. Trên sở những vừa nêu, nhất bổ sung vào chương trình đào tạo hệ Cử nhân Thạcnhững môn học thuộc khối kiến thức đại cương, khối kiến thức bản y như chương trình khung do Bộ Giáo dục & Đào tạo ban hành, đây nền tảng cũng  sở pháp lý để Giáo hội tích cực vận động sao cho để được Bộ Giáo dục & Đào tạo công nhận học vị Cử nhân Phật học, ThạcPhật học giá trị như học vị Cử nhân, Thạc sĩ của các trường Đại học do Bộ quản lý, nhằm tạo điều kiện cho Tăng Ni sinh trong Giáo hội điều kiện học tập nâng cao trình độ khi đăng học Cao học Nghiên cứu sinh tại các trường Đại học của Bộ sau khi tốt nghiệp Cử nhân Phật học, ThạcPhật học.

      ***

      Tài liệu tham khảo
      Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, bản dịch, tập 3, mục
      Khoa mục chí phần I, Nxb. Sử học, Nội, 1961.
      Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, 3 tập, Nxb. Văn học, Nội, tái bản, 1994.
      Nguyễn Công Lý, Giáo dục, Khoa cử Quan chếViệt Nam thời phong kiến, thời Pháp thuộc, Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2011.
      Giáo hi Pht giáo Vit Nam - Ban Giáo dục Tăng Ni Trung ương, Dự thảo Quy chế Giáo dục Phật giáo Việt Nam: Quy chế đào tạo liên thông trình độ Cao đng và Đại học; Chương trình Trung cấp Phật học; Chương trình Cao đẳng Phật học; Chương trình Cử nhân Phật học; Chương trình ThạcPhật học, Nội, tháng 5/2012 (Tài liệu in vi tính).

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây