36. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH PHẬT GIÁO VÀ NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC TẠI PHÁP

Thứ sáu - 06/12/2019 03:20
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH PHẬT GIÁO NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC TẠI PHÁP

ĐĐ. Thích Thông Giác
DN NHẬP
Phật giáo được truyền vào Âu châu cuối thế kỷ XIX phát triển sớm nhất tại Anh. Sau chiến tranh thế giới lần II, Phật giáo bắt đầu đặt chân vào các nước trong lục địa châu Âu. Tại Đức nhiều trường thin hot động trong nhng phạm vi rt khiêm tn. Trong khi đó tại Pháp, vẫn chưa thấy bng dáng Phật giáo. Mãi đến đầu thập niên 60 của thế kỷ XX tại thủ đô Paris, người ta mới thấy xuất hiện trên niên giám điện thoại vài trung tâm thiền nhỏ bé Nhật Bản. đến cuối thập niên 60 thì hội Phật giáo Việt Nam do một số Phật tử Việt Nam đangngụ tại Pháp thời bấy giờ thành lập.
Đầu thập niên 70 của thế kỷ XX, một vài ngôi chùa Việt Nam được hình thành tại thủ đô Paris. Người Việt Nam sang Pháp mang theo tín ngưỡng, văn hóa, tập quán cùng nỗi nhớ quê hương khôn nguôi trong lòng. Các chùa được hình thành ngày càng nhiều tại Paris sau đó lan cùng khắp nước Pháp. Thuận duyên với Phật giáo Việt Nam tại Pháp, Phật giáo Pháp cũng phát triển nhanh chng. Phật giáo Việt Nam với ba tông phái Tịnh độ, Thiền, Nguyên thủy hòa nhịp cùng với tông phái Tịnh độ của người Trung Hoa, Thiền của Nhật, Mật tông của Tây Tng, Nguyên
 

thủy của cộng đồng người Lào Khmer đã khiến số lượng Phật tử Pháp ngày càng tăng.
Theo thống của quan điều tra dân số tại Pháp thì đến năm 1997, dân số không tăng bao nhiêu so với thập niên 50, nhưng Phật tử đã lên đến 2 triệu người trên 55 triệu dân Pháp; một con số tín đồ đáng kể trong vòng 20 m qua. Trong khi trước đó, Pht tử Pháp chỉ chiếm một tỷ lệ không đáng kể. Với hai triệu Phật tử, Pháp quốc dẫn đầu Âu châu là nước c người theo đạo Phật đông nhất, vượt xa nước Đức chỉ c nửa triệu Phật tử Anh chỉ c 300 ngàn Phật tử.
Tính đến nay rải rác khắp nước Pháp đã c hàng trăm tu viện, tự viện, hoặc các trung tâm Phật giáo lớn nhỏ của bốn tông phái: Tịnh độ, Thiền, Mật Nguyên thủy.
  1. SỰ XUẤT HIỆN CỦA XU HƯỚNG PHẬT GIÁO PHƯƠNG TÂY
Theo một số tài liệu nghiên cứu gần đây thì giữa thế giới Phật giáo nền văn minh phương Tây đã c những cuộc gặp gỡ cách đây hàng ngàn năm. Thế nhưng chỉ đến thế kỷ thứ XIX thì những khái niệm mang tính học thuật hơn của Phật giáo mới chính thức phổ biếnphương Tây.
Sau Thế chiến thứ II, tại những nước Tây phương lại xuất hiện một phong trào Phật giáo mới. Vào năm 1959, một vị thiền Nhật Bản Shunryu Suzuki, đến San Francisco vớicách một giảng về đạo Phật cho rằng c những xúc cảm trong lúc Thiền đã trở thành một đề tài nng bỏng giữa các nhóm người c sự về triết lý phương đông tại Hoa Kỳ.
Vào năm 1965, Philip Kapleau-vị thiền đầu tiên của Hoa Kỳ đến Rochester, New York để to dựng nên Trung m Thin Rochester với sự cho phép của ngài Hakuun Yasutani. Vào thời gian này, một số người Mỹ đã được gửi đến Nhật Bản để theo học với những vị thiền danh tiếng. Đơn cử như Kapleau đã dành ra 13 năm (1952 – 1965) hơn 20 kỳ tiếp tâm trước khi được phép trvề nhằm mở trung m Thin riêng. Trong lúc đang còn học tại
 

Nht Bn, Kapleau đã viết tác phẩm “The Three Pillars of Zen, được dịch sang tiếng Vit với tựa đề Ba trụ Thiền”.
Cũng trong năm này, những nhà đến từ Sri Lanka đã thành lập Hiệp hội những tu sĩ Phật giáo Washington tại Washington, D.C, Hiệp hội tăngNam tông đầu tiên trên đất Mỹ, khá dễ dàng để tiếp cận đối với những người Mỹ nói tiếng Anh song hành với một trong các hoạt động chính phát triển phái thiền Vipassana. Thế nhưng, Phật giáo Nam tông chỉ khởi sắc khi những người Hoa Kỳ đầu tiên đến học Thiền Vipassana tại châu Á vào đầu những năm 70 của thế kỷ trước.
Trong nhng m 1970, Pht giáo Tây Tng lại giành được nhiu sự quan tâm hơn trong công chúng. Điều này ít nhiều bị tác động bởi quan đim của biên giới tự do của Tây Tngvđt nước này cũng như giới truyền thông phương Tây liên tục đưa tin về hiện trạng Tây Tng by giờ. Cả bốn trường phái của Tây Tng dn dn trở nên ni tiếng. Nhng vlt-ma Tây Tng như Karmapa (Rangjung Rigpe Dorje), Chögyam Trungpa Rinpoche, Geshe Wangyal, Geshe Lhundub  Sopa, Dezhung  Rinpoche,  Sermey Khensur Lobsang Tharchin, Tarthang Tulku, Lama Yeshe và Thubten Zopa Rinpoche đều thành lập những trung tâm Phật học tại phương Tây trong những năm 1970. Nhưng c lẽ nhân vật được biết đến nhiều nht chính là Đức Đạt-lai Lt-ma thứ 14 Tenzin Gyatso, khi Ngài c một cuộc viếng thăm Hoa Kỳ vào năm 1979 vớicách một nhà lãnh đạo lưu vong trên cả phương diện chính trị cũng như tâm linh của Tây Tng. Cuộc đời thuở thiếu thời của ông được khá nhiu người phương Tây quan tâm, thậm chí chúng còn dựng nên những bộ phim đc sc như Kundun hay Seven Years in Tibet (tạm dịch là “By m ở Tây Tng”) với sự tham gia của ngôi sao Brad Pitt. Không những thế, Đạt-lai Lạt-ma còn người dẫn dắt các tài tử nổi tiếng khác đến với đo Pht như Richard Gere và Adam Yauch.
Thêm vào đó, rt có thể trong thời gian chiến tranh ở Triu Tiên Việt Nam, nhiều người Mỹ đã đến tìm hiểu về tình hình hội cũng như văn hóa ở đây. Trong số họ có lẽ kng ít người đã tìm đến
 

đạo Phật, thậm chí còn c người trở thành những tu sĩ Phật giáo ở cả hai phái Nam tông Bắc tông, sau đó trở về thành lập những trung tâm Thiền định nổi tiếng tại Mỹ. Một lý do khác khiến đạo Phật nở rộtrời Âu chính những tác phẩm của Alan Watts, D.T. Suzuki Philip Kapleau được ủng hộ bởi những nhà hoạt động hội những người c sở thích tìm cầu luồngtưởng, văn ha mới.
  1. SỰ PHÁT TRIỂN PHẬT GIÁO TẠI PHÁP
Với khoảng 2 triệu rưỡi tín đồ tại Âu châu ít nhất 5 triệu tại Hoa Kỳ, Phật giáo đã thật sự bén rễTây phương. Sự phát triển của Phật giáo rất rệt, đặc biệt ở lục địa Âu châu, nơi 30 năm trước đây chỉ một tôn giáo ngoại lai hay như một thứ triết học dành cho các nhà thông thái nghiên cứu. Thời đó đã qua rồi, như trường hợp nước Pháp, nhiều người đã tìm đến Phật giáo với hy vọng mở ra một hướng đi mới cho cuộc sống.
Tại Âu châu, nước Pháp nơi Phật giáo phát triển ngoạn mục và đa dng nht. Trong vòng 20 m cgn 200 tự vin và trung tâm Phật giáo được thành lập. Số lượng tín đồ cũng tăng theo cùng một nhịp độ: số Phật tử gấp đôi trong vòng 10 năm: năm 1976 với
200.000 tín đồ, đến năm 1986 tăng lên 400.000. Đến năm 1997 con số này lên tới 600.000. Bộ Nội vụ Sở Thống đều đồng ý với con số này. Phần lớn tín đồ của Liên hiệp Phật giáo tại Pháp, quy tụ chừng 80% các hiệp hội Phật giáo. Phật giáo hiện tôn giáo lớn thứ 5 tại Pháp.1 Về phương diện tâm linh, Phật giáo tôn giáo được người Pháp ưa chuộng vào hàng thứ ba.2
Bắt đầu từ thập niên 1960, sự thành công của Phật giáo trước nht là nhờ công của các thin sư Nht Bn và Tây Tng. Pht giáo may mắn c các mạnh thường quân theo Phật giáo, như nhà tỷ phú gốc Anh, Bernard Benson, khi đến lập nghiệp tại Dordogne (Pháp) từ đu thập niên 1970, đã mời các nhà sư Tây Tng đang tnạn đến


 

giáo.
  1. Sau Thiên Chúa giáo, Hồi giáo (4 triệu rưỡi), Tin Lành (950,00) gần bằng Do Thái
 
  1. Theo thống thăm dò dư luận của hãng Sofret: Khi được hỏi tôn giáo nào được ông
 
ưa thích nhất, 5% trên 2 triệu người Pháp trên 18 tuổi trả lời Phật giáo.
 

ging pp. Một nhà xã hi học, Frederic Lenoir, thuộc Trung m Nghiên cứu Liên ngành vTôn giáo, tại Trường Nghiên cứu Khoa học hội đã xác nhận như thế. Hai phần ba tín đồ Phật giáo tại Pháp người Á châu. Số lượng người Pháp theo đạo Phật cũng tăng nhanh chng, dù chỉ chừng vài mươi ngàn.
3. NGƯỜI DÂN PHÁP QUY NGƯỠNG PHẬT GIÁO
Số người theo đạo Phật thuộc nhiều thành phần hội khác nhau: từ người bị mất việc đến các chuyên viên cao cấp của các đại nghiệp. Tuy nhiên thành phần chính theo đạo Phậtthị dân trung lưu. Hiện tượng này phản ảnh ràng trong hai cuộc nghiên cứu sâu rộng của Bruno Etienne Raphael Liogier.3 Hai ông ghi nhận rằng những người theo Phật giáo nổi bật nhất thành phần bác sĩ, nhà nghiên cứu, nghệ sĩ, người trong ngành truyền thông (nhà giáo, giả) chuyên viên nghiệp. F. Lenoir nghiên cứu rộng rãi hơn cho biết phần lớn những người theo đạo Phật c trình độ đại học một số đông đảo trong nghề y khoa các nghề liên quan. Số lượng nữ giới chiếm 60% họ cho biết hai lý do chính yếu khiến họ đến với đạo Phật bất bạo động tránh tranh chấp.
Động lực khiến Đức Phật đi tìm một con đường giác ngộ muốn giảm bớt đau khổ của con người. Đặc tính này của đạo Phật đã cảm ha được những người hành nghề y khoa. Chính họ những người đối diện thường xuyên với những nỗi đớn đau của con người. Triết lý buông xả của Đo Pht giúp họ giải ta nhng phin não của cuộc tồn sinh giảm những khủng hoảng thầm kín riêngnhư mất việc, mất địa vị trong hội... Như các tín đồ của Soka Gakkai phần lớn chừng 55, 56 ngàn người đềutrong tình trạng bấp bênh, khủng hoảng chức vị.... Sinh hoạt nội bộ khiến họ tiết lộ những kinh nghiệm riêng tư, thường được thể hiện như phương cách thích ứng, nếu không muốn nói một thứ tâmtrị liệu bổ túc, như Louis Hourmant, thuộc nhóm Xã hi học Tôn giáo ở Trung m Quốc



3. Trong quyển Être Bouddhiste en France, Nxb. Hachette, Paris, 1997, Nhiều tác giả, chủ trì bởi Bruna Etienne, Giám đốc quan Quan sát Các vấn đề Tôn giáo thuộc Viện Nghiên cứu Chính trị Đại học Aix-en-Provence.
 

gia Nghiên cứu Khoa học, một chuyên viên nghiên cứu về giáo phái này nhấn mạnh.
Một điểm khác nữa là, việc không thỏa mãn về tình huống chính trị cũng bước đầu để người Pháp đến với đạo Phật. B. Etiene
R. Lioger viết: tưởng của Phật giáo được những người muốn thoát khỏi những bế tắc của sự đối nghịch giữa chủ nghĩa hộichủ nghĩabản, xem đó như một ước vọng giải thoát để đem lại hạnh phúc cho loài người. Lenoir nhận xét là: “Tt cnhng Pht tử Pp đu tiên trong các thập niên 60-70 tiếp nhận đạo Phật như một đối lực với văn hoá đương hành. Nhiều người đã đoạn tuyệt với văn hóa bằng cách trở thành một Phật tử. Một số về ẩn trong các tự viện. Họ đi sâu vào các hệ thống triết Tây phương cả những lễ nghi tinh tế của truyền thng mà hđã chn. Như trường hợp của Matthew Recard, nhà nghiên cứu sinh học bào tử danh tiếng, đột ngột từ bỏ con đường công danh quy y Pht giáo Tây Tng và đã trở tnh một người thuần thành. Ông thông dịch viên cho Đức Đạt-lai Lạt-ma một Phật tử Pháp tiên phong.
  1. CÁCH TRUYỀN PHẬT GIÁO TẠI PHÁP
Các tu sĩ bn xứ, Tây Tng hay Thin tông ln lượt đóng vai trò truyền chánh pháp cho thế hệ Phật tử thứ hai, đông đảo hơn nhưng c lẽ ít dấn thân hơn. F. Lenoir phát biểu tiếp rằng ít c Phật tử nào đi vào đạo Phật như thế hệ trước. Họ không muốn ra khỏi thế giới của họ yêu cầu một lối thực hành đơn giản, thích hợp với lối sống quen thuộc của họ. Việc dịch thuật các kinh luận nền tảng sự uyển chuyển văn hoá của đạo Phật c thể đủ thỏa mãn đòi hỏi của họ. Thêm vào đó các thực hành linh động của đạo Phật rất hữu ích trong việc hình thànhthức cho Phật giáo tại Pháp. Sự ra đời của Ủy ban Liên hiệp Phật giáo Pháp được chính phủ thừa nhận ngay vào năm 1986, cùng với thái độ cởi mở của Phật giáo với các tôn giáo khác, đã xóa được nn hiu giáo phái phương Đông. Phật giáo chứng tỏ thế kỷ thứ XXI không phải thế kỷ của tôn giáo truyền thống, sự trở về con đường tâm linh. Tâm linh không biến mất trong quá trình hiện đại ha, nhưng chỉ biến dạng
 

c thể đưa ra những giải đáp khả tín cho những lo âu hội phát sinh từ hội hiện đại.
Phật giáo cho thấy giới hạn của chánh sách hội nhập tại Pháp. Thí dụ như những người trẻ gốc Á châu thất vọng với những kiểu mẫu hội phương Tây, quay lại gắn bó với những sinh hoạt cộng đồng của bậc cha mẹ. Ướctiêu thụ làm giàu bị cơn khủng hoảng kinh tế làm tiêu tan, đẩy họ lại với cội nguồn. L. Harmant xác nhận sự bất an về ý nghĩa tồn sinh thấy ràng trong giáo phái Soko Gakkai. Ở đây người ta gặp các người trẻ đến từ những vùng xa xôi của nước Pháp, những thiếu nữ Hồi giáo, nhất từ Algeria, họ tìm thấy nơi đạo Phật một phương cách giải thoát họ khỏi những sự kềm kẹp gia đình không phải bị cái cảm giác phản bội văn hoá truyền thống của họ không ai bắt họ cải đạo khi sinh hoạt với Phật giáo.
Phật giáo do đó thể hiện như một dẫn lực kết hợp hội như
F. Lenoir nhận xét: Phật giáo tạo điều kiện cho những nhân vụn vỡ đơn độc (vì mất nền tảng gia đình, trao truyền những kinh nghiệm riêng tư để cùng nhau học hỏi, truyền thống được thực hành nhiều nhất Đại thừa nhấn mạnh đến lòng từ bi phổ quát không phân biệt, được diễn dịch như áp dụng một tưởng bao dung vào đời sống của mỗi nhân. Qua đó cng ta thấy lòng qung đi trthành giá trthen cht của xã hội”.
Phật giáo đang phục vụ những nhu cầu tâm linh của thời đại. Người ta cũng thấy sự kiện này nơi các tôn giáo độc thần mới nhưng trong Phật giáo còn một hiện tượng phụ khác. B. Etinne R. Liogier viết: Chúng tôi giả thiết rằng khối lượng sách báo công trình nghiên cứu của Tây phương cho những vấn đề của chính mình, cũng phù hợp với yêu cu của Pht go. Và hai ông thy là các nhà xã hi học đang nghiên cứu về hiện tượng này.
  1. CÁC CHÙA VIỆT NAM TẠI PHÁP
Theo đồ hình nước Pháp, bài viết sẽ đi từ bắc xuống nam, từ ngôi chùa nằm gần biên giới Pháp - Đức, xuống các chùa gần biên giới Pháp - Tây Ban Nha đến biên giới Pháp - Ý:
 

Chùa Phổ Hiền do Thích Nữ Như Tuấn cùng chi hội Phật giáo Strasbourg thành lập năm 1998, tọa lạc ngoại ô thành phố Strasbourg, một thành phố sát biên giới Đức c dòng sông Rhin chảy qua, thủ phủ của Liên bang Âu châu. Đoàn quán Gia đình Phật tử Phổ Hiền được đặt tại đây.
Chùa Linh Sơn, Mulhouse do Ni Thích Nữ Trí Minh thành lập năm 1992, tọa lạc tại thành phố Mulhouse, cũng thành phố nằm gần biên giới Đức, nhưng thuộc về phía thượng nguồn sông Rhin, con sông dài thứ nhì Âu châu bắt nguồn từ Áo chảy qua 6 nước đổ ra Đại Tây dương Lan.
Chùa Hoa Nghiêm do Hòa thượng Thích Trung Quán tnh lp năm 1981 tại Villeneuve Le Roi, ngoại ô Paris. Đoàn quán Gia đình Phật tử Hoa Nghiêm được đặt tại đây.
Chùa Khánh Anh do Hòa thượng Thích Minh Tâm thành lập năm 1974 tại Bagneux, ngoại ô Paris. Chùa trụ sở chính của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tại Âu châu. Đoàn quán Gia đình Phật tử Quảng Đức được đặt tại đây. Kể từ năm 1992 đến năm 1999, văn phòng hành chính của Ban Hướng dẫn Gia đình Phật tử Việt Nam tại Pháp quốc cũng được đặt tại đây.
Chùa Linh Sơn, Paris do Hòa thượng Thích Huyền Vi thành lập năm 1976 tại Joinville Le Pont, ngoại thành Paris. Chùa hiện tổ đình trụ sở chính của Giáo hội Phật giáo Linh Sơn Thế giới. Đoàn quán của Gia đình Phật tử Linh Sơn được đặt tại đây.
Chùa Trúc Lâm, Paris do cHòa thượng Thích Thin Châu thành lập năm 1980 tại Villebon sur Marne. Cũng từ năm này, chùa chính thức gia nhập vào Giáo hội Phật giáo Việt Nam, ngày nay do Thượng tọa Thích Phước Đường trụ trì.
Chùa Quán Âm do cố Hòa thượng Thích Chân Thường thành lập năm 1976 tại Champigny sur Marne. Hiện tại do hai Ni Thích Nữ Diệu Minh Thích Nữ Đàm Đoan đồng trụ trì.
Chùa Tịnh Độ Đạo Tràng do cư sĩ Đình Hy sáng lập năm
 

1985 tại khu Kremlin Bicêtre, sát với nội thành Ba Lê. đệ tử tại gia của cố Tăng thống Thích Tịnh Khiết.
Tinh Phật Bảo do Đức Minh kiến lập năm 1985 tại Savigny sur Orge. hành trì giáo pháp theo hệ thống Nguyên thủy Thái Lan.
Tinh Minh Đăng Quang do Trí Thâm thành lập, tọa lạc tại Logne, ngoại thành Paris, thuộc Giáo hội Phật giáo Tăng già KhấtViệt Nam.
Tinh Thích Ca Mâu Ni tọa lạc tại thị Fontainebleau, tại đây các hành trì theo hệ thống Nguyên thủy Miến Điện.
Chùa Pháp Vương do Hòa thượng Thích Trung Quán tnh lp tại Noyant dAllier.
Chùa Vạn Hạnh do Hội Phật giáo miền Tây Pháp quốc thành lập tại Nantes, chùa được cống hiến cho GHPGVNTN.
Đại Tòng Lâm Linh Sơn do Hoà thượng Thích Huyn Vi kiến lập năm 1986 tại ngoại ô tỉnh Limoge, đây một tu viện lớn nhất của Tịnh Độ tông tại Pháp.
Chùa Thin Minh do Thượng ta Thích Tánh Thin sáng lp năm 1986 tại Sainte Foy Lès Lyon, ngoại ô thành phố Lyon, thành phố công nghiệp thứ hai nước Pháp, nơi hai sông lớn Rhône Saon nhập làm một. Đoàn quán của Gia đình Phật tử Th n Minh, hiện nay văn phòng chính của Ban Hướng dẫn Pháp quốc đặt tại đây.
Chùa Pht Quang cũng do Thượng ta Thích Tánh Thin tnh lp, ta lc tại tỉnh Valence, một tỉnh nằm vphía hạ lưu sông Rhône.
Chùa Phước Bình do hội Phật giáo Bordeaux thành lập năm 1986 tại thành phố Bordeaux, hiện chùa đang do Thượng tọa Thích Minh Đức điều hành.
Chùa Liên Hoa do hội Phật giáo Bordeaux thành lập tại Villeneuve d’Ormon, ngoại ô Bordeaux. Chùa hiện do hai ni Thích Nữ Tịnh Hiền Thích Nữ Tịnh Hiếu trụ trì.
Chùa Siêu Nhật Nguyệt Quang Minh do một cố cư sĩ thành lập
 

tại thị Villeneuve sur Lot, gần thị trấn Agen, nơi dòng sông Lot chảy qua.
Chùa Bát Nhã hin do Đại đức Thích Phước Toàn trụ trì, chùa toạ lạc tại một ngôi làng Việt Nam thuộc thị Saint Livrade. Làng trước kia một trại lính, sau khi quân đội viễn chinh Pháp rút khỏi Đông Dương năm 1954, trại lính này được chính phủ Pháp phân phát cho người tỵ nạn Việt Nam đã làm việc cho chính phủ bảo hộ tại Đông Dương, vềtrú tại đây. Từ đó làng Việt Nam Saint Livrade được hình thành, cũng chẳng biết từ bao giờ từ một Niệm Phật đường Bát Nhã, kiều bào Việt đã kiến tạo thành chùa Bát Nhã trong làng, làm điểm tựa cho tâm linh duy trì tín ngưỡng của mình.
Chùa Linh Sơn, Cugnaux do Ni Thích Nữ Trí Lạc kiến tạo hoàn tt m 1994 tại thị xã Cugnaux, ngoại ô tnh phố Toulouse, một thành phố được xem như một “Nam kinh” của nước Pháp, chỉ cách biên giới Tây Ban Nha 50 km đường chim bay.
Chùa Linh Sơn, Carnon do Đại đức Thích Trí Tng tnh lp năm 1994 tại Carnon, ngoại ô thị trấn Montpellier, một thị trấn phồn thịnh bên bờ bin Đa Trung Hi.
Chùa Pháp Hoa do cố Hòa thượng Thích Thiền Định khai sơn lập tự, tọa lạc tại thành phố Marseille, một thành phố hải cảng lớn nht Pháp quốc bên bờ Đa Trung Hi.
Chùa Phổ Đà Ni Tự do Thích Nữ Như Tuấn kiến tạo, cũng tọa lạc tại thành phố Marseille, đây chùa Ni đầu tiên tại Pháp quốc.
Chùa Trúc  Lâm,  Marseille  hin  do  Thượnta  Thích  Tâm Trường trụ trì, chùađượckiếntom 1987 tại tnhphố Marseille.
Chùa Hồng Hiền do một nhóm Phật tử thành lập năm 1972 tại thị Fréjus, hiện chùa do Ni Thích Nữ Diệu Liên trụ trì. Sau, chùa được cống hiến cho Giáo hội Phật giáo Tăng già Thế giới.
Chùa Từ Quang do Hòa thượng Thích Tâm Châu thành lập năm
 

1976 tại thành phố du lịch đông nam nước Pháp: Nice, một thành phố sát biên giới Ý Đại Lợi.
Và sau cùng là Trung m Thin tông Vit Nam Làng Mai và các nhóm thin tại Lyon, Ardèche, Nice, Toulouse, Cournonternal và Strasbourg. Trung m được kiến to do Thin sư Thích Nht Hnh vào khoảng năm 1980. Làng gồm 5 thôn, mỗi thôn c một chùa các thiền đường để các tăng thân Phật tử các nơi về tu tập. Ngoài các khoá tu tập định kỳ hàng năm quy tụ đông đảo Phật tử, trung tâm Làng Mai hiện một tu viện c đông tăng ni nhất Âu châu, hơn 200 thầy tu học tại đây.
Ngoài hệ thống Thiền tông Làng Mai, ba tinh theo Nam tông, 24 chùa kể trên phần lớn đều theo Tịnh Độ tông. Các chùa mang tên Linh Sơn đều thuộc hệ thống Giáo hội Phật giáo Linh Sơn Th  giới.
  1. CÁC HỌC GIẢ PHẬT HỌC PHÁP
    1. Eugène Burnouf (1801-1852)
các bản tường trình về tình hình sinh hoạt Phật giáochâu Á được gởi về châu Âu từ thế kỷ XIII, song bức tranh về một Phật giáo đầy minh triết khoan dung vẫn chưa được khám phá, mãi cho đến giữa thế kXIX, tức chỉ mới cách đây khong 150 m. Trước đ, một số học giả châu Âu cũng đã bắt đầu tìm hiểu Phật giáo với vẻ rời rạc sài. Người đầu tiên đã nghiên cứu Phật giáo một cách nghiêm túcmột triết gia Pháp Eugène Burnouf. Burnouf đã nghiên cứu các bản kinh viết bằng các cổ ngữ như Pàli, Sanskrit, Tây Tng do các nhà kho cmang vParis. Dựa vào các bn kinh này, ông đã viết một cuốn sách dày 600 trang với tựa đề “Giới thiệu lịch sPht giáo n Đ. Dù rằng các thế hệ học givsau có nhng công trình nghiên cứu quy mô hơn nhưng họ vẫn luôn đánh giá cao tác phẩm mở đường của Eugène Burnouf.
Sau Eugène Burnouf vài thập kỷ, châu Âu xuất hiện nhiều học giả lỗi lạc đã khám phá ngọn nguồn kho tàng Phật giáo qua việc tìm hiểu các tông phái đương thời. Các học giả này thuộc về ba trường phái chính. Trường phái Anh - Đức chú trng nhiu
 

đến kinh tạng Pàli. Công việc của các học giả thuộc trường phái này gắn liền với những thành quả của Hội Thánh điển Pàli do GS. Rhys Davids, Oldenberg, Wood Ward, Honer, Faisboll, Anderson, Helmer Smith... Trường phái thhai Pháp - Bỉ chuyên nghiên cứu Phật giáo Ấn Độ cả về Tiểu thừa lẫn Đại thừa thông qua các bản kinh bằng tiếng Sanskrit, Tây Tng và Trung Quốc. Nhng học giả uy tín thuộc trường phái này Walle Poussin, Sylvain, Levy Lamotte. Trường phái thba là trường phái Nga với các học gitiêu biu như Stcherbatsky, Rosenberg và Obermiller. Trường phái này chuyên nghiên cứu tư tưởng Phật học Ấn Độ các quốc gia Phật giáo khác, đc bit là Tây Tng. Dù rằng các học ginày thường giữ thái độ kín đáo về tín ngưỡng của mình, song việc sưu tầm, biên dịch, khảo cứu xuất bản các công trình nghiên cứu Phật học của họ đã trở thành một nền tảng quan trọng cho sự phát triển Phật giáophương Tây. Công cuộc nghiên cứu của các nhà tiên phong này mãi cho đến hôm nay vẫn chiếm một vị trí quan trọng.gặp phải những trở ngại của hai cuộc thế chiến sự thiếu thốn về mặt tài chính, các học giả tại các viện nghiên cứu càng ngày càng quan tâm, nghiên cứu Phật giáo sâu sắc hơn, quy mô hơn, đặc biệtkhi khảo sát những cổ thụ Phật giáo từ Sri Lanka đến Mông Cổ, từ Gandhara đến Nhật Bản. Đ những phác họa bản cho sự phát triển sau này của Phật giáo.
    1. Paul Demiéville (1894-1979)
Paul Demiéville người Pháp gốc Thụy Sĩ, chuyên về Đông phương học nổi tiếng với những nghiên cứu về các bản thảo Pht giáo Đôn Hoàng, các bn dịch thơ Trung Quốc, cũng như trong nhiệm kỳ 30 năm của ông vớicách đồng biên tập của T’oung Pao.
Demiéville một trong những nhà nghiên cứu Hán học hàng đầu của nửa đầu thế kỷ XX, được biết đến với những đng gp rng lớn cho học thut Trung Quốc và Pht giáo. nh hưởng của ông đối với Hán học tại Pháp đặc biệt sâu sắc, ông nhà nghiên cứu vTrung Quốc duy nht của Pháp sng sót sau Thế chiến II.
 

Demiéville là một trong nhng nhà nghiên cứu Trung Quốc đu tiên học tiếng Nht để ng cường nghiên cứu vTrung Quốc: trước đu thế kXX, hu hết các học giả của Trung Quốc đã học tiếng Mãn Châu như ngôn ngữ học thuật thứ hai của họ, nhưng thay vào đ, họ đã nghiên cứu về tiếng Nhật kể từ thời của Demiéville.
Các tác phẩm về Phật học bằng tiếng Pháp của ông: Các phiên bn tiếng Trung Quốc vkinh Mi-tiên vn đáp, Vtính xác thực của Đại thừa khởi tính lun, Kkiết tập kinh đin tại Vaiśāli, Du già sư địa luận của Sangharaksa.
    1. Bernard Faure
Bernard Faure sinh năm 1948, học giả người Pháp, chuyên về các tôn giáo châu Á, tập trung vào Thiền Phật giáo Mật tông Nhật Bản. Công trình của ông dựa trênthuyết văn ha, nhân chủng học nghiên cứu về bình đẳng giới. Ông hiện Giáo Tôn giáo Nhật Bản tại Đại học Columbia Giáo danh dự về Nghiên cứu Tôn giáo (và trước đây Giáo Tôn giáo Trung Quốc) tại Đại học Stanford. Ông cũng từng giảng dạy tại Đại học Cornell, và đã từng là giáo sư thỉnh giảng ti Đi học Tokyo, Đại học Sydney École Pratique des Hautes ÉtudesParis. Ông người đồng sáng lập Trung tâm Nghiên cứu Phật giáo tại Đại học Stanford Tạp chí ARC về Tôn giáo Văn ha Châu Á trong Nhà xuất bản Đại học Stanford. Ông cũng người sáng lập đồng giám đốc của Trung tâm Phật giáo tôn giáo Đông Á Columbia. Tác phẩm của ông đã được dịch sang nhiều ngôn ngữ châu Á châu Âu.
    1. Alfred Charles Auguste Foucher (1865-1952)
Alfred Charles Auguste Foucher (1865 - 1952), một học giả người Pháp, đã xác định hình ảnh Đức Phật c nguồn gốc từ Hy Lp. Ông được gi là cha đẻ của Gandhara học, và là một học giả được trích dẫn nhiều về Phật giáo cổ đạitiểu lục địa Tây Bắc Ấn Độ vùng Kush của Ấn Độ giáo.
Ông đã thực hiện chuyến đi đầu tiên đến vùng đông bắc Ấn Độ
 

vào năm 1895. Năm 1922, ông được chính phủ Pháp Afghanistan yêu cầu thành lập hội khảo cổ học.
Tác phẩm nổi tiếng nhất của Foucher Nghệ thuật Phật giáo Gandhara, trong đó ôngtả nghệ thuật Phật giáo trước thời Hellen chủ yếu không c hình người, đại diện cho Đức Phật bằng cáchtả các yếu tố của cuộc đời Đức Phật, thay tả chính Đức Phật. Foucher cho rằng những hình ảnh điêu khắc đầu tiên của Đức Phật bị ảnh hưởng nặng nề bởi các nghệHy Lạp. Ông đặt ra thut ngữ “Nghệ thut Pht giáo Hy Lp.
Foucher đặc biệt coi các vị Phật đứng tự do Hy Lạp “đẹp nhất và có lẽ là cxưa nht của các vPht, thế kỷ I trước Công nguyên, biến chúng thành điểm khởi đầu của các biểu tượng nhân học của Đức Phật.
C thể nói rằng, học giả người Pháp E. Burnouf người mở ra, mặc định nền tảng văn hiến học qua ngữ ngôn học trong nghiên cứu Phật học phương Tây. Ông một học giả mở đầu cho việc lấy ngữ ngôn học nghiêm chỉnh để nghiên cứu phiên dịch Phật điển. Từ sớm vào năm 1826, ông với Chr. Lassen cùng biên soạn bộ từ điển tiếng Pāḷi đầu tiên châu Âu. Ông nghiên cứu qua không ít kinh điển Đại thừa Tiểu thừa, bao gồm Pháp Hoa kinh Trường A-hàm kinh (Dīghanikāya), đã đem những bản sách luận trước đây dịch ra tiếng Pháp. Ông không những xem trọng kinh điển tiếng Phạn tiếng i, xem đại biểu Phật giáo chính tông Ấn Độ, còn chú ý tớiliệu những khía cạnh khác, trong đó bao gồm phiên dịch giải thích tiếng Tích Lan, tiếng Miến Điện, tiếng Thái Lan, tiếng Tây Tng. Ngoài ra, ông còn kng bỏ sót ngvăn Prakrit n Độ, như tiếng Bangladesh, dốc sức tâm đắc khía cạnh tỉ giảo ngữ ngôn. Ông đúng thực một thiên tài ngữ ngôn học.
Nối tiếp sau thời E. Burnouf, giới nghiên cứu Phật học Pháp xuất hiện rất nhiều học giả khác. Phạm vi của họ, bao gồm nghiên cứu nguyên đin tiếng Phạn, kinh tạng Pāi và kinh đin Tây Tng, cũng có xen ln văn bn Hán dịch. Như Louis de la Valle Poussin
 

dịch Thành Duy Thức Luận ra tiếng Pháp, Étienne Lamotte người Pháp dịch Đại Trí Độ Luận ra tiếng Pháp.
LỜI KẾT
Tại châu Âu, vào đầu thế kỷ XX, các tổ chức Phật giáo bắt đầu hình thành phát triển. Báo chí, kinh sách Phật giáo được xuất bản khắp nơi, các tài liệu Phật pháp dành cho giới bình dân cũng như trí thức ngày càng nhiều thêm. Phần lớn các nhà lãnh đạo Phật giáo chú trọng nhiều hơn về kinh tạng Pàli Phật giáo Nguyên thủy. C thể nói trong giai đoạn này Phật giáo châu Âu thiên vềthuyết hơn thực hành.
Tuy các trường đại học của Pháp ít chú trọng về Phật học nhưng nhờ các trung tâm Thiền tự viện nên sự truyền Phật pháp phần nào đó đã đáp ứng nhu cầu tìm hiểu một học thuyết mới, lý tưởng sống mới của hội Pháp đương thời. Phật giáo đã thu hút nhiều người Pháp thuộc mọi thành phần khác nhau. Con số tín đồ Phật giáo gia tăng nhanh chng. Phật giáo được xem một trào lưu văn ha phù hợp nhất đối với hội hiện đại, tôn giáo này c một sức cảm ha rất lớn đối với nhiều thương gia, các nhà vật lý học, các lập trình viên, những người nội trợ, các ngôi sao thể thao, các diễn viên điện ảnh những ca sĩ tiếng tăm. Hàng trăm ngàn người Pháp luôn áp dụng giáoPhật giáo trong cuộc sống hàng ngày của mình. Phật giáo c ảnh hưởng sâu sắc đến mọi khía cạnh của hội Pháp như: triết học, sinh thái học, tâm lý học, y tế, nghệ thuật, văn chương ngay cả thần học Thiên Chúa giáo.
Nhờ sự hoằng pháp của các vị đại Phật giáo đến từ Nhật Bản, Tây Tng, các quốc gia Pht giáo Nguyên thủy; sự truyn bá Thin chánh niệm của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, sự trở về của những vị cư sĩ tu sĩ Pháp sau nhiều năm tu học tại các quốc gia phương Đông, Phật giáo tại Pháp ngày càng khởi sắc hơn. Ngày nay, Phật giáo được xem một phương tiện để chuyển ha đời sống tinh thần hữu hiệu thiết thực đối với đa số quần chúng nước Pháp.




Tài liệu tham khảo
Akira Yuyama, Eugene Burnouf: The Background to  his  Research into the Lotus Sutra, Bibliotheca Philologica et Philosophica Buddhica, Vol. III, The International Research Institute for Advanced Buddhology, Tokyo, 2000.
Fenet, Les archives Alfred Foucher (1865-1952) de la Société asiatique (Paris), Anabases VII, 2008.
Jason Neelis, Early Buddhist Transmission and Trade Networks: Mobility and Exchange Within and Beyond the Northwestern Borderlands of South Asia, BRILL Academic, 2010.
Kalu Rinpoche, Excellent Buddhism: An Exemplary Life, Clear Point Press, 1995.
Lionel Obadia, Tibetan Buddhism in France: A Missionary Religion, Journal of Global Buddhism 2, 2001.
Macdonald Alexander W., Obituary - Paul Demville, Journal of the International Association of Buddhist Studies, Vol. 2, 1979.
Steven Heine, Reviewed work: Double Exposure: Cutting across Buddhist and Western Discourses, Bernard Faure, Philosophy East and West, JSTOR, 2006.
TKhoa, Pht go Việt Nam ti Pp, https://quangduc.com, Truy cập vào ngày 10-10-2019.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây