36. ĐÀOTẠO,BỒIDƯỠNGĐỘINGŨTRÍTHỨCPHẬTGIÁO VIỆT NAM TRONG CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0

Thứ sáu - 06/12/2019 08:11
ĐÀOTO,BỒIDƯỠNGĐỘINGŨTRÍTHỨCPHTGIÁO VIỆT NAM TRONG CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
 
Nguyễn Văn Tuân
 
                Lịch sử đã chứng minh, bất cứ dân tộc nào muốn hưng thịnh đều phải thu hút trọng dụng trí thức. Vấn đề này đã trở thành quốc sách của nhiều quốc gia. Đối với Việt Nam, nhân tài trí thức luôn được coi là nguyên khí quốc gia. Trí thc có vai trò quan trng trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc xây dựng, kiến thiết đất nước. Sau nhiều thế kmmang nghip học, đến thế kXV, Đi học sĩ Thân Nn Trung đã nhấn mạnh: “Mở khoa thi, chọn kẻ việc đầu tiên trong phép trị nước. điểm đồ, mở mang giáo hóa cho đời thịnh trị nhờđó. Sửa sang chính trị, sắp đặt mọi việc giáo hóa nhân dân, gây phong tục tốt nhờđó. Các bậc đế vương xưa làm nên sự nghiệp trị bình không ai không theo con đường ấy”1. Th kỷ XVIII, nhà chính trị, nhà văn hóa, nhà bác học thiên tài Quý Đôn (1726 - 1784) đã nhấn mạnh tầm quan trọng đặc biệt của trí thức. Ông nêu ra một khảo dị mang giá trị luận thực tiễn sâu sắc “Phi trí tắc vong” (điều này nghĩa không trí thức, hiền tài, hoặc không biết sử dụng trí thức, hiền tài, thì chắc chắn mất nước, chứ không chỉ đơn giản đất nước không hưng thịnh).



*. TiếnHọc viện An ninh Nhân dân.
1. Tăng Hoành (1999), Tiến sĩ Nho học Hải Dương (1075 - 1919), Hải Dương.
 

Kể từ khi du nhập vào Việt Nam, trải qua hàng ngàn năm, bao thế hệ trí thức Phật giáo đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giữ gìn, thống nhất non sông gấm vóc khôi phục, kiến thiết nước nhà. Hiện nay, sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại, nhất sự ra đời Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, đội ngũ trí thức của Phật giáo không chỉ nguồn lực quan trọng để giữ gìn, phát triển đạo Phật còn nguồn lực đặc biệt của dân tộc trong chiến lược phát triển đất nước theo hướng hiện đại, bền vững. thế, xây dựng đội ngũ trí thức Phật giáo chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển, hội nhập của Phật giáo nói riêng, của dân tộc nói chung yêu cầu tất yếu, khách quan hiện nay.
1. TRÍ THỨC PHẬT GIÁO VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC PHẬT GIÁO
Trong lịch sử, trí thức Pht giáo luôn được các triu đại phong kiến nhân dân đề cao coi trọng. Dù ở góc độ, phương diện nào, đội ngũ trí thức Phật giáo luôn đồng hành cùng nhân dân, cùng dân tộc. Họ không chỉ gánh trên vai trách nhiệm truyền bá, bảo tồn, giữ gìn giáo lý, giáo luật của nhà Phật, đem ánh sáng Phật pháp phổ độ cho chúng sinh còn góp sức trong việc hoạch định chủ trương, quyết sách của dân tộcnhững thời điểm quan trọng của lịch sử. Nhiều bậc cao tăng trong lịch sử như (Thiền Vạn Hạnh; Thiền Nguyễn Minh Không;…) những minh chứng cho những bậc trí thức uyên thâm giàu lòng yêu nước. Ngày nay, trí thức Phật giáo một bộ phận quan trọng nằm trong hệ thống nguồn nhân lực chất lượng cao của đất nước, những người học vấn cao về các lĩnh vực (Pht học; Triết học; Sử học; Nn học; Tôn giáo học;…), có tư duy độc lập sáng tạo. Họ góp phần đem ánh sáng của Phật pháp, tri thức của dân tộc đến với mọi người dân nhân loại. Họ tạo ra những sản phẩm tinh thần giá trị không chỉ đối với Phật giáo cả với đất nước, chiếc cầu kết nối văn hóa, tri thức của dân tộc Việt Nam với nhân loại.
thể thấy, trí thức Phật giáo một bộ phận hội đặc biệt của cấu dân cấu nguồn lực của Giáo hội Phật giáo nói riêng, 
của hội nói chung, những người trình độ học vấn, chuyên môn sâu về các lĩnh vực khác nhau liên quan hoặc nhằm phục vụ cho các hoạt động của Phật sự, đạo đức, niềm tin vào Đức Phật, là những người luôný thức phấn đấu, cống hiến không ngừng đạo Phật, cộng đồng hội, quốc gia dân tộc luôn luôn nhận được sự kính trọng của đông đảo Phật tử nhân dân.
Nghiên cứu lịch sử thực tiễn cho thấy, trí thức Phật giáo xuất thân từ nhiều giai, tầng khác nhau trong hội. những người xuất thân từ tầng lớp quý tộc phong kiến, người xuất thân từ nông dân, nhân dân lao động. Trí thức Phật giáo với trình độ chuyên môn học vấn cao, được đào tạo từ nhiều nguồn khác nhau trong ngoài nước. Đội ngũ trí thức Phật giáo luôn sự kế thừa, tiếp nối giữa các thế hệ trí thức trong lịch sử. Đánh giá về sự đóng góp của trí thức nói chung, trí thức Phật giáo nói riêng, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (2011) đã khẳng định: Cùng với sự phát triển của đất nước, đội ngũ trí thức đã tăng nhanh về số lượng, nâng lên về chất lượng; góp phần trực tiếp cùng toàn dân đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, từng bước xóa đói giảm nghèo, phát triển đất nước, nâng cao chất lượng cuộc sống. Đội ngũ trí thức đã đóng góp tích cực vào xây dựng những luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng Nhà nước, góp phần làm sáng tỏ con đường phát triển của đất nước giải đáp những vấn đề mới phát sinh trong sự nghiệp đổi mới; trực tiếp đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao dân trí bồi dưỡng nhân tài; sáng tạo những công trình giá trị về tưởng nghệ thuật, nhiều sản phẩm chất lượng cao, sức cạnh tranh”2.
Tác động của cách mạng khoa học - công nghệ, đặc biệt cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0)3, bên cạnh những đặc điểm chung của đội ngũ trí thức: tầng


  1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Nội, tr. 82-83-84.
  2. Theo GS. Klaus Schwab, chủ tịch Diễn đàn Kinh tế Thế giới được tổ chức đầu năm nay tại Thụy Sĩ, Industry 4.0 hay Cuộc cách mạng công nghiệp thứ 4 (FIR), một thuật ngữ bao gồm một loạt các công nghệ tự động hóa hiện đại, trao đổi dữ liệu chế tạo. FIR được định nghĩa “một cụm thuật ngữ cho các công nghệ khái niệm của tổ chức trong chuỗi giá trị”
 

lớp hội đặc biệt; những người lao động trí óc phức tạp; trình độ học vấn, chuyên môn cao; tư duy độc lập; khả năng đưa tri thức khoa học vào thực tiễn góp phần thúc đẩy tiến bộ hội,… Đội ngũ trí thức Phật giáo còn những đặc điểm riêng mang tính đặc thù như: trí thức Phật giáo sớm giác ngộ, niềm tin tuyệt đối vào giáo lý, giáo luật của Phật giáo, nguyện trọn đời tu luyện theo hạnh đạo của Đức Phật; nguồn gốc xuất thân từ những giai tầng khác nhau trong hội luôn gắnvới nhân dân lao động; lối sống khiêm cung, nhân văn, từ bi, lấy lợi ích của chúng sinh lẽ sống cho quá trình tu tâm, rèn trí của bản thân; luôn tích cực học tập, nâng cao trình độ chuyên môn nghiên cứu khoa học để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong quá trình hành đạo; tinh thần sáng tạo, tư duy độc lập trong hoạt động nghiên cứu Phật giáo đemtưởng, khám phá mới vào phục vụ cho sự sinh trưởng của Phật giáo an lạc trong tâm tưởng cho nhân dân; họ tiếp nối phát huy những giá trị tích cực đang của Phật giáo, văn hóa Phật giáo, đấu tranh chống lại những tiêu cực gây nguy hoại cho Phật giáo… thể khẳng định, đặc điểm bản nhất của trí thức Phật giáo luôn khắc phục khó khăn, giữ tâm trí kiên định, lối sống khiêm nhường, nhân văn. thế, trí thức Phật giáo Việt Nam luôn được hội nhìn nhận, đánh giá cao về tinh thần học tập và nghiên cứu khoa học.
Kể từ khi tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành lập đến nay, cùng với đường lối, chủ trương đào tạo, phát triển đội ngũ trí thức phục vụ cho quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hội nhập đất nước, Giáo hội Phật giáo Việt Nam luôn quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ trí thức Phật học. Gần 40 năm qua (từ 1981 đến nay), với tinh thần trách nhiệm phụng sự Đạo pháp luôn ý thức trách nhiệm của người tu trí thức về những vấn đmang tính cht Quốc kế, Dân sinh, dưới squan m, ch đo sát sao của Trung ương Giáo hi Pht giáo Vit Nam, vai trò của đi ngũ




đi cùng với các hệ thống vậttrong không gian ảo, Internet của vạn vật Internet của các dịch vụ.
 

trí thức Phật giáo ngày càng được phát huy, được tập trung một số vai trò sau:
Trí thức Phật giáo đã phát huy vai trò tiếp thu, sáng tạo truyền trí thức về Pht go đến đông đảo n đồ Pht tử và nhân n: Trước yêu cầu đặt ra của sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ phát triển nền kinh tế tri thức, trí thức Phật giáo đang từng bước đa dạng hóa các phương thức tự học tập, tự nghiên cứu, chủ động tích lũy kiến thức Phật học không ngừng nâng cao trình độ ngoại ngữ, tin học và kng mềm. Trong hot động chuyên môn, bám sát sự phát triển của đất nước trên sở ý thức vị trí, vai trò nên họ phải thường xuyên nêu cao tinh thần trách nhiệm, tích cực tích lũy kiến thức chuyên môn đúc rút kinh nghiệm thực tiễn rút ra từ hoạt động Phật sự. Đội ngũ trí thức Phật giáo tiếp thu được những tri thức khoa học tiên tiến, hiện đại của thế giới để giảng dạy cho học viên đang theo học ở các trường học viện, cao đẳng, trung cấp cấp của Giáo hội.
Bất cứ một hội nào muốn phát triển đều phải dựa trên con người. Con người theo quan điểm của Phật giáo chủ đề hội. Song không chỉ vậy, muốn làm tốt vai trò của thể hội con người phải trí tuệ phẩm hạnh. Đức Phật giáo đạo Phật lấy con người làm vị trí trung tâm để quán vị thế giới làm chủ thế giới. Các đệ tử thấm nhuần lời dyca Đức Phật phải biết nương tựa vào chính mình, không được dựa dẫm vào các thế lực nào khác. Muốn vậy, con người phải trí tuệ, lấy trí tuệ làm sự nghiệp của mình theo một phương châm: Duy Tuệ thị nghiệp.4
Bước đầu xây dựng được những luận cứ khoa học góp phần quan trọng vào hoạt động hoàn thiện chủ trương, chính sách của Đng, Nhà nước: Với năng lực thực tiễn, trí thức Phật giáo đã cung cấp nhiều luận cứ khoa học giá trịluận thực tiễn sâu sắcnhiều lĩnh



  1. PGS. TS. Nguyễn Hồng Dương Phật giáo Việt Nam với công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
 

vực khác nhau, đặc biệt trong lĩnh vựcvấn, giám sát, thậm chí cả phản biệnhội. Hoạt độngvấn, phản biện của đội ngũ trí thức được coi như một hành vi chất lượng khoa học của phê phán. Hoạt độngvấn tốt góp phần tạo ra sự đồng thuận cho phát triển, giảm được tối đa những yếu tố trở ngại trong quá trình thực thi các quyết sách. Thực tiễn, hoạt độngvấn nhiệm vụ khó khăn đòi hỏi trí thức Phật giáo phải bề dày kinh nghiệm bản lĩnh được tôi luyện trong môi trường tu học lâu năm mới tham mưu cho Giáo hội Nhà nước Việt Nam ban hành được những chủ trương, chính sách hiệu quả, tích cực. Hiện nay, trí thức Phật giáo nhiều vị cao tăng trình độ học vấn cao (Hòa thượng, tiến sĩ Thích Bảo Nghiêm; Thượng tọa, Tiến sĩ Thích Đức Thiện; Thượng tọa, Tiến sĩ Thích Thanh Quyết;…) luôn nhiều ý kiến đóng góp tích cực, hiệu quả trong việc ban hành nhiều Bộ Luật, chính sách nhằm phát triển bền vững đất nước trên tất cả các lĩnh vực.
Đóng góp nhiều công trình nghiên cứu, sáng tạo khoa học cả về số lượng chất lượng: Mặc điều kiện tu học, nghiên cứu gặp nhiều khó khăn hơn so với những bộ phận trí thức khác song trí thức Phật giáo luôn tìm tòi, sáng tạo ra những công trình khoa học cógiá trị vật chất tinh thần cao, nhiều công trình của họ được các nhà nghiên cứu khoa học trong nước thế giới công nhận, đánh giá cao (công trình “Sự hội nhập Phật giáo với tín ngưỡng thờ cúng truyền thống của người dân Nội hiện nay” của Hòa thượng, Tiến Th Thanh Nhiễu; công trình “Mô hình phát trin Bhutan và tác động quốc tếca tác giNguyn Tt Lân ại đức Th Thanh Tâm); công trình “Điều chỉnh tâm con người theo Phật giáo” của tác giả Đào Thanh Phong (Đại đức Th   Quảng Phú); rất nhiều công trình của Th  n Th     Nhất hạnh;…).
Tiếp nối vàpthuygiá trị nhân sinh quantích cực của Phật giáo, giá trị văn hóa truyền thống dân tộc chiếc cầu nối tình hữu nghị đoàn kết dân tộc đoàn kết thế giới: Trong những năm gần đây, các tu viện, chùa, cơ sở thờ tự của Giáo hội đã tổ chức được hàng trăm các lớp tu học dưới nhiều hình thức khác nhau. Thông qua những bài thuyết giảng, trí thức Phật giáo đã tiếp nối các bậc tiền nhân đi trước phát 
huy được giá trị nhân sinh quan tích cực của Phật giáo trong giai đoạn hiện nay chống lại mọi biểu hiện tham, sân, si hướng Phật tử, nhân dân sống thiện, hướng đến cái đẹp, cái chân thực ở đời. Giáo dục, khuyên răn Phật tử sống chan hòa với thiên nhiên, có trách nhiệm bảo tồnphát triển môi trường sinh thái; tham gia tích cực vào các hoạt động an sinh hội do Nhà nước, Giáo hội tổ chức. Bên cạnh đó, trí thức Phật giáo có nhiều hành động tích cực kế thừa và phát huy truyền thống yêu nước, tinh thần hiếu học của dân tộc. Nhờ đó mà nhiều Phật tử tiếp cận được trí thức mới, hiện đại của thế giới.
Thực hiện đường lối đổi mới, hội nhập quốc tế, Giáo hội Phật giáo Việt Nam cũng không ngừng mở rộng các hoạt động giao lưu, học hỏi với các quốc gia trên thế giớiĐạo Phật.thế, với kinh nghiệm, uy tínkhả năng của đội ngũ trí thức Phật giáo đã trở thành chiếc cầu nối giữa Phật giáo Việt Nam với Phật giáo các nước trong khu vực và thế giới. Từ đó, góp phần nâng cao vị thế của Phật giáođất nước Việt Nam trên trường quốc tế.
Đội ngũ trí thức Phật giáo tích cực tham gia vào các hoạt động hội khác của đất nước, tiêu biểu như tham gia vào chương trình xóa đói, giảm nghèo, giảm nghèo đa chiều, giảm nghèo bền vững; chăm sóc người công những người yếu thế trong hội; bảo vệ môi trường thiên nhiên; phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc;…
Ngoài những thành tựu đạt được nêu trên, trong thời gian qua, việc phát huy vai trò đội ngũ trí thức Phật giáo còn bộc lộ nhiều hạn chế, khiếm khuyết cần phải khắc phục trong thời gian tới: nhà khoa học giỏi, những chuyên gia nghiên cứu khoa học đầu ngành, chuyên sâu về Phật giáo chưa nhiều; số công trình nghiên cứu khoa học được công bố ở các tạp chí uy tín trên thế giới, số sáng chế được đăng quốc tế của trí thức Phật giáo còn rất khiêm tốn; hoạt động khoa học, nghiên cứu lý luận về Phật giáo để đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn còn rất ít, khả năng dự báo định hướng chưa cao, chưa giải đáp được nhiều vấn đề do thực tiễn đặt ra của cuộc 
cách mạng công nghiệp 4.0; chưa những công trình sáng tạo lớn, nhiều công trình còn lược, sao chép; quá trình học, nghiên cứu luôn gắn với các hoạt động Phật sự nên kết quả chưa cao; điều kiện để cho trí thức Phật giáo nghiên cứu còn nhiều hạn chế; công tác đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm trí thức Phật giáo ở một số nơi chưa phát huy được thế mạnh của từng người. Những hạn chế này, đòi hỏi Giáo hội Phật giáo phải tiếp tục nghiên cứu, đưa ra những giải pháp cụ thể, phù hợp nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng trí thức Phật giáo, từ đó phát huy được vai trò của họ nhằm đáp ứng được yêu cầu đặt ra của cách mạng công nghiệp 4.0.
  1. THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC PHẬT GIÁO HIỆN NAY
* Về số lượng, chất lượng đội ngũ trí thức Phật giáo
Sự nghiệp hoằng truyền Phật pháp phải đồng hành cùng dân tộc, cho nên, Phật giáo Việt Nam đã góp phần to lớn vào sự nghiệp đấu tranh thống nhất dân tộc xây dựng, đổi mới hội nhập quốc tế. Từ xa xưa, giáoPhật Đà đã được các tăng, ni truyền giảng thấm nhuần trong đời sống của đông đảo người Việt Nam. Giá trị tốt đẹp của Phật giáo đã góp phần hun đúc nên những giá trị tốt đẹp của con người Việt Nam. Lịch sử Việt Nam đã ghi nhận, thời nào Phật giáo cũng những đóng góp xứng đáng trong công cuộc bảo vệ xây dựng đt nước, nêu cao triết lý nh động hộ Quốc, an Dân. Do đó, hội rất cần đội ngũ trí thức Phật giáo để tiếp tục nghiên cứu, chuyên sâu về Phật giáo sự vận dụngtưởng của Phật giáo vào đời sống hội. thế, trong những năm gần đây, số lượng, chất lượng tăng, ni của Giáo hội Phật giáo Việt Nam không ngừng lớn mạnh: đến tháng 7 năm 2019, Giáo hội 53.941 tăng, ni (Bắc tông: 38.629 tăng, ni; Nam tông Khmer: 8.574 tăng, ni; Nam tông Kinh: 1.754 tăng, ni (1.100 tăng 654 ni); 4.984 khất sĩ).
Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cùng với đội ngũ trí thức của các nước, đội ngũ trí thức Phật giáo Việt Nam phát triển nhanh về số lượng, nâng cao về chất lượng đã thực sự hình thành một đội ngũ trí thức hùng hậu, chiếm tỷ lệ đặc biệt quan trọng trong cấu giai cấp hội ở Việt Nam... Đội 
ngũ trí thức Phật giáo đóng góp không nhỏ vào sự lớn mạnh của Phật giáo sự nghiệp phát triển kinh tế - hội, hội nhập của đất nước. thể thấy, người tu hành, sống cuộc sống thanh bạch, giản dị, mực thước luôn lấy giáo lý, giáo luật của nhà Phật tôn chỉ, mục đích song đội ngũ trí thức vẫn thực hiện tốt chức năng của đội ngũ trí thức, công dân của đất nước Việt Nam nên mặttất cả các lĩnh vực đời sống, kinh tế - hội, khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo, văn học - nghệ thuật. Đặc biệt, nhiều vị trí thức Phật giáo đã những thành tựu trong quá trình hoạt động hội đóng góp quan trọng vào sự đổi mới khoa học - công nghệ của đất nước.
Đến năm 2017, Việt Nam khoảng 6,5 triệu người trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên, tăng hơn 3,7 triệu người so với năm 20095 (năm đầu tiên triển khai Nghị quyết số 27-NQ/TW về “Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”). Như vậy, đội ngũ trí thức Việt Nam đã tăng thêm khoảng 2,8 triệu người sau 9 năm (2009 - 2017) so với 2,25 triệu người trong 10 năm trước khi ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TW (1999 - 2009)6. Ngoài trí thức trong nước, còn khoảng hơn 400.000 người trí thức Việt kiều (trong đó có hơn
6.000 tiến hàng trăm trí thức tên tuổi được đánh giá cao) trên tổng số hơn bốn triệu người Việt Nam đang sinh sống ở gần 100 quốc gia vùng lãnh thổ trên thế giới7.
một bộ phận thuộc đội ngũ trí thức Việt Nam, đội ngũ trí thức Phật giáo cũng không ngừng lớn mạnh, hiện naychưa được thống đầy đủ song số lượng nghiên ban đầu được nghiên cứu khảo sát cho thấy, trí thức Phật giáo khoảng 350 người trình độ tiến khoảng 2.000 người trình độ thạc hàng ngàn cử


  1. Phạm Ngọc Linh (2018), Xây dựng phát triển đội ngũ trí thức - Mười năm nhìn lại, Báo điện tử Tạp chí Cộng sản, ngày 21/8/1018.
  2. Phạm Ngọc Linh (2018), Xây dựng phát triển đội ngũ trí thức - Mười năm nhìn lại, Báo điện tử Tạp chí Cộng sản, ngày 21/8/1018.
  3. Phạm Ngọc Linh (2018), Xây dựng phát triển đội ngũ trí thức - Mười năm nhìn lại, Báo điện tử Tạp chí Cộng sản, ngày 21/8/1018.
 

nhân. Số lượng trí thức này được đào tạo từ nhiều nguồn khác nhau (cơ sở giáo dục của giáo hội; các trường đại học, học viện trong nước quốc tế).
Ngoài ra, Phật giáo còn hàng trăm tăng, ni đang theo học đại học, sau đại học và tu nghip sinh ở trong nước và quốc tế. Trong thời gian tới, sau khi tốt nghiệp được công nhận học vị thì số lượng trí thức Phật giáo trình độ học vị cao sẽ nhanh chóng tăng lên. Họ chính đội ngũ kế cận, lãnh đạo, phát triển Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong thời gian tới.
Quá trình nghiên cứu cho thấy, đội ngũ trí thức Phật giáo tập trung tu tập, hoạt động Phật sự chủ yếuhai trung tâm thành phố lớn của Việt Nam (Th đô Nội; Thành phố Hồ Chí Minh), ngoài ra còn tập trung đông ở một số địa phương như: Thành phố Huế; Thành phố Cần Thơ;... Bởi đây sở của Giáo hội (Đội ngũ trí thức tham gia vào công tác quản lý, văn phòng của các địa phương, ban, png của Trung ương Giáo hi) và cũng là nơi tập trung các sở đào tạo, bồi dưỡng bậc học đại học, sau đại học của Giáo hội (Học viện Phật giáo Việt Nam tại Nội; Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh). Đội ngũ trí thức tham gia vào công tác giảng dạy nghiên cứu ở các học viện, cao đẳng các viện, trung tâm nghiên cứu của Giáo hội. Tuy nhiên, ở một số địa phương điều kiện tự nhiên, kinh tế - hội khó khăn, số lượng trí thức Phật giáo phân bổ tương đối ít, thậm chí rất ít tăng, ni trình độ cao tham gia công tác trụ trì hay các hoạt động Phật sự nơi đó.
Thời gian gần đây, số lượng trí thức Phật giáo tăng nhanh về học hàm tiến thạcsong số lượng lớn chủ yếu tập trung vào đội ngũ tăng. Tuy nhiên, trong thực tiễn chúng ta đã thấy, gần đây một số ni do sự nỗ lực không ngừng nên đã được Nhà nước công nhận học vị tiến sĩ, thạc sĩ. Họ đã nghiên cứu công bố hàng trăm công trình khoa học giá trị cả về luận thực tiễn (sách, báo, tạp chí) như: Công trình “Đạo đức Phật giáo với văn hóa đạo đức người dân quận Long Biên, Nội” của Ni Th Đàm Lan; công trình “Phật giáo Nam Định hiện nay” của Ni Th      Đàm Hân;…
 

Để đáp ứng được yêu cầu đặt ra, đội ngũ trí thức Phật giáo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam được đào tạo từ nhiều nguồn (trong nước ngoài nước) những lĩnh vực khác nhau song chủ yếu tập trung ở lĩnh vực khoa học xã hi và nn văn (Tôn giáo học; Triết học; Quảngiáo dục; Tâm lý học; Công tác hội; hội học;…). Do tính chất đặc thù của người tu hành nên số lượng trí thức Phật giáo Việt Nam theo học các ngành khoa học tự nhiên, ngành khoa học - kỹ thuật, kinh tế, nhất lĩnh vực công nghệ thông tin, điện tử,… chưa nhiều, thậm chí thể khẳng định rất ít. chăng, những nguồn này do chính nhữngcưsau khi tốt nghiệp họ mới phát nguyện đi tu hoặc một số ít được Giáo hội cử đi học ở các sở giáo dục khác ngoài Giáo hội. Chính thế, để hoạt động Phật sự đa dạng, toàn diện trên mọi lĩnh vực, thể đi tắt đón đầu cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ yêu cầu khó khăn.
Hàng năm, đội ngũ trí thức Phật giáo tiếp tục tham gia vào các hoạt động giảng dạy, đào tạo, hướng dẫn nghiên cứu sinh, học viên cao học, học viên cử nhân tham gia nghiên cứu khoa học ở nhiều cấp độ khác nhau của quốc gia của Giáo hội Phật giáo. Ngoài ra, họ còn được tham gia học tập, nghiên cứu nhiều lớp dài hạn, ngắn hạn của Nhà nước Giáo hội nhằm nâng cao trình độ chuyên môn sâu nghiệp vụ phục vụ tốt nhất cho công tác Phật tự.
* Thực trạng đào tạo, bồi dưỡng trí thức Phật giáo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện nay
Về hệ thống các cơ sở đào tạo của Giáo hội:
Đào tạo bậc sau đại học: Với sự nỗ lực không ngừng, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã được Nhà nước đồng ý cho tuyển sinh và đào tạo bậc cử nhân và sau đại học (thạc sĩ và tiến sĩ). Hiện nay, Giáo hội có hai cơ sở đào tạo bậc cử nhân và sau đại học (Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh và Học viện Phật giáo Việt Nam tại Nội): Học viện Phật giáo Việt Nam tại Nội đã tuyển sinh trình độ tiến sĩ từ năm 2018 (04 nghiên cứu sinh đang theo học) và 59 học viên theo học trình độ thạc sĩ; Học 
viện Phật giáo tại Thành phố Hồ Chí Minh có 10 nghiên cứu sinh và 55 học viên cao học đang theo học.
Đào tạo cử nhân Phật học đang tổ chức tuyển sinh đào tạoba miền với những hình thức, chương trình đào tạo đa dạng, đã thu hút được hàng trăm tăng, ni sinh: Học viện Phật giáo Việt Nam tại Nội đang đào tạo 429 tăng, ni sinh; Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh 910 tăng, ni sinh; Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế 360 tăng, ni sinh. Ngoài ra, Học viện Phật giáo Nam tông Khmer tại Cần Th đã tuyển sinh, đào tạo 30 tăng sinh. Nguồn lực tham gia họcbậc học này nhiều, chuyên ngành đào tạo đa dạng sẽ động lực quan trọng nhất để phục vụ cho hoạt động đào tạo trí thức của Giáo hội. Đội ngũ này sau khi tốt nghiệp cũng chính đội ngũ trí thức trẻ của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Hệ cao đẳng Phật học đào tạo hệ cử nhân Phật học tiếp tục được mở rộng quy mô tăng nhanh về số lượng chất lượngcác sở đào tạo trong cả nước. Hàng năm, Giáo hội mở hàng chục lớp với hàng ngàn tăng, ni được đào tạocác địa phương như: Lớp cao đẳng Phật học tại Thành phố Nội; Thành phố Hồ Chí Minh, Thừa Th n Huế; Lâm Đồng; Rịa - Vũng Tàu; Bạc Liêu; Quảng Nam;…
Ngoài ra, đội ngũ trí thức của Giáo hội còn được tham gia học ở các trường học viện, đại học, cao đẳng uy tín trong cả nước với những ngành nghề đa dạng: Luật; Công nghệ thông tin; Kế toán; Du lịch; Anh văn; Chính trị học;… Đặc biệt, nhằm mở rộng học hỏi, hợp tác quốc tế, hiện nay, Giáo hội đã ủng hộ và tạo điều kiện cho 250 tăng, ni du học ở các nước có nền giáo dục phát triển, hiện đại8. Đặc biệt, Học viện Phật giáo Việt Nam có 16 tăng, ni được nhận học bổng (ICCR) miễn phí 100% của Chính phủ Ấn Độ, gồm 13 tăng, ni theo học chương trình thạc sĩ và 03 tăng, ni theo học chương trình tiếnPhật học9.


  1. Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Hội đồng Trị sự (2019), Tài liệu Hội nghị kỳ 3 – Khóa VIII Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Hội đồng Trị sự (2019), Tài liệu Hội nghị Ban thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 4.
 

Về đội ngũ cán bộ giảng sư: Do nhu cầu mở rộng, phát triển bền vững của Phật giáo, đặc biệt là sự mong muốn sự nghiệp giáo dục Phật giáo xứng tầm với nền giáo dục hiện đại đáp ứng được quá trình đổi mới, phát triểnhội nhập quốc tế. Trong những năm qua, Giáo hội luôn xác định việc nâng cao chất lượng giảng dạyyêu cầu khách quan, là mục tiêu hàng đầu để đào tạo, bồi dưỡng được đội ngũ trí thức có đạo đức, chuyên môn sâu về Phật học. thế, các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ trí thức của Giáo hội luôn coi trọng công tác đào tạo, tuyển dụng đội ngũ cán bộ giảng sư. Hiện nay, Học viện Phật giáo Việt Nam bước đầu đã tập hợp được một đội ngũ giảng sư có uy tín, hầu hết là các hòa thượng, thượng toạ, đại đức có uy tín cao về các lĩnh vực Phật học và sự cộng tác của hàng trăm giáo sư, tiến sĩ thỉnh giảng là chuyên gia khoa học ở nhiều trường đại học, học viện, viện, trung tâm nghiên cứu uy tín trong cả nước. Trên thực tế đào tạo gần chục khóa, đội ngũ giảng sư này đã đóng góp tâm sức, trí tuệ rất lớn đảm bảo chất lượng giảng dạy trong chương trình đào tạo hiện hành và sự phát triển Học viện Phật giáo như ngày nay.10
Tuy nhiên, do những sở đào tạo mới được thành lập mang tính đặc thù nên trong thực tiễn cho thấy, đội ngũ giảng tham gia giảng dạy còn một số bất cập như: Đội ngũ giảng hiện nay không ít người chưa hội đủ các tiêu chí theo quy chuẩn của Bộ Giáo dục Đào tạo về cán bộ giảng viên. Văn bằng cử nhân Phật học do Học viện Phật giáo cấp vẫn chỉ giá trị “nội bộ”, Giáo hội chưa thể liên thông với hệ thống nhà trường học viện, đại học khác; đội ngũ giảng phải kiêm nhiệm nhiều hoạt động Phật sự; không ít giảng rất uyên thâm về giáochuyên môn, nhưng về năng giảng dạy đại học, về quảnchương trình đào tạo gặp không ít khó khăn, hạn chế, nhất sử dụng các phương tiện giáo dục hiện đại sự phối hợp các phương pháp giảng dạy trong tiết



  1. Ban Giáo dục Tăng Ni Trung ương (2012), Xây dựng đội ngũ giảng hữu tại Học viện Phật giáo Việt Nam tại Nội: Nhu cầu, thực trạng một số giải pháp thực tế, Hội thảo khoa học: Giáo dục Phật giáo - Định hướng & Phát triển, tr. 264.
 

học; việc gắn kết giữa giảng dạyhoạt động nghiên cứu khoa học chưa đồng đều giữa đội ngũ giảng sư. sự chênh lệch về chuyên môn, cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu, phương pháp giảng dạy giữa giảng sư là người của Giáo hội với giảng sư từ các cơ sở đào tạo khác.
Về hoạt động nghiên cứu của các cơ sở đào tạo: Hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học phải gắn liền, tương trợ với nhau mới đảm bảo cho chất lượng đào tạo ở cơ sở giáo dục hiện đại, mới đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của cuộc cách mạng về khoa học công nghệ đang diễn ra như bão hiện nay. thế, từ khi Học viện Phật giáo Việt Nam được mở rộng quy mô, hình thức, phạm vi đào tạo, các cơ sở đào tạo luôn coi trọng hoạt động nghiên cứu khoa học. Hàng năm, Giáo hội tổ chức hàng chục hội thảo khoa học quốc tếtrong nước với quy mô, tính chấtnội dung khác nhau. Thông qua đó, đã thu hút được hàng ngàn bài viết từ đội ngũ tăng, ni sư có trình độ tiến sĩ, thạc sĩ, cử nhân, đặc biệt rất nhiều bài có uy tín chất lượng của đội ngũ giảng sư.
Nhiều bài viết được giới nghiên cứu đánh giá cao về chất lượng,giá trị lý luận và thực tiễn. Thậm chí, có những bài viết đăng trên tạp chí khoa học có uy tín trên thế giới, được các nhà nghiên cứu trên thế giới tìm hiểu, trích dẫn nhiều trong bài viết của họ. Ngoài ra, hàng năm, các cơ sở đào tạohàng chục đề tài nghiên cứu khác nhau dưới nhiều cách tiếp cận đi sâu, phân tích làm sáng tỏ giá trị giáoPhật đà hoặc đánh giá thực trạng, gợi ý nhiều giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động Phật sự nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đề ra.
Về nội dung chương trình giảng dạy: Trong những năm qua, các cơ sở giáo dục của Phật giáo đã có những đề án đổi mới nội dung chương trình giảng dạy sao cho hiệu quả, phù hợp bắt kịp với các trường học viện, đại học lớn trong nước và khu vực. Tuy nhiên, trong bối cảnh đổi mới, hội nhập quốc tếyêu cầu đặt ra của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 thì nội dung, chương trình giảng dạy của các cơ sở đào tạo của Giáo hội đã bộc lộ nhiều bất 
cập cần khắc phục trong thời gian tới: nội dung kiến thức đào tạo ở các cơ sở đào tạo còn nặng về lý thuyết, nhẹ thực hành, chưa thống nhất được mục tiêu giáo dục với yêu cầu đặt ra trong công tác Phật sự; chưa tạo ra được sự liên thông giữa các chuẩn mực giáo dục đại học với các cơ sở đào tạo ngoài Giáo hội trong nước và quốc tế; chương trình học còn nặng chưa phát huy hết khả năng tốt nhất của học viên; giáo trình được xây dựng chủ yếu dựa trên tri thức kinh nghiệm, ít cập nhật tri thức hiện đại, thời sự nên chưa thực sự đảm bảo phối hợp nhịp nhàng giữa tính khoa học, tính vừa sức, tính thực tiễn trong đó;…
  1. GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG TRÍ THỨC PHẬT GIÁO ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
Hiện nay, cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 đang diễn ra như bão song mặt trái của quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra phức tạp; nguy ảnh hưởng của biến đổi khí hậu thụt lùi về kinh tế so với các nước trong khu vực thế giới đã đặt ra bài toán cho Việt Nam cần phải phát huy hơn nữa vai trò của đội ngũ trí thức nói chung trí thức Phật giáo nói riêng. Đặc biệt, một tôn giáo lịch sử, truyền thống lâu đời luôn đồng nh cùng dântộc, đòi hi Phtgiáo Việt Namphi pháthuy hơn nữa vị trí, tầm quan trọng của mình việc “hộ Quốc, an Dân” tích cực đấu tranh, bảo vệ giá trị tích cực của đạo Phật trước sự xâm lấn của sai trái, tiêu cực trong quá trình hội nhập. Đ đáp ứng yêu cầu thời đại, Giáo hội Phật giáo Việt Nam cần xây dựng, hoàn thiện chiến lược về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ trí thức Phật giáo trong thời gian tới:
Th nhất, trên sở “Định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của Đảng Cộng sản Việt Nam đưa raHội nghị lần thứ hai, khóa VIII, các sở đào tạo của Giáo hội Phật giáo trong cả nước phải từng bước đổi mới giáo dục đào tạo, từ việc xây dựng đội ngũ giáo viên, giảng viên; nội dung, phương pháp giảng dạy đến công tác quảngiáo dục đào to. Trong công tác đào to, bi dưỡng trí thức, Giáo hi tiếp tục khắc phục triệt để một số hạn chế, thiếu sót: Mối quan hệ giữa quy mô, hình thức với chất lượng đào tạo chưa tương xứng, nặng về 
quy mô, hình thức; đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy còn chậm, chưa đồng bộ, chưa thực sự bước đột phá, quảngiáo dục đào tạo chưa chặt chẽ; năng về đào tạo giáo lý, giáo luật mà chưa thực sự coi trọng đào tạo những ngành, lĩnh vực Giáo hội hội đang cần để hướng đến hiện đại, bền vững;… Những điều đó hạn chế đến mặt chất lượng việc phát huy vai trò của đội ngũ trí thức Phật giáo. thế, Giáo hội phải coi việc nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng trí thức Phật giáo giải pháp then chốt trong việc phát huy vai trò của đội ngũ này. Đào tạo, bồi dưỡng vai trò quyết định đến trình độ chuyên môn, năng lực khoa học, đạo đức, phẩm hạnh của người tu hành - Đây chính yếu tố quan trọng nhất tạo nên chất lượng thật sự của đội ngũ trí thức Phật giáo trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0.
“Chúng ta không phải cứ xây dựng chùa to, tượng lớn phát triển được Phật pháp, quan trọng vẫn yếu tố con người. So với các nước trong khu vực, kiến thức về ngoại ngữ, tin học, luật, văn hóa... của các tăng ni vẫn còn hạn chế. Trong khi đó, phần lớn giới tu nh tui còn tr, bên cnh phát huy kiến thức đã học tại các trường Phật học, thì một số còn chưa tinh tấn tu tập, chưa hòa nhập với đời... nên dễ phạm giới, nh hưởng đến uy tín của Giáo hi.
(Hòa thượng Thích Minh Thông - Hiệu trưởng Trung cấp Phật học Khánh Hòa)
Th hai, phải nâng cao chất lượng nguồn đào tạo trí thức Phật học. Chất lượng nguồn đào tạo yếu tố đầu tiên ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo. Chất lượng đầu vào thấp thì khó đào tạo được đội ngũ trí thức Phật giáo trình độ chuyên môn cao. vậy, muốn nâng cao chất lượng nguồn đào tạo, cần tiếp tục đổi mới công tác tuyển sinh ở tất cả các hệ đào tạo. Việc đào tạo đội ngũ trí thức Phật giáo chủ yếu hai nguồn (đào tạocác trường học viện, cao đẳng Phật học trong nước cử đi đào tạo đại học, sau đại học ở các nước trong khu vực thế giới ở nhiều ngành nghề khác nhau). Tuy nhiên, chất lượng đầu vào cần thắt chặt, kiểm định, phải tuân thủ 
đúng, nghiêm chỉnh quy định về quy chế tuyển sinh bậc đại học sau đại học. Như chúng ta thấy, cách mạng công nghiệp 4.0, đội ngũ trí thức sẽ phải người nắm lấy khoa học - kỹ thuật hiện đại, truyền bá, động viên các nhóm hội khác. Trong thời gian tới, Giáo hội Phật giáo cần tiếp tục đổi mới giáo dục đào tạo theo hướng nâng cao chất lượng trọng tâm, trọng điểm, điều chỉnh cấu đào tạo, trong đó tập trung phát triển đội ngũ cán bộ trình độ khoa học cao trong các lĩnh vực, đủ sức giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra. Các sở đào tạo của Giáo hội phải coi trọng đổi mới phương pháp dạy học lấy người học làm trung tâm coi trọng sự hỗ trợ của các phương tiện, kỹ thuật giảng dạy nghiên cứu hiện đại.
Thba, Giáo hội tiến hành cải cách giáo dục từ cấu hệ thống đến chương trình, nội dung, phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng hiệu quả đào tạo đại học sau đại học. sở đào tạo cần nghiên cứu xây dựng đề án, chương trình đổi mới nội dung, chương trình đào tạo theo hướng đào tạo bản, toàn diện, nhưng cũng cần tập trung vào đào tạo chuyên sâu một chuyên ngành nhất định tránh dàn trải, nặng về giáo lý, giáo luật. vậy, học viên mới khả năng phát hiện, giải quyết những vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành được đào tạo sau khi tốt nghiệp về hoằng pháp các địa phương hoặc tham gia vào các hoạt động Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tổ chức hội ở địa phương.
Khả năng tự nguyện dẫn một chú ý đang đi rông trở về, cứ dẫn về, dẫn về nhiều lần như thế, nền tảng căn bản của sự phán đoán, tính cách ý chí. Nền giáo dục nào nuôi dưỡng khả năng này nền giáo dục tuyệt vời. Thế nhưng, đề ra ý tưởng này dễ dàng hơn đưa ra hướng dẫn thực tiễn để thực hiện ý tưởng đó.
William James
Giáo hội phải khắc phục tình trạng nội dung đào tạo trường học viện, cao đẳng Phật học quá rộng, dàn trải nhưng không sâu, khả năng nghiên cứu và giải quyết vấn đề nảy sinh trong thực tiễn và hội nhập quốc tế của học viên sẽ không tốt. Nội dung, chương trình đào 
tạo các môn chung hay các môn chuyên ngành phải thường xuyên cập nhật những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại. Ngoài ra, phải khắc phục được tình trạng chắp vá, lắp ghép, chưa chuẩn cả về định tính, định lượng các môn học, thậm chí phải kiên quyết loại bỏ những chương trình, môn học mang tính hình thức,chủ nghĩa kinh nghiệm. Do vậy, Giáo hội nhanh chóng hoàn thiện hơn nữa chương trình giảng dạy các ngành họccác bậc học cao.
Th tư, trí thức Phật giáo “nguồn nhân lực của mọi nguồn lực” nên Giáo hội phải huy động sử dụng hiệu quả mọi nguồn đầu tư để phát triển giáo dục đào tạo, tạo điều kiện vật chất tốt nhất cho hoạt động giáo dục - đào tạo của Phật giáo. Các sở đào tạo, nhất đào tạo sau đại học phải được quan tâm đầucác phương tiện giảng dạy nghiên cứu hiện đại, như: hệ thống thiết bị máy chiếu thông minh, tích hợp; phòng thí nghiệm; thư viện; hệ thống thông tin trong các viện nghiên cứu, trường học viện, cao đẳng Phật giáo;… Muốn triển khai được những nội dung nêu trên, Giáo hội cần huy động sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực tài chính, đặc biệt huy động từ sự phát tâm của những mạnh thường quân lòng mến mộ đạo Phật.
Th năm, Giáo hội Phật giáo tiếp tục nghiên cứu, triển khai đa dạng hóa các loại hình đào tạo, bồi dưỡng trí thức Phật giáotrong và ngoài nước. Tại Din đàn cao cp và Trin lãm quốc tế vcông nghiệp ngày 13/7/2018, Th tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nhấn mạnh, Việt Nam cần “chuyển mạnh từ nhận diện sâu sắc sang tầm nhìn chiến lược và nh động quyết lit, khẩn trương. Vì thế, trước tác động như bão của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Giáo hội Phật giáo cần phải quyết liệt trong tổ chức hoạt động đào tạo phải chặt chẽ, đảm bảo nội dung, chương trình, quy chế, tiêu chuẩn chất lượng cao. Đồng thời, mạnh dạn giảm bớt những sở yếu kém, kể cả khi Giáo hội đã đầuxây dựng trước đó. Việc đầu hiệu quả hoạt động đào tạo sẽ tránh được lãng phí tiền của từ Giáo hội tín đồ Phật tử, tránh được tình trạng văn bằng, chứng chỉ nhiều nhưng năng lực hoằng dương Phật pháp không 
tương xứng với bằng cấp, chứng chỉ, đạo đức của một số tănggiảm sút nghiêm trọng.
Th sáu, Giáo hội Phật giáo tăng cường hơn nữa hoạt động nghiên cứu khoa học chuyển giao công nghệ. Gắn đào tạo đại học, sau đại học nghiên cứu khoa học, với những vấn đề thực tại trong hội (coi trọng nghề công táchội; tâm học;…). Xây dựng Học viện Phật giáo Việt Nam ngang tầm các học viện, đại học Phật giáo tiên tiến trong khu vc và thế giới. To điu kin đcác học vin, vin ng- hiên cứu của Giáo hội phát triển đầu mở sở đào tạo, nghiên cứu, chuyển giao công nghệ khoa học hiện đại.
Ngoài ra, các trường học viện, cao đẳng Phật giáo được cho phép mở rộng, liên kết đào tạo đội ngũ cán bộ giảng với các trường đại học, học viện uy tín trong nước thế giới. Các trường nên thường xuyên mở các lớp ngắn hạn, các lớp tập huấn, tọa đàm, hội thảo trao đổi kinh nghiệm giữa các sở đào tạo uy tín trên thế giới để học tập kinh nghiệm trong việc xây dựng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao về mọi mặt. Đồng thời, Giáo hội tiếp tục chủ động, tạo điều kiện cho đội ngũ giảng của các trường học viện, đại học nâng cao trình độ thạc sĩ, tiến tu nghiệp sinh ở các nước nền giáo dục hiện đại, khoa học - công nghệ tiên tiến để nâng cao tri thức, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, phương pháp giảng dạy nghiên cứu khoa học.

 
***


Tài liệu tham khảo
Ban Giáo dục Tăng Ni Trung ương (2012), Xây dng đi ngũ giảng hữu tại Học viện Phật giáo Việt Nam tại Nội: Nhu cầu, thực trạng một số giải pháp thực tế, Hội thảo khoa học: Giáo dục Phật giáo - Định hướng & Phát triển, Nội.
Bùi Hữu Dược, hội thách thức đối với giáo dục Phật giáo trong bối cảnh hội hiện nay, http://btgcp.gov.vn.
Tăng Hoành (1999), Tiến Nho học Hải Dương (1075 - 1919), Hải Dương.
Quý Đôn tuyển tập (2015), Nxb. Giáo dục, Nội.
Giáo hi Pht giáo Việt Nam, Hi đồng Trs(2019), Tài liệu Hi nghkỳ 3 - Khóa VIII Trung ương Giáohi Phật giáo Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh.
Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Hội đồng Trị sự (2019), Tài liệu Hội nghị Ban thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh.
Văn Thắng, Nguyễn Văn Tuân (Đồng chủ biên) (2019), Trí thức Việt Nam với cách mạng công nghiệp 4.0, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Nội.
Nguyễn Văn Tuân, Đoàn Nam Chung, Nguyễn Th Th (Đồng chủ biên) (2017), Đào tạo, bồi dưỡng sử dụng nguồn lực trí thức trong quá trình hội nhập quốc tế, Nxb. Hải Phòng, Hải Phòng.
Th  Nhật Từ, Th  Đức Th   n (Đồng chủ biên) (2014), Giáo dục Phật giáo chương trình đại học, Nxb. Tôn giáo, Nội.
Th Nht T, Th  Đức Th  n, Trương Văn Chung (Đng chbiên) (2014), Phật giáo các mục tiêu thiên niên kỷ của Liên Hiệp Quốc, Nxb. Tôn giáo, Nội.
Th Nht T(Chbiên) (2019), Quanđiểm của Pht giáovcáchmng công nghiệp 4.0 vài trường bn vng, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.
 
Nguyễn Văn Tuân

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây