35. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC TẠI ĐỨC

Thứ sáu - 06/12/2019 03:24
KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC TẠI ĐỨC
NCS. ĐĐ. Thích Thanh An

 
 
  1. DN NHẬP
Phật giáo khảo sátbất cứ gc độ nào đều mang một tầm vượt lên trên giới hạn bình thường của nhân sinh. Tuy tất cả các yếu tố cấu thành nên sự phát triển lâu dài bền vững của đạo Phật đều c chung một xuất phát điểm con người thế giới, nói thế không c nghĩa Phật giáo mang một âm hưởng siêu quần của triết lý huyềnhay hơi hướng siêu nhiên kỳ vỹ, bởi, tư tưởng Phật giáo phát xuất từ chính những tinh hoa trí tuệ của một Con người đã thấy suốt căn nguyên của vạn hữu với ý tưởng tối cao đưa con người đi trên con đường hướng thượng lìa xa mọi nỗi đau thương thống khổ của sự bủa vây giăng kín bởi minh. Chính bởi từ cuộc đời nhân sinh cấu thành rồi quay ngược trở lại phục vụ hướng chuyển nhân sinh, cuộc đời đến mục đích cao đẹp của các tâm lành và ý thiện, giáo Phật đã chuyển tải tất cả những nhu cầu thiết yếu con người ở mọi thời đại, mọi quốc độ tìm kiếm. Cũng thế, nhu cầu hạnh phúc nhu cầu thiết yếu của nhân loại đâu c con người thì các vấn đề hạnh phúc được hướng đến. GiáoPhật đà đáp ứng được tất cả những nhu cầu nhân sinh đ.
Lịch sử tiếp cận Phật giáo của Âu châu c thể nói rất sớm từ
 

thế kỷ III trước Tây lịch bởi cuộc chinh phạt Tây Bắc Ấn của Đế quốc Hy Lạp song song với quá trình gởi các nhà truyền giáo vào các nước châu Âu của Hoàng đế Ashoka đến Hy Lạp thành lập các trung tâm như Alexandria thuộc vùng Kavkaz. Tuy nhiên, mãi đến thế kỷ XVIII thì Phật giáo Âu châu mới c những nền mng vững chắc hình thành nên những mô hình cụ thể trên tất cả mọi lĩnh vực như sở tự viện, truyền thống Phật giáo đặc biệt hơn cả hệ thốngtưởng học thuật đã c những bước tiến đáng kể trong công cuộc nghiên cứu giáo lý Kinh điển của cả 2 văn hệ Sanskrit Pali. Nền mng Phật giáo đầu tiên phải kể đến đó những công trình di sản Phật giáo của các nước như Đức, Nga, Áo, Ý hay Quốc gia Phật giáo Siberia vào thế kỷ XVII v.v…
  1. DI SẢN PHẬT GIÁO TẠI ĐỨC
    1. sở thờ tự
Một trong những nền mng cổ xưa giá trị nhất phải kể đến đó nền mng Phật giáo Đức quốc. Ngôi chùa được xem cổ xưa nhất của Phật giáo nước Đức c tên Das Buddhaische Haus đây một quần thể chùa thuộc truyền thống Theravada nằmFrohnau, Berlin, Đức. Đây cũng chính di sản Phật giáo lớn nhất cổ xưa nhất không những của Đức quốc còn của cả châu Âu. Đây quần thể thờ tự mang ảnh hưởng yếu tố văn ha kiến trúc chùa chiền của Sri Lanka. Để lí giải cho điều này, chúng ta cần trở lại duyên khởi đầu tiên của quần thể, đó chính người khởi xướng kiến tạo cho công trình lịch sử này bácngười Đức Paul Dahlke. Paul Dahlke thường xuyên c những chuyến tham vấn tìm hiểu đến Sri Lanka vào những năm trước chiến tranh thế giới thứ nhất đã trở thành Phật tử nơi đây. Sau khi trở về Đức, ông đã phát tâm kiến tạo quần thể này đã hoàn thành vào năm 1924. Với lối kiến trúc kết hợp đậm nét văn ha Sri Lanka Ấn Độ (mô phỏng dựa trên lối vào ngôi chùa Sanchi Vihara linh thiêng), tọa lạc trên một khu đất c diện tích rộng trên 5 mẫu Anh, ngôi chùa này trong một thời gian dài trở thành trung tâm Phật giáo ở Đức gắn liền với các hoạt động văn ha Phật giáo nơi đây. Sau khi qua đời vào năm 1928,
 

sở này được chuyển giao lại cho thân nhân của ông họ cũng những Phật tử. Vào khoảng 10 đến 15 năm sau đ, chính quyền Đức quốc nghiêm cấm các hoạt động tâm linh cũng như học thuật nên nơi này đã c lúc bị liệt vào sở bị dỡ bỏ. Song, được sự ủng hộ tận lực của Walter Schmidts, một Phật tử người Đức đã mua lại với giá 550.000 DM được hiệp hội Xổ số Đức ủng hộ 298.000 DM để mở rộng khuôn viên vào năm 1973, sau đó lại được Bộ Văn ha Sri Lanka hỗ trợ 11.000 Rs để xây dựng Tăng cho tu sĩ. sở vật chất cho thư viện cũng như nội thất cũng được Chính phủ Liên bang Đức cúng dường 10.000 DM vào năm 1967 bởi sự vận động của Đại sứ Sri Lanka, ông G. S. Peiris.
Kể từ lúc Hiệp hội Phật giáo Đức quốc của Sri Lanka mua lại sở này từ năm 1957, một hệ thống thư viện nguy nga tráng lệ đã được xây dựng được đầuvới số tiền khoảng 357.500 Rs. Đã c 3 nước tích cực đng gp sách cho thư viện, năm 1963, Đại sứ Thái Lan tại Bonn đã tặng bộ Tam tạng được in bằng tiếng Thái. Năm 1965, Đại sứ Ấn Độ đã tặng bộ Tam tạng Pali gồm 41 quyển. Năm 1966, Đại sứ Nepal tại Bonn cũng đã tặng bộ Tam tạng bằng tiếng Nepal tất cả sách này đều được sử dụng vào mục đích ng- hiên cứu Phật học tại đây. Thời kỳ này, người phụ trách quản hầu hết các vị Sri Lanka. Vào năm 1972, một công dân Đức tên Rhenia Stráu đã phát tâm xuất gia sau đó đến Sri Lanka theo học các lớp cao học trở lại Đức năm 1975. Với mong muốn độc lập tất cả mọi thứ nên việc xúc tiến đàm phán độc lập về thủ tục được gấp rút tiến hành.
Dần dà, phong trào tu học Phật của người Đức phát triển, đặc biệt, phong cách hành trì học tập của người Đức khá khác so với truyền thống Sri Lanka. Các tu sĩ c trình độ đã chuyển ngữ từ Pali Sanskrit sang tiến Đức để cho Phật tử đọc tụng nghiền ngẫm nghiên cứu. Ở Đức, sự cúng dường lúc đó rất khó do môi trường phương Tây cũng như văn ha ở đó nên mọi thời đều trả phí. Không phải nơi truyền đạt yêu cầu chính những người c nhu cầu tìm hiểu, học tập nghiên cứu hành trì họ làm vậy như
 

một nét văn ha đặc trưng, ngày nay tham dự kha tu họ sẽ đng phí chứ không c văn ha cúng dường như Sri Lanka hay các nước Á châu. Các văn bản cũng như nghiên cứu hay kinh kệ được in phát dưới dạng bản tin mỗi ngày cho những Phật tử không phải Phật tử c nhu cầu tìm hiểu tu tâp.
Đến nay hệ thống chùa chiền tự viện tại Đức đã phát triển tương đối đáng kể nhờ sự du nhập các nền văn ha khác nhau trên thế giới như Vit Nam, Trung Quốc, Thái Lan, Sri Lanka, Nht Bn v.v… do nhu cầu sinh hoạt tâm linh của kiều bào dân tộc nước đó đang sinh sống làm việc tại Đức. Điều này tạo nên một sắc thái đa dạng của hệ thống tự viện Phật giáo Đức quốc.
    1. Màu sắc trường phái Phật giáo ở Đức
Đã c nhiều tác phẩm công trình nghiên cứu về Phật giáo Đức ra đời vào những năm đầu thế kỷ XVII cùng giá trị bộc lộ tính khoa học, ưu việt cũng như phác thảo bức tranh toàn cảnh một cách phong phú về tình hình nghiên cứu Phật học lúc bấy giờ. Một tác phẩm được xem như đánh dấu bước đầu cho phong trào nghiên cứu Phật học nơi đây phải kể đến là “The Religion of the Buddha(Tôn giáo của Đức Pht) ra đời vào nhng m 1857 đến 1859 bởi một học giả người Đức Carl Friedrich Koeppen. Tập sách này phác thảo lại cuộc đời Đức Phật Thích Ca, tổng quan về truyền thống Theravada cũng như những giáo bản đầu tiên của Đức Phật. Tuy nhiên, càng về sau này đến hôm nay, đây chỉ một tác phẩm được xem như khơi mào cho phong trào nghiên cứu. Song,quyển thứ hai, Lamaism - tác giả quyển này đã trình bày vẫn còn giá trị đến hôm nay. Trong một khía cnh khác, một nhà nghiên cứu người Thụy - Constantin Regamey đã thống trình bày bằng tiếng Đức một thư mục hệ thống Triết học tại Berne m 1950 phân chia các tác phẩm Phật học Mỹ - Âu làm 3 nhánh chính gồm trường phái Anglo-German, trường phái Leningrad trường phái Hiện đại.
Đối với các bộ phận thuộc trường phái Anglo-German, tất cả các học giả đa phần đều dựa trên các công trình nghiên cứu văn
 

hệ Pali của T. W. Rhys Davids (1842-1922). T. W. Rhys Davids tên đầy đủ Thomas Williams Rhys Davids, sinh ngày  12-5- 1843 tại Colchester Anh quốc, con của mục Thomas Williams Davids. Ông theo học Sanskrit với giáo Stenzler tại trường đại học Breslau ở Đức, và tốt nghip bằng Tiến sĩ Triết học. Năm 1864, ông được bổ nhiệm giữ chức Dân sự tại Sri Lanka. Nhờ kiến thức về ngữ học đã giúp giáo bấy giờ nghiên cứu dễ dàng hai thtiếng Tamil và Sinhalese. Trong quá trình nghiên cứu học tập, ông theo đuổi ngôn ngữ văn hệ Pali tưởng triết học Phật giáo văn hệ này. Năm 1881, ông đứng ra tnh lp The Pali Text Society (Hội Phiên dịch Kinh tạng Pali) tại Luân Đôn, đồng thời giữ chức vụ chủ tịch, với sự tham gia của nhiều học giả Đông phươmg Tây phương như Viggo Fausboll, Đan Mạch (1824-1908); Hermann Oldenberg, Đức (1854-1920); Emile Senart, Pháp (1847-1928) Richard Morris. Phần lớn các tác phẩm dịch thuật biên chép từ Tng kinh và Tng lut, chỉ một số ít là từ Tng Abhidhamma thôi. Một tác phẩm trứ danh của trường phái này được hoàn thành vào năm 1881 với tựa đề Buddha, His Life, His Doctrine, His Order (Đức Phật, Cuộc đời, Giáo pháp Tăng đoàn của Ngài) do Hermann Oldenberg viết. Cũng chính ông, người đã chuyển ngữ phiên bản tiếng Anh sang tiếng Đức tác phẩm này đã tái bản đến 14 lần. Do sự tiếp cận bằng văn bản gốc của văn hệ Pali cũng như nghiên cứu cáctưởng từ văn hệ này, ông đã bác bỏ các lập luận một số công trình nghiên cứu thời bấy giờ về Đức Phật khi họ cho rằng Đức Phật chính sự đồng bộ nhân cách ha của mặt trời. Ông đã bày tỏ quan điểm dựa trên các văn bản chính thống để cải chính lại những suy nghĩ lệch lạc như thế.
VTng lut Pali, Hermann Oldenberg đã chỉnh sửa lại gồm 5 tập trong khoảng thời gian từ 1879 đến 1883, cũng trong năm 1883 chính ông đã chỉnh sửa lại một svn đề trong Trưởng Lão Tăng kvà Trưởng Lão Ni k. Để thun tin cho vic truyn bá giới lut trong nước nhà, ông đã chuyn ngTng lut Patimokkha sang tiếng Đức đồng thời cho ra đời tác phẩm “The Teaching of the Upanishads and the Beginnings of Buddhism (Giáo Upanisads
 

khởi nguyên của đạo Phật) vào năm 1915. những phương thức tầm tra của Oldenberg về việc khảo cứu Phật điển cũng đã được kế thừa một cách triệt để, đặc biệt các tác phẩm của nhiều tác giả khác nhau như Mara and the Buddha (Ma vương Đức Phật) của Ernst Richard (1844 - 1918), Life and Doctrine of the Buddha (Cuộc đời Giáo lý của Đức Phật) của Richard Pischel (1849 - 1908),Buddhism - The Buddha and His Doctrine (Đạo Phật - Đức Phật Giáo pháp) của Herman Beckh (1875 - 1937). Thời kỳ 1920 đến 1925 công trình phiên dịch kinh điển đầu tiên tại Đức của bộ Samyutta Nikaya đó 2 quyển đầu do học giả Wilhelm Gei- ger (1856 - 1943) chuyển dịch, một tác phẩm cùng nổi tiếng của ông đó Pali Literature and Language (Văn học Ngôn ngữ Pali) được ra đời vào năm 1916.
      1. Tăng tn và các c phẩm
Từ môi trường học thuật phong trào nghiên cứu Phật giáo ngày càng lan rộng, bên cạnh các chuyên gia Phật học, các học giả nhà nghiên cứu trong ngoài nước phát tâm đi theo con đường cát ái từ thân, đi trên con đường giải that để đem giáonhiệm mầu làm an lạc cho cuộc đời; phát nguyện một cánh sen trong đoá sen thanh tịnh cấu nhiễm của hàng ngũ con Phật, với xưng danh Thích tử. Một trong các vị nổi tiếng nhất thời bấy giờ đó Thượng tọa Ñyanātiloka Mahā. Ngài sinh ngày 19 tháng 2 năm 1878 tại Wiesbaden, Đức, tên Anton Walther Florus Gueth. Cha của Ngài Anton Gueth, một giáo kiêm hiệu trưởng của Phòng tập thể dục thành phố Wiesbaden, đồng thời một ủy viên hội đồng. Tên của mẹ Ngài Paula Auffahrt. Ngài đã học tại Königliche Realgymnasium ở Wiesbaden từ năm 1888 đến 1896. Từ năm 1896 đến 1898, Ngài nhận được học bổng vềthuyết sáng tác âm nhạc, khi chơi violin, piano, viola clarinet. Từ năm 1889 đến 1900, Ngài học lý thuyết sáng tác âm nhạc cũng như chơi violin piano tại Nhạc viện Hoch’sches tại Frankfurt. Từ năm 1900 đến năm 1902, ông học sáng tác theo Charles-Marie Widor tại Học viện Âm nhạc Paris. Năm 1903, Ngài đến thăm Sri Lanka một thời gian
 

ngắn sau đó tiến tới Miến Điện để gặp Thượng tọa người Anh Bhikkhu Ananda Metteyya. Tại Miến Điện, ngài được trao thọ tam quy ngũ giới làm Phật tử Theravada tại chùa Nga Htat Kyi dưới sự truyền giới của Hòa thượng U Asabha vào tháng 9 năm 1903, lúc Ngài 25 tuổi.
Vào tháng 1 hoặc tháng 2 năm 1904, Ngài nhận được sự chấp nhận đăng đàn thọ Cụ túc giới với U Kumara Mahathera, trở thành một Tỳ kheo với tên Nyāatiloka. Sau năm 1904, Ngài đến thăm Singapore, c lẽ với ý định thăm nhà Ailen U Dhammaloka của Ailen. Vào cuối năm 1904, Ngài rời Rangoon cùng với nhà Ấn Độ Kosambi Dhammananda, học giả Harvard sau này Dharman- anda Damodar Kosambi. Trong một hang động ở dãy núi Sagaing, Ngài thực hành thiền định thiền minh sát.
Mong muốn nghiên cứu sâu hơn về kinh điển Pali kinh điển Pali, ông đã đến Sri Lanka vào năm 1905. Năm 1905, Nyanatilokalại với nhà hoàng tử Cambodia Jinavaravamsa, cùng nhau thực tập thiền định về bản chất của thể bằng cách quan sát bộ xương hoặc suy ngẫm về cái chết.
Vào năm 1911, Ngài xây dựng tu việntrong vùng Ratgama Langoo, Doanduwa, thuộc miền Nam Sri Lanka cho các tu sĩ đến từ Tây phương tu tập. Trong chiến tranh thế giới thứ 2, Ngài tu tập tại Sri Lanka Úc, sau đó Ngài đến Nhật Bản giảng dạy tại Đại học Tokyo. Sau 5 m Ngài trlại Sri Lanka và tu nh cùng các Tăng sĩ người Đức. Tác phẩm đầu tay của Ngài the Word of the Buddha (Lời dạy của Đức Phật) bằng tiếng Đức được xuất bản vào năm 1906. Đây được xem như tác phẩm kinh điển của Phật giáo Đức quốc trải qua hơn 12 lần phiên bản với 9 loại ngôn ngữ khác nhau số lượng đầu sách bán ra cùng đáng kể. Bên cạnh đ, những tác phẩm khác như The Fundamentals of the Buddha (Những nguyên tắc bản của Đức Phật), The Path of Deliverence (Con đường giải thoát), “The Guide through Abhidhamma Pitaka(Dn vào Tng Vi diệu pháp), The Buddhist Dictionary (Từ điển Phật học) v.v… những đng gp to lớn của Ngài đối với việc nghiên cứu Phật học
 

Đức quốc. Ngoài những tác phẩm trước tác ra, một bộ phận công trình dịch thuật đồ sộ cũng được ra đời đng gp vào tủ sách Phật giáo thế giới chiếm một vị trí quan trọng trong đ. Các tác phẩm chuyển dịch của Ngài phải kể đến Anguttara Nikaya với 5 quyển, Thanh Tịnh Đạo, Puggalapannatti.
(Bộ Nhân chế định 1 trong 7 bộ lớn của Vi diệu pháp), đồng thời cho ra mắt bộ ngữ pháp Pali chuyển tất cả sách Anh ngữ của mình sang Đức ngữ.
Đệ tử lớn của Ngài chính tác giả của tác phẩm lừng danh The Heart of Buddhist Meditation(Trái tim của Thin Pht giáo, CTrưởng lão Hòa thượng Thích Chơn Thin đã chuyn dịch sang Việt văn)Thượng tọa Ñānapodika Mahā hay Nyanapodika Thera. Nyanapodika Thera tên thật Siegmund Fenige sinh raHanau, Đức vào ngày 21 tháng 7 năm 1901 con trai duy nhất của một gia đình Do Thái. Năm 1921, ông cùng cha mẹ chuyển đến Berlin, nơi ông gặp gỡ các Phật tử Đức cũng được tiếp cận với văn học Phật giáo bằng tiếng Đức. Lần đầu tiên Nyanapodika Thera bắt gặp các tác phẩm của Ngài Nyanatiloka Thera, ông đã tìm hiểu biết được rằng Nyanatiloka Thera đã thành lập một tu viện cho các tu sĩ phương Tây Polgasduwa, Dodanduwa đặt tên Đảo Hermitage, điều này đã thôi thúc Nyanapodika Thera quyết tâm đến tham vấn Bồ đề tâm xuất gia nung nấu từ đ. Đầu năm 1936, cuối cùng, Nyanapodika Thera cũng c thể rời châu Âu đến Sri Lanka. Sau vài tháng nghiên cứu học tập hành trì, vào tháng 6 năm 1936, ông xuất gia được đặt tên Nyanaponika. Năm 1937, ông thọ Cụ túc giới dưới sự dạy dỗ của Ngài Nyanatiloka Thera theo học tập tu hành với Bổn sư. Năm 1952, cả Hòa thượng Nyanatiloka Thera Nyanaponika Thera đều được Chính phủ Miến Điện mời làm cố vấn cho kỳ kết tập lần thứ sáu, được triệu tập vào năm 1954 để chỉnh sửa in lại toàn bộ văn hệ Pali. Sau khi công việc của họ với Hội đồng được hoàn thành, Nyanaponika Theralại Miến Điện trong một thời gian đào tạo về Vipassana (Thiền minh sát) dưới sự hướng dẫn của thiền nổi tiếng Hòa thượng Mahasi Sayadaw
 

Thera. Ông cũng đã chuyển dịch bộ Dhammasangani (Bộ Pháp tụ) sang tiếng Đức.
      1. c dch giả lớn của Trường pi Anglo-German
Nếu xét trên bình din châu Âu, đứng sau hi Pali Text Society của Luân Đôn thì các nhà dịch thuật Đức chiếm vị trí kế cận bởi những đng gp dịch thuật cùng to lớn cho nền giáo dục Phật giáo Đức quốc. Một trong số đó Karl Eugen Neumann. Ông sinh ngày 18 tháng 10 năm 1865 tại Vienna. Neumann đã đến Halle vào năm 1891 hoàn thành luận án về Pali văn bản học, dưới sự hướng dn của giáo sư Richard Pischel. Trong cùng m đó, ông đã xut bản Zwei buddhistische Suttas und ein Traktat Meister Eckharts (Two Buddhist Suttas and a treatise of Meister Eckhart – 2 bài kinh luận án của Meister Eckhart). Năm 1892, sau khi trở về Vienna, Neumann đã xuất bản một tuyển tập các văn bản từ Pali bằng tiếng Đức nhân dịp sinh nhật lần thứ 104 của Schopenhauer. Sau khi hoàn thành bản dịch Phápvào năm 1893, Neumann nhận ra mong muốn lớn lao của mình đến thăm các quốc gia nguyên thủy của Phật giáo. Sau khi du lịch đến các nước Phật giáo Theravada trở về, ông đã bắt đầu chuyển dịch tất cả các Tập Kinh từ văn hệ Pali sang tiếng Đức. Các bn dịch ca ông bao gm Trường bKinh, Trung bộ Kinh, Pháp cú, Kinh tập, Trưởng lão Tăng kvà Trưởng lão Ni k.
Một nhân vật nổi trội khác trong giới nghiên cứu đó Kurt Scimidt cùng thuộc trường phái Anglo-German này. Ông sinh vào năm 1879, các tác phẩm của ông phần lớn nghiên cứu về truyền thống Theravada các dịch phẩm đều từ Pali. Ông đã cho xuất bản một quyn sách tóm tt Kinh Trung bộ theo dng bỏ túi và hơn 12 tác phẩm lớn nhỏ cùng các dịch phẩm tiêu biểu khác. Một đng gp to lớn của ông đối với nền học thuật của Phật giáo Đức đó đầuphân tích cặn kẽ ra mắt quyển Từ điển Thuật ngữ Pali trong đó giải thích các từ khó hiểu hay dễ gây nhầm lẫn trong quá trình nghiên cứu ông đã nhận ra từ các dịch giả đi trước. Bên cạnh đ, ông cũng tham gia giảng dạy tại Đại học Tây Berlin về các bộ môn như Ngôn ngữ Giáo pháp Pali. Tính thẩm quyền học thuật của
 

ông sở c cấp bậc như vậy ông đã đạt được bằng L.L.D vào năm 1901 của Đại học Rostock. Chính bởi từng làm báo biên tập báo chí chuyên nghiệp nên cách tiếp cận sử dụng cũng như phân tích ngôn ngữ bắt buộc phải c yêu cầu về chuẩn mực nguồn cao. Điều này tạo thành phong cách trong các nghiên cứu của ông như một phần tất yếu. Bởi lẽ, trong quá trình nghiên cứu thì ông nhận thấy các dịch bản c sự sai lệchvà để xác minh cũng như tìm cái chuẩn mực thì chỉ c một cách duy nhất đó tự học lấy Pali rồi tự mình định hình nên sự rạch rồi giữa nguyên bản cảm tác. rồi, ông trở tnh bậc thy của Pali – ‘Master of Pali. Bên cnh đó, ông cũng được biết đến như một học giả li lc của Sanskrit và tiếng Trung. Vào năm 1917, ông được mời giảng dạy Phật học tại Munich sau đó 15 tác phẩm khác nhau về Phật học ra đời kèm theo nhiều bài nghiên cứu khác về Phật họcđược công bố1. Đặc trưng tư tưởng trong những tác phẩm của ông c thể đề cập đến những vấn đề chính như: Giới thiệu học thuyết, Sử liệu về các Thánh đệ tử Phật, Thế giới Không tánh, Thú lời Phật dạy, Tuyển tập lời dạy của Đức Phật từ thánh điển Pali (2 quyển), Ngữ pháp Pali, nổi bật nhất trong đó tác phẩm Học thuyết Phật đà năm 1947 Từ điển Phật học (1948) như đã đề cậptrên.
      1. Trường pi Hiện đi và các c gic phẩm
Sở c tên gọi như thế (The Morden school) bởi hầu hết các công trình nghiên cứu các học giả đều c chung một cách tiếp cận đó tiếp cận phổ quát. Các nhà nghiên cứu không chỉ tập trung nghiên cứu chuyên biệt một truyền thống riêng biệt nào như Theravada, Mahayana hay Mật tông nghiên cứu tất cả các nguồn dữ liệu liên quan đến Phật giáo bao gồm các nguồn từ Sanskrit, Pali, tiếng Nht, tiếng Trung và tiếng Tây tạng. Tuy nhiên, vn chưa có ai thực sự bậc lỗi lạc trong từng ngôn ngữ riêng biệt. Các tác phẩm đầu tiên của trường phái này thuộc về các học giả người Pháp B, chính lẽ đ, nên đôi khi, trường phái này còn c một tên gọi khác


  1. German Buddhist Writers, A Wheel publication, PBS, Kandy, Srilanka, 1991.
 

đó là Trường phái Pháp B(Franco-Belgian). Học giL.de la Vallee Poussin được sinh ra tại Liège năm 1869.
Ông học tại Đại học Liège từ năm 1884 đến 1888, nhận bằng tiến sĩ ở tuổi 19. Ông học tiếng Phạn, tiếng Pali Avestan dưới thời Charles de Harlez Philippe Colinet từ năm 1888 đến năm 1890 tại Đại học Louvain. Ông cũng đã giữ chức vụ Giảng viên tiếng Phạn tại Đại học Liège. Ông tiếp tục nghiên cứu về Avestan Zoroastrian Gathas dưới thời Hendrik Kern tại Đại học Leiden, nơi ông cũng tiếp tục nghiên cứu vtiếng Trung và tiếng Tây Tng. Ông c một học trò tiêu biểu Etienne Lamotte, người đã c một công trình kỳ vỹ về các nghiên cứu Phật học. Tác phẩm tiếng Pháp Histoire du Bouddisme Indien (Lịch sử Phật giáo Ấn Độ) nổi tiếngPháp. Người Đức được biết đến như học giả đầu tiên của trường phái này Max Walleser (1874 - 1954).
Max Walleser sinh năm 1874 mất năm 1954. Ông một giáo danh tiếng của Đại học Heidellberg, đồng thời cũng người sáng lập Học viện Kiến thức Phật giáo “Institu Fur Buddhismus Kunde” với số lượng lớn sinh viên Đức, Nhật Ấn Độ, Giáo Edward Conze cũng một trong những giáo giảng dạy tại trường này. Công trình nghiên cứu chính của ông bộ sách gồm 4 quyển “Buddhist Philosophy and Its Historical Development” mất 21 năm kể từ khi ông bắt tay vào việc năm 1904. Ông cũng tham gia phiên dịch và hiu đính cùng Hi đồng Pali Text Society m 1924 ở Luân Đôn với các công trình đng gp như quyển đầu của tập Manorathapurani chú giải Kinh Tăng Chi bộ. Năm 1904, ông viết “Philosophical Foundation of Early Buddhism(Nn tảng Triết học của Phật giáo kỳ), chuyển dịch Aṣṭasāhasrikā (Bát thiên tụng Bát Nhã). Năm 1912, Trung quán luận của Bồ tát Long-thọ được chuyn ngữ từ cả 2 phiên bn tiếng Tây Tng và Trung Quốc sang tiếng Đức. Bộ phận phiên dịch Sanskrit của ông cùng đáng nể với các tác phẩm vừa nêu các tác phẩm như Vajracchedika (Kinh Kim Cang), một số bộ luận của Duy thức tông.
Trong giai đon này đã có nhng km phá mới trong công
 

cuộc tìm kiếm nguồnliệu cổ xưa về văn bản đó các phiên bản Sanskrit. Hai nhà khoa học người Đức gồm c Albert Von Le Coq (1860 - 1930), Albert Gruenwedel (1856 - 1938) vào khoảng những năm 1904 - 1914 họ đã đến Turfan một đảo nhỏ thuộc Turkestan Sinkiang Trung Quốc. Tại đây, họ đã tìm được các mảnh của các văn bn Sanskrit và Tocharic. Các mảnh tư liu này đa phần như những so sánh giữa các phái Nhất thiết Hữu bộ Hinayana. Sau đ, Ernst Waldschmidt (xem II.1) đã khôi phục gần như sát với nguyên bản nhất.
Ernst Waldschmidt cộng sự của ông đã hệ thống biên chép lại tnh “The Tradition of the Life End of the Buddha(Truyền thống về sự kết thúc cuộc đời của Đức Phật) gồm 2 quyển hoàn thành vào năm 1948 trong vòng 4 năm; Mahaparinirvanasutta (Đại bát niết bàn kinh) 3 quyển hoàn thành năm 1951. Từ kết quả đ, ông đi đến kết luận 3/4 độ chính xác về ngôn ngữ Pali, Sanskrit thẩm định các mảnhliệu từ thế kỷ III trước Tây lịch, qua đó xác định các vấn đề liên quan đến cuộc đời Đức Phật2. Ngoài ra, tác phẩm Observations on the Language of the Buddhist Original Canon (Khảo cứu về Ngôn ngữ của Văn bản Phật giáo nguồn). Đâymột tác phẩm cùng quan trọng nhưng cũng dấy lên nhiều tranh luận khi cho rằng ngôn ngữ Pali ở một số câuđoạn chưa nghĩa nó dường như sáng tỏ hơn khi chuyển thành Magadhi. Ông cho rằng tiếng Magadhi nguyên bản gốc, Lời của Phật các văn bản Pali đều được dịch từ Magadhi, các văn kiện Hinayana cũng c sự tương đồng với Pali Magadhi.
Helmuth Von Glassenapp (1891 - 1963) một vị giáo của trường Đại học Tuebinge, một người c am hiểu về Mahayana, Theravada và  TantrayanaXut phát từ  nim  thích thú bởi các nghiên cứu của Roénberg Stcherbatsky, ông đã viết nên tác phẩm History and Origin of the Buddhist Dhamma Theory (Lịch sử và Nguồn gốc của Lý thuyết Giáo lý Pht giáo) m 1939. Trong tác



  1. Peris, W., Buddhsim in Germany, Buddhist Culture Centre, Colombo, 2001, tr.129.
 

phẩm này, ông khảo sát triết lý của Abhidhamma của sự thường trong văn hệ Pali. Cáctưởng về thường, ngã triết lý Duyên khởi được ông trình bày so sánh đối chiếu đưa ra những nhận định mới mẻ nhằm phá tan nhng định kiến về cái Tôi to lớn trong thời đại ông. Một tác phẩm kinh điển khác của ông The Philosophy of the Indians(Triết học của người n), qua đó chng minh quan điểm sao triết thuyết của Đức Phật được truyền nh hưởng sâu rng bn vng lên các vùng lãnh thổ Trung Quốc, Nht Bn, Sri Lanka, Tây Tng, Mông C, Miến Đin v.vVới câu nói ni tiếng của ông: “Pht giáo đã đóng góp cho lịch sTriết học một giá trị ý nghĩa song”3. Bên cạnh đó còn c những công trình nghiên cứu khác của ông như Buddhism in India and Far East (Phật giáo Ấn Độ vùng Viễn Đông - 1936), The Wisdom of the Buddha (Trí tuca Đức Pht - 1946), The Indian Image of German Thinkers(Hình tượng Ấn Độ qua suy nghĩ người Đức - 1960).
Friedrich Max Müller, ông sinh năm 1823 mất năm 1900 ở Dessau, Đức. Cha Wilhelm Müller, mẹ Adelheid Müller. Ông phần lớn sống làm việc tại Anh được Đại học Oxford phong m giáo sư m 1858. Ông là Tng biên tập của Thánh đin Phương đông gồm 50 quyển chuyển dịch sang tiếng Anh của chính ông 20 học giả xuất sắc. Đồng thời, ông cũng đảm nhiệm chức vTng biên tập Thánh đin Pht giáo dưới sbảo trợ của Hip hi Pali Text Society, Luân Đôn đã xuất bản 25 ấn phẩm chuyển ngữ tiếng Anh. Hầu hết các tác phẩm liên quan đến Phật giáo hay các nghiên cứu tại Oxford cũng như hiệp hội đều qua sự chỉnh sửa của ông. Ông còn tác giả của bộ sách ngữ pháp Sanskrit nổi tiếng đến nay được xem giáo trình chính của các chuyên khoa Sanskrit của các trường nổi tiếng trên thế giới. Ông học giả Tây phương đầu tiên bác bỏ nhận định Phật giáo một chủ nghĩa vô. Xuyên suốt cuộc đời, ông cống hiến sức lực trí tuệ cho giáo dục đặc biệt cho ngôn ngữ Sanskrit và Phật giáo cũng như tưởng Vệ đà. Tất



  1. Buddhism still has for the general history of philosophy an incoparably great significance”, sđd, tr.84.
 

cả các tác phẩm lớn nhỏ của ông đều xoáy sâu vào Phật giáo, Vệ đà Sanskrit kịch liệt đả phátưởng Ki-tô giáo. Ông đã thuyết giảng rất nhiều trường lớp với các chủ đề đa dạng nhưng trong đó phải kể đến 4 bài giảng nổi tiếng đó Tôn giáo Tự nhiên, Tôn giáo Vật lý, Tôn giáo Nhân học Thần học hay Tôn giáo Tâm lý.
Georg Grimm, ông sinh 1868 mất 1945. Cha mẹ muốn ông trở thành một linh mục, tuy nhiên, bước đầu vâng lời cha mẹ nhưng sau đó ông lại theo đuổi giấctri thức học tại một trường Đại học Luật, kết thúcthứ hạng nhất. Sau đ, ông được giao chức vụ Chánh án tối cao. Song, các thay đổi vềtưởng cũng như những tác động của triết học Schopenhauer (1788 - 1860) đang hướng ông sang một con đường hoàn toàn mới. Chính bởi niềm đam mê, ông đã tiếp xúc với người học trò của triết gia Schopenhauer tiếnPaul Deusen (1845 - 1919), một vị triết gia nhà nghiên cứu vTriết học n Đ. Chai người nhanh chóng trở tnh tri kỷ thường xuyên trao đổi kiến thức với nhau. Chính lẽ đ, Schopenhauer - người đánh giá rất cao Phật giáo đã hướng dẫn cho Grimm từng bước tiếp cn đo Pht. Ông đã đọc Kinh Trung bộ với bản dịch của Neumann (xem 2.2) nhưng chưa sáng tỏ ở một số điểm nên Grimm bắt đầu tự tìm hiểu bằng cách học nghiên cứu Sanskrit và Pali. Trong thời gian ngn, Grimm đã thông tho cả 2 ngôn ngữ này. Để tỏ lòng mến mộ biết ơn dẫn đạo nên Grimm thường xuyên ủng hộ Naumann về phương diện tài chính cũng chấm dứt công việc tòa án sớm hơn độ tuổi để dành trọn thời gian cho việc nghiên cứu truyền Phật giáo, thời gian còn lại của cuộc đời lên đến 37 năm. Grimm thường xuyên giảng dạy tại Đại học Munich các trường đại học lớn tại Đức. Chính điều này làm cho Grimm c một lượng lớn các thính giả cùng đamnghiên cứu đạo Giải that đây nhân duyên để Cộng đồng Phật giáo ra đời. Số lượng trước tác về Phật giáo của Grimm cùng đáng kể, bên cạnh các bài báo nghiên cứu, tham luận Grimm còn tác giả của 8 đầu sách Phật học khác. Tác phẩm nổi tiếng The Doctrine of the Buddha: the Religion of reason and Meditation (Học thuyết của Đức Phật: Tôn giáo của tính Thiền) được viết bằng tiếng Đức
 

năm 1915 được dịch sang tiếng Anh bởi một Tỳ kheo người Anh tên Silācāra. Ngoài bản dịch này thì hầu hết 15 quốc gia c nền học thuật Phật học tiên tiến đều c bản dịch riêng. Sau này, c một bản dịch tiếng Anh khác vào năm 1958 của E.F.J Payne do chính con gái của Grimm viết lời giới thiệu.
Quyển sách c độ dày 414 trang dựa vào các kinh điển trong tạng Nikaya để giải thích các quan điểm về Giáo pháp Đức Phật. Với tiêu chí trở về với nguyên bản của đạo Phật nên Grimm dựa vào hầu hết những dữ liệu xác thực trong văn hệ Pali để trình bày. Các vấn đề về Ngã, ngã, Luân hồi và tái sinh được ông đề cập ràng trong tác phẩm này đều dựa vào Kinh tạng Pali. Bên cạnh đ, Grimm cũng đề cập đến những tình trạng phân chia bộ phái chỉ những yếu tố đưa đến sự phân chia theo ông.
      1. Trường pi Leningrad
Đây trường phái ngoài việc chú trọng Kinh Luật ra còn quan tâm cả các bộ Abhidhamma. Họ không những nghiên cứu Abhidhamma hệ Pali còn tập trung nghiên cứu các bộ luận của Ngài Vasubandhu của văn hệ Sanskrit như Abhidharmakosha. Dựa vào các văn bản cổ xưachâu Á để khảo sát c những kết quả khả quan. Các tác phẩm Phật học của trường phái này nếu tính riêng cho học giả người Đức thì chỉ vỏn vẹn 2 tác phẩm được xem như nổi trội đó The Problems of Buddhist Philosophy (Nhữnh vấn đề của Triết học Pht giáo) và The Central Conception of Buddhism and the Meaning of the word Dhamma (Khái niệm trọng tâm của Phật giáo Ý nghĩa của chữ Pháp) của Otto Rosenberg và E. Obermiller.
      1. Mật tôngĐức
Vẫn xuất hiện lác đác trên trường nghiên cứu Phật học nước Đức một số đầu sách hay sài vài nhà nghiên cứu về lĩnh vực này. Nguyên nhân bởi người Đức tiếp cận với Phật giáo nền học thuật Phật học như ở 2 phạm trù đã trình bàytrên đó nghiên cứu thực hành giáo pháp từ các vị thầy tu sĩ qua văn hệ Palitập trung nghiên cứu dựa trên văn bản cổ xưa từ Sanskrit Pali. Tuy nhiên,
 

một số tác phẩm nghiên cứu về Mật tông cũng xuất hiện như My- thology of Buddhism in Tibet and Mongolia (Thần thoại Phật giáoTây Tng và Mông Cổ - 1900) của Albert Gruenwedel, “Buddhist Mystries (Bí ẩn Phật giáo - 1940) của Helmuth von Glassenapp,The History of Tibetan Religion(Lịch sử của Tôn giáo Tây Tng - 1956) The Symbolism of Tibetan Religions and Shamanism (Biểu tượng của Tôn giáo Tây Tng và Đo Shaman - 1967) của Helmuth Hoffmann. Một quyển sách khác của học giả người Đức c ảnh hưởng sâu đậm trong Phật học phương Đông như Foundation of Tibetan Mysticism(Nn tảng của Thn bí Tây Tng - 1956) của Lama Anagārika Govinda.
      1. Nghiên cứu Phật học
Chức vụ Giáo Phật học chức danh đầu tiên ra đời vào năm 1966 ở Đức tại Đại học Hamburg dành cho Franz Joseph Bernhard. Ông nổi tiếng với tác phẩm Udanavarga gồm 33 chương tập hợp các câu thơ Sanskrit về một hệ thống từ lịch sử đến giáonhư một sự tương đồng như Kinh Pháptrong văn hệ Pali. Ông mất năm 1971 ở Mustang, Nepal. Trong giai đon này có đến 17 vgiáo sư chuyên ngành Pali làm việc tại Đại học Cộng hoà Liên bang Đức cũng xuất bản những ấn phẩm nghiên cứu Phật học. Các giáo Phật học tại các trường đại học danh tiếng như Đại học Leipzigphía Đông Đức c một thời gian dài nghiên cứu Phật học. Giáo Ulrich Schneider của Đại học Freiburg, Giáo Frank Richard Hamm của Đại học Bonn nhưng vị giáo lỗi lạc về Pali. Năm 1963, công trình hiệu đính xuất bản Tam tạng được hoàn thành với 40 quyển. Đại học Gottingen đã phát triển chuyên ngành Phật học nhờ sự hỗ trợ của Giáo Heinz Bechert, ông cũng ấn hành nhiều tác phẩm bài báo nghiên cứu về Phật học nổi trội nhất vẫn tác phẩm “Buddhism, State and Society in Theravada Coun- tries” viết từ năm 1966 hoàn thành năm 1967 đề cập đến tình hình Phật giáo truyền thống Theravada tại các nước như Sri Lanka, Miến Điện, Lào, Thái Lan, Cambodia, Việt Nam vẫn còn giá trị mãi đến hôm nay.
 
 
      1. Hiệp liên hiệp Pali Đức
Kể từ lúc Đại đức Ñyānātiloka (xem 2.1) xuất gia, phong trào xut gia tu tập theo truyn thống Theravada ngày càng đông. Trong đ, Đại đức Markgraf người năng nổ nhất trong việc vận động quyên gp để mong muốn xây dựng nên một hệ thống tự viện tại châu Âu, song mọi chuyện không tốt đẹp như dự tính. vậy, Markgraf quay trở về Đức xây dựng một Nhà xuất bản Breslau, bắt đầu công việc xuất bản các ấn phẩm Phật giáo toàn thế giới. Những người biên tập như Seidenstucker, Wolfgang Bohn. thời gian này, The German Pali Society được ra đời. Sau khi Thượng tọa Ñyānātiloka quay trở lại Đức năm 1910 vận động xây dựng hệ thống tự viện Âu châu đã ủng hộ đầu tư cho hiệp hội này để đẩy mạnh hơn nữa những đng gp học thuật về Pali cho nước Đức.
      1. Tình hình Giáo dục Phật giáo tại Đức ngày nay
Chương trình đào tạo Phật học ngày nay tại Đức chỉ ở dạng trung bình, tuy vẫn c những phân khoa Phật học tại các trường Đại học như Munich, Harmburg nhưng tầm phổ quát của nó không sâu rộng như các nước Sri Lanka, Úc, Mỹ hay Anh. Hiện tại vẫn c chương trình Phật học cho hệ Cử nhân, Thạc Tiến sĩ. Chương trình Nghiên cứu Phật giáoĐại học Hamburg cung cấp nền tảng kiến thức ở các lãnh thổ như n Đ, Tây Tng, Trung Quốc, Nht Bản hoặc Thái Lan. Ngôn ngữ giảng dạy tiếng Anh tiếng Đức. Các khóa học vn Đ, Tây Tng và Thái Lan được dy bằng tiếng Anh và các khóa học vTrung Quốc và Nht Bn bằng tiếng Anh tiếng Đức. Chương trình tập trung đặc biệt vào việc trau dồi các kỹ năng trong ngôn ngữ của khu vực được đề cập. Ngoài các chủ đề khác nhau trong lĩnh vực Phật giáo, Nghiên cứu Phật giáo tập trung vào các câu hỏi về phương pháp phương pháp tiếp cận đối với ngành học. Với thời gian đào tạo 4 năm cho hệ Cử nhân 2 năm cho Thạc sĩ. Ngoài ra, các trường Đại học như Ludwig-Maximilians cũng c chuyên khoa Phật học ngày nay cũng mở ra các chương trình học bổng để khuyến khích phong trào nghiên cứu Phật học tại Đức.
 

Phật học viện Ứng dụng châu Âu được đặt tại Đức cũng một mô hình vừa tu vừa học song song do Thiền Nhất Hạnh chủ xướng đang ngày một gây ảnh hưởng tích cực lên cộng đồng châu Âuthế giới. Ở đ, không những được nghiên cứu học hỏi Phật học bằng tiếng Anh, Đức, Pháp, Việt mà còn ứng dụng tại chỗ các giáoấy vào tự thân để loại bỏ những phiền muộn khổ đau thực tập những phương pháp giúp con người đặt những bước chân nhẹ nhàng đi trên con đường hạnh phúc do chính mình xây tạo.
Cộng đồng Phật giáo Việt Nam tại Đức dưới sự hướng dẫn của Hoà thượng Thích Như Điển cũng thường xuyên tổ chức những hội thảo Quốc tế bằng 3 ngôn ngữ Anh, Đức Việt để cùng nhau nghiên cứu chia sẻ những khám pháp mới mẻ cũng như sở học sở tu cho cộng đồng Tăng ni Phật tử ở Đức châu Âu nhằm mong xây dựng cuộc đời đẹp hơn dưới ánh sáng GiáoPhật đà.
III. KẾT LUẬN
Tình hình nghiên cứu công trình học thuật của Phật giáo tại Đức c thể xem những kho tàng giá cho nền học thuật Phật giáo Thế giới, nó thể hiện không những ở khối lượng đồ sộ của các tác giả tác phẩm còn ở giá trị song của nền tảng triết lý, trí tuệ được chuyển tải qua mỗi trang sách hay bài nghiên cứu. Đức cũng nơi sản sinh ra số lượng lớn học giả chính yếu với các công trình nghiên cứu không thể thay thế về ngôn ngữ cổ xưa Phật học để lại cho đời những tinh hoa trí tuệ. Không chỉ làm việc, nghiên cứu cống hiến bằng cả tâm trí, sức lực, tài sản còn cả đam cuộc đời. Phật học ở Đức c thể nói tiên phong về sự bao quát đầy chất lượng kỹ lưỡng về sự sâu sắc, tỉ mỉ nghiêm túc kể cả phương diện truyền đạt kinh nghiệm tự thân tu tập lĩnh vực học thuật hàn lâm. Cho đến nay, các công trình những giá trị về Pht học Mahayana, Theravada và Vajrayana đu cnh hưởng tích cực như kho tàng dữ liệu tận cho học giả thời nay thời sau nghiên cứu. Bên cạnh đ, các công trình nghiên cứu phiên dịch cngữ như Sanskrit, Pali, Tây Tng gn như là nhng bn sách cn c cho mọi học giả hay hành giả nghiên cứu hành trì Đạo Phật.
 

Qua đ, chúng ta c thể thấy được tầm quan trọng của việc nghiên cứu học tập Phật học ngôn ngữ. Để c thể xây dựng nên một môi trường học thuật chất lượng, một phong trào nghiên cứu phát triển thì điều cần thiết phải đẩy mạnh công tác đào tạo nhân sự c thẩm quyền về mặt văn bản gốc. Chúng ta cần mạnh dạn đẩy mạnh nỗ lực trong việc đào tạo, học tập, nghiên cứu phiên dịch những tài liệu gốc của kho tàng Phật học bằng tiếng Sanskrit Pali để cnhững cái nhìn riêng hơn cụ thể hơn với nền tảng gốc rễ của đo Pht. Tiếng Anh và tiếng Trung tuy rt cn thiết, song, nên ưu tiên khuyến khích chuyên sâu 3 loại ngôn ngữ Sanskrit, Pali và Tng để hy vng trong nay mai ngoài bộ Kinh tạng Pali bng tiếng Việt ra còn c những phiên bản Tam tạng được chuyển dịch từ nguyên bn Sanskrit và Tng để mở ra nhng cn trời mới và ng tầm học thuật Phật giáo Việt Nam lên một tầng cao mới.



***




Tài liệu tham khảo
Ñānajivako, Schopenhauer Đạo Phật, Nxb. Buddhist Publication Society, Kandy, 1989.
William Peiris, The Western Contribution for Buddhismnce ng gp của Tây phương cho Phật giáo), Buddhist Cultural Centre, Colombo, 2000.
Max Müller, Collection of Essays, (Tuyển tập Nghiên cứu), Luân Đôn, 1881.
Reproduced from German Buddhist Writers, Tuyển tập Pháp luân của Buddhist Publication Society, Kandy, 2003.
William Peiris, Buddhism in Germany, (Đạo PhậtĐức), Nxb. Bud- dhist Cultural Centre, Colombo, 2018.
K. Piyartane, Teaching methodology and Strategies Highlingted in Buddhism (Phương pháp dạy các Chính sách nổi bật trong Phật giáo), Nxb. Pubudu zprinter Maloka, Colombo, 2002.

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây