33. CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG PHẬT GIÁO: CHUYÊN NGÀNH ĐÀO TẠO MỚI TRONG BỐI CẢNH PHẬT GIÁO NHẬP THẾ

Thứ sáu - 06/12/2019 08:20
CÔNG TÁC HỘI TRONG PHẬT GIÁO: CHUYÊN NGÀNH ĐÀO TẠO MỚI
TRONG BỐI CẢNH PHẬT GIÁO NHẬP THẾ

 
PGS.TS. Hoàng Thu Hương
 
 
  1. ĐẶT VẤN ĐỀ1
Phật giáo đã du nhập vào Việt Nam ngay từ những thế kỷ đầu công nguyên đồng hành cùng lịch sử dân tộc trải qua nhiều thăng trm. Trong suốt các chặng đường lịch sử, Pht giáo Vit Nam luôn những đóng góp tích cực cho các lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, hội. Với tinh thần nhập thế, đối diện với các vấn đề hội đang nảy sinh, Phật giáo Việt Nam đã đang tích cực tiếp cận các vấn đề hội từ góc độ giáoPhật giáo cùng tham gia tích cực vào việc hỗ trợ, giải quyết các vấn đề hội. Hoạt động từ thiện hội của Phật giáo phát triển mạnh mẽ trong thời gian gần đây một trong những minh chứng sống động của tinh thần nhập thế của Phật giáo.
Hoạt động từ thiện hội của Phật giáo đến nay đã phát triển



*. Phó Trưởng Khoa hội học, Trường Đại học Khoa học hội Nhân văn, Đại học Quốc gia Nội.
    1. Nghiên cứu được thực hiện dưới sự tài trợ của Đại học Quốc gia Nội trong đề tài ‘Vai trò của tổ chức tôn giáo trong công tác hội đối với người cao tuổi hoàn cảnh đặc biệt khó khăn’, số QG.19.33.
 

sâu rộng trên nhiều lĩnh vực y tế, giáo dục, cứu trợ hội, bảo trợ hội,… Từ xuất phát điểm tự phát trên tinh thần từ bi, hoạt động từ thiện hội của Phật giáo ngày càng tính tổ chức, tuy vậy vẫn bị đánh giá “chưa đem lại sự thay đổi tận gốc rễ” (Thích Như Niệm, 2011; Dương Quang Điện, 2016) đối diện với các hạn chế như: 1) Ngành từ thiện hội không quỹ riêng để hoạt động, 2) Không sự quảnxuyên suốt từ trung ương đến địa phương, 3) Chưa chủ động được trong các chương trình từ thiện phụ thuộc vào những người đóng góp (Thích Như Niệm, 2011). Đứng trước tiềm năng huy động các nguồn lực hội cũng như vai trò tích cực trong các hoạt động từ thiện hội của Phật giáo Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu đã nhận thấy xu hướng của sự phát triển công tác hội trong Phật giáoViệt Nam hiện nay (Hoàng Thu Hương, 2012, 2017; Nguyen, 2014, 2015; Nguyễn Hồi Loan (chủ biên), 2015; Hoàng Thu Hương Bùi Phương Thanh, 2016; Hoang, Nguyen and Reynolds, 2018).
Những nghiên cứu về hoạt động từ thiện hội của Phật giáo cũng như nhu cầu chuyên nghiệp hóa hoạt động từ thiện hội của Phật giáo cho thấy đã đến lúc các sở đào tạo về công tác hội cũng như các sở đào tạo về Phật học cần tính đến việc đưa một lĩnh vực chuyên ngành mới – công tác hội trong Phật giáo vào giảng dạy. Dựa trên các kết quả nghiên cứu đã đang thực hiện về hoạt động từ thiện hội của Phật giáo, về mối quan hệ giữa Phật giáo công tác hội cũng như kinh nghiệm giảng dạy thực tiễn về hội học tôn giáo của tôi, bài viết này sẽ trình bày quan điểm về công tác hội trong Phật giáo, các sở cho sự phát triển chuyên ngành công tác hội trong Phật giáo, cũng như đề xuất nội dung của lĩnh vực chuyên ngành này.
2. CÔNG TÁC HỘI TRONG PHẬT GIÁO GÌ?
Trước hết, nghề công tác xã hi thúc đy sự thay đi xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của con người, tăng năng lực giải phóng cho người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu. Vận dụng cácthuyết về hành vi con người và 
hệ thống hội, công tác hội tương tác vào những điểm giữa con người với môi trường của họ. Nhân quyền công bằng hội các nguyên tc căn bn của ngh(Trn Văn Kham, 2009, p. 2). Ở phương Tây, công tác hội lĩnh vực nguồn gốc từ các hoạt động từ thiện hội mang tính tôn giáo, do vậy đối tượng của công tác hội các đối tượng nhận được sự trợ giúp của các tổ chức tôn giáo luôn điểm tương đồng. Trên sở nhận thấy những giá trị nghề công tác hội đề cao những sự tương đồng với các giá trị đạo đức bản của Phật giáo,những quốc gia châu Á chịu ảnh hưởngtưởng của Phật giáo, nhiều nhà nghiên cứu đã nhận thấy tiềm năng gắn kết công tác hội với Phật giáo. Nguyễn Thị Kim Hoa và các cộng sự đã nhận thấy những triết lý bản của công tác hội được thể hiện qua các hoạt động nhân đạo, hỗ trợ con người của các nhà chùa hiện nay đó chính đề cao giá trị con người, đề cao giá trị hội. Theo nền tảng triết lý của mình, công táchội theo đuổi 6 giá trị bản, những giá trị này những yếu tố nền tảng xác định nghề công tác hội, đây sở để xem xét mối quan hệ giữa công tác hội Phật giáo trong bối cảnh hội hiện nay (Nguyễn Thị Kim Hoa, Nguyễn Thu Trang and Fujimori, 2012). Nguyễn Hồi Loan (2015) cho rằng những hoạt động hội mang tính thế tục của các ngôi chùa hiện nay đang thể hiện những mức độ khác nhau về chức năng của một trung tâm công tác hội, hỗ trợ phát triển cộng đồng,vấn vận động chính sách.
Về mặt thuật ngữ, sự kết nối giữa Phật giáo công tác hội thường được gọi công tác hội trong Phật giáo hay công tác hội Phật giáo. Thuật ngữ ‘công tác hội Phật giáo’ xuất hiện trong một scông trình của Chhon (2017), Techapalokul (2015) và các nhà nghiên cứu thuộc dự án Tôn giáo và Công tác xã hi: Trường hợp Pht giáo’ được trin khai từ m 2012 dưới stài trợ của Asian Center for Welfare In Society Japan College of Social Work2. Akimoto tại Hội thảo quốc tế đối thoại về các chiều cạnh




2. Đây một dự án nghiên cứu được triển khai ở 5 quốc gia, trong đó tại Việt Nam, nhóm nghiên cứu của Prof. Akimoto đã phối hợp với nhóm nghiên cứu của PGS.TS. Nguyễn Hồi
 

trong thực hành công tác hội tổ chức tại Bhutan vào 5/2019 đã cho rằng Công tác hội Phật giáo được hiểu theo 3 cách là: 1) Công tác hội được thực hiện bởi những người theo đạo Phật (các ngôi chùa, tăng, ni tín đồ); 2) Công tác hội được biến đổi cùng với các thành tố của Phật giáo (các giá trị, triết lý, những lời dạy của Đức Phật, kiến thức các kỹ năng); 3) Công tác hội thực hành của Phật giáo3. Cụ thể, Akimoto đã đề xuất định nghĩa làm việc của công tác hội Phật giáo ‘hoạt động của con người nhằm giúp đỡ những người khác giải quyết hoặc làm dịu bớt những vấn đề những khó khăn trong cuộc sống dựa trên bản chất của Đức Phật. Công tác hội Phật giáo luôn tìm kiếm những nguyên nhân để hoạt động trong lĩnh vực vật chất, hoặc lĩnh vực hội hoặc lĩnh vực bên trong con người, hoạt động trên cả hai lĩnh vực này. Các nguyên bản bao gồm lòng trắc ẩn, sự tử tế, sự giúp đỡ lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau sự tự lực. Giá trị cốt lõi Ngữ giới. Mục đích tối hậu đạt tới sự hạnh phúc của tất cả sinh vật tri giác hòa bình’4. Định nghĩa này về công tác hội Phật giáo đã dựa trên định nghĩa về công táchội kết hợp với một số giá trị triết của Phật giáo. Đây một định nghĩa mang tính chất tiên phong trong lĩnh vực này cần tiếp tục được trao đổi về mặt học thuật.
Mặc dù, thuật ngữ ‘Công tác hội Phật giáo’ đã được một nhóm các nhà nghiên cứu đưa ra định nghĩa, song sử dụng thuật ngữ này thì tương ứng sẽ công tác hội đốc giáo, công tác hội Hi giáo,… Trong thực nh công tác xã hi trên thế giới, tôn giáo được xem một trong các nguồn lực quan trọng đến nay khi đề cập đến sự kết nối giữa các tổ chức tôn giáo trên thế giới với công tác hội, các nhà nghiên cứu thường đề cập đến ‘quan điểm của Hồi giáo/Cơ đốc giáo về công tác hội’ hoặc công tác hội với




Loan Khoa hội học, Trường Đại học Khoa học hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Nội.
3.http://conference.sce.edu.bt/wp-content/uploads/2019/05/Prof.-Dr.-Tatsu- ru-Akimoto-Japan.pdf
4.http://conference.sce.edu.bt/wp-content/uploads/2019/05/Prof.-Dr.-Tatsu- ru-Akimoto_Japan.pdf
 

Hồi giáo/Cơ đốc giáo. Việc không gắn tên các tổ chức tôn giáo sau thuật ngữ ‘công tác hội’ cho thấy sự hợp lý nhất định. Công tác hội một ngành/nghề nền móng từ chính các hoạt động từ thiện hội của tôn giáo đến nay đã trở thành một ngành khoa học độc lp và một nghề chuyên nghip. Trong khi đó, các tổ chức tôn giáo tuy đóng vai trò tích cực đối với công tác hội, song các hoạt động từ thiện hội của các tổ chức tôn giáo chưa được đầy đủ các tính chất, đặc điểm của công tác hội.
Việt Nam, các Tăng, ni, Phật tử các chùa chiền hiện tham gia tích cực vào hoạt động từ thiện hội, cho thấy một số hoạt động mang tính chất của công tác hội triển vọng cho sự phát triển hoạt động công tác hội, tuy nhiên vẫn chưa hoạt động công tác hội chuyên nghiệp được thực hiện trong các sở Phật giáo. Do vậy, nhận thấy cần cân nhắc khi ghép tên tổ chức tôn giáo sau thuật ngữ công tác hội, nên bài viết này sử dụng thuật ngữ ‘Công tác hội trong Phật giáo’ nhằm nhấn mạnh lĩnh vực công tác hội cần được gắn kết vào trong hoạt động của Phật giáo.
Công tác hội trong Phật giáo được xem một dạng hoạt động hoạt động này cần được xem đối tượng nghiên cứu của một chuyên ngành cụ thể, sự kết hợp giữa công tác hội Phật học. Do vậy, để định nghĩa công tác hội trong Phật giáo gì, bài viết này sẽ sử dụng định nghĩa về hoạt động công tác hội của Hiệp hội Quốc gia các nhân viên công tác hội Mỹ kết hợp với đặc trưng của chủ thể, đối tượng của hoạt động công tác hội trong Phật giáo Việt Nam. Cụ thể, công tác hội trong Phật giáo hoạt động chuyên nghiệp do các Tăng, ni, Phật tử hoặc các cơ sở thuộc Phật giáo hayliên kết với Phật giáo thực hiện nhằm giúp đỡ các nhân, nhóm hoặc cộng đồng vượt qua các vấn đề khó khăn bằng cách tăng cường hoặc khôi phục năng lực thực hiện các chức nănghội của họ tạo ra những điều kiện thích hợp nhằm đạt được những mục tiêu đó.
Nếu xét từ góc độ một chuyên ngành khoa học thì công tác hội trong Phật giáo một lĩnh vực nghiên cứu sự giao thoa giữa công tác hội Phật học, nghiên cứu về các hoạt động mang tính  
chất công tác hội do các Tăng, ni, Phật tử hoặc các sở thuộc Phật giáo hay các sở liên kết với Phật giáo thực hiện trên sở vận dụng các quan điểmthuyết của công tác hội các giá trị, giáoPhật giáo, cũng như các phương pháp của công tác hội.
  1. SỞ CHO SỰ PHÁT TRIỂN CHUYÊN NGÀNH CÔNG TÁC HỘI TRONG PHẬT GIÁO
4 sở chính cho thấy cần thiết phát triển chuyên ngành Công tác hội như sau:
Th nhất, nhu cầu cần chuyên nghiệp hóa hoạt động từ thiện hội trong bối cảnh Phật giáo nhập thế ở Việt Nam các hoạt động từ thiện hội của Phật giáo đã nhiều đóng góp trong việc tham gia các hoạt động trợ giúp hội cho nhiều đối tượng khác nhau. Hiện nay, từ thiện hội của Phật giáo đang tham gia vào các lĩnh vực y tế (phát triển các sở khám chữa bệnh của hệ thống Tuệ tĩnh đường các sở chẩn trị y học dân tộc), lĩnh vực chăm sóc người HIV/AIDS, lĩnh vực giáo dục (tổ chức các lớp mẫu giáo tình thương, sở dạy nghề miễn phí cho trẻ em mồ côi, khuyết tật, gia đình nghèo phát triển quỹ học bổng giúp học sinh nghèo hiếu học), lĩnh vực bảo trợ hội (phát triển được nhiều sở nuôi dạy trẻ khuyết tật, mồ côi, chăm sóc người già neo đơn của Phật giáo), lĩnh vực cứu trợ hội (dành cho nạn nhân thiên tai, giúp đỡ những gia đình khó khăn, chăm sóc người già neo đơn, thăm hỏi thương bệnh binh, gia đình liệt sĩ, chiến sĩ nơi biên giới hải đảo, xây dựng cầu đường, nhà tình nghĩa, mở rộng mô hình suất cơm từ thiệncác bệnh viện v.v…). Cách đây 2 năm, cuộc hội thảo Phát huy vai trò Phật giáo tham gia xã hội hóa công táchội, từ thiện do Trường Đại học Khoa học xã hi và Nn văn, y ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức ngày 14-15/6/2017 tại Kiên Giang đã đặt ra những vấn đề cần phát huy vai trò của Phật giáo trong công tác từ thiện hội. Những điều này cho thấy nhu cầu chuyên nghiệp hóa công tác từ thiện hội của Phật giáo đã trở nên cấp bách.
Th hai, nguồn lực của các tổ chức Phật giáo khi tham gia vào hoạt động công tác hội đã được nhiều nghiên cứu trên thế giới 
Việt Nam ghi nhận. Các ngôi chùa không chỉ nơi sinh hoạt tôn giáo dành cho tín đồ còn được xem nơi khả năng cung cấp các dịch vụ phúc lợi hội chính thức phi chính thức (Canda and Furman, 2010). Ở một số quốc gia, các tự viện Phật giáo đã trở thành một tổ chức phi chính phủ nhiều đóng góp quan trọng cho sự phát triển của cộng đồng. Chẳng hạnThái Lan, ngôi chùa Phật giáo (wat) được xem một tổ chức phi chính phủ quan trọng “là trung tâm giáo dục, phúc lợi địa phương các hoạt động cộng đồng(Gerald W. Fry, Gayla S. Nieminen 2013:276). Trong my thập kỷ gần đây, các tổ chức Phật giáo trên thế giới cũng đang những đóng góp tích cực cho các dịch vụ phúc lợi hội ở cả những quốc gia Phật giáo không nhiều ảnh hưởng như Mỹ hay Úc (Canda and Phaobtong, 1992; Sherwood, 2001; Garces-Foley, 2003). Như vậy,sự phát triển của công tác hội đầu tiên không gắn liền với Phật giáo nhưng hiện nay sự gắn kết giữa Phật giáo với công tác hội đã trở thành một xu hướng phát triển của Phật giáo hiện đại, phương thức để Phật giáo thể lan tỏa sự ảnh hưởng của mình tới cộng đồng.
Các nhà nghiên cứu ở Việt Nam nhận thấy sự tham gia hoạt động từ thiện hội của Phật giáo được xem như một trong những cách thức thực hiện trách nhiệm hội (Nguyễn Tài Đông, 2013), thực hiện chức năng liên kết hội (Nguyễn Thị Minh Ngọc, 2013) thể tiến tới phát triển mô hình công táchội gắn với Phật giáo (Hoàng Thu Hương 2012; Nguyễn Ngọc Hường 2012; Nguyễn Thị Kim Hoa các cộng sự 2012).
Th ba, đào tạo về công tác hội đã được các sở giáo dục của Phật giáo quan tâm nội dung về tôn giáo công tác hội cũng đã được đưa vào chương trình giảng dạy của một số sở đào tạo về công tác hội. Hiện nay, Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh đã chương trình cử nhân Công tác hi và m 2018, y ban Trung ương Mặt trn Tổ quốc Vit Nam Tổ chức Bắc Âu trợ giúp Việt Nam đã tổ chức hội nghị để chia sẻ kinh nghiệm trong đào tạo cử nhân công tác hội của Học viện

Phật giáo tại Việt Nam. Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế từng tổ chức sinh hoạt khoa học với đề tài “Phật giáo Công tác him 2017. Trường Đại học Khoa học xã hi và Nn văn, Đại học Quốc gia Nội sở đầu tiên đưa vào trong chương trình đào tạo thạcngành công tác hội định hướng ứng dụng học phần ‘Niềm tin tôn giáo thực hành công tác hội’ học phần Tôn giáo và Công tác xã hivào chương trình đào to tiến sĩ ngành Công tác hội. Do vậy, từ việc cung cấp những kiến thức đại cương về công tác hội trong các sở giáo dục của Phật giáo cần hướng tới việc cung cấp những kiến thức chuyên ngành về công tác hội trong Phật giáo.
Th tư, công tác hội một nghề đang được định hướng ưu tiên phát triển ở Việt Nam vai trò của tổ chức tôn giáo tham gia vào các hoạt động bảo trợ hội đã được ghi nhận. Đào tạo công tác hội ở Việt Nam theo hướng chuyên nghiệp đã xuất hiện từ giữa thế kỷ XXmiền Nam Việt Nam, song một thời gian sau khi đất nước thống nhất đã bị gián đoạn cho tới thập kỷ cuối thế kỷ XX, ngành công tác hội mới phát triển trở lại. Từ đầu thế kỷ XXI, công tác hội một trong những ngành được tạo điều kiện phát triển nhanh chóng hình thành được một mạng lưới đào tạo công tác hội rộng rãi trên cả nước. Năm 2004, Bộ Giáo dục Đào tạo chính thức ban hành Khung chương trình giáo dục đại học cao đẳng ngành công tác hội mở ra hành lang pháp lý cho sự phát triển mạnh mẽ của ngành. Đặc biệt kể từ khi đề án 32 được phê duyệt về việc phát triển ngành công tác hội giai đoạn 2010 – 2020, trong đó xác định mục tiêu “tổ chức đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ tập huấn kỹ năng để nâng cao năng lực cho 60.000 cán bộ, nhân viên cộng tác viên công tác hội”5, đào tạo ngành công tác hội ở bậc cử nhân nhanh chóng hình thành ở 55 trường đại học, cao đẳng 21 sở dạy nghề (Nguyễn Văn Hồi, 2017).




5.     http://vanban.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_ id=1&mode=detail&document_id=93914
 

Trong giai đon vừa qua, nhà nước ban nh nhiu văn bn quy phạm pháp luật liên quan đến các sở trợ giúp hội nhằm tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của mạng lưới sở bảo trợ hội ngoài công lập, trong đó nhiều sở thuộc các tổ chức tôn giáo. Theo Cục Bảo trợhội, cả nước 113 sở thuộc tổ chức tôn giáo, chăm sóc, nuôi dưỡng 11.800 đối tượng bảo trợ hội với tổng số 2.600 nhân viên, bình quân 1 sở trợ giúp hội thuộc các tổ chức tôn giáo chăm sóc, nuôi dưỡng 104 đối tượng bảo trợ hi, cung cp nhiu dịch vxã hi như:(i) cm sóc, nuôi dưỡng các đối tượng bảo trợ hội; (ii) tổ chức hoạt động phục hồi chức năng, lao động sản xuất, dạy văn hoá, dạy nghề, giáo dục hướng nghiệp; (iii) cung cấp các dịch vụ công tác hội; (iv) hỗ trợ hòa nhập cng đồng(y ban Trung ương Mặt trn Tổ quốc Vit Nam Bộ Lao động, Thương binh hội, 2017). Bên cạnh đó, còn không ít các sở bảo trợ hội thuộc tổ chức tôn giáo đang nuôi dưỡng, trợ giúp các đối tượng bảo trợ hội nhưng chưa đủ điều kiện thành lập sở trợ giúp hội theo quy định. Một số hạn chế của các sở bảo trợ hội thuộc các tổ chức tôn giáo hiện nay đó “chỉ tập trung vào việc chăm sóc, nuôi dưỡng cho các đối tượng bảo trợ hội thuộc diện đặc biệt khó khăn không tự lo được cuộc sống, chưa cung cấp các loại dịch vụ công tác hội cho đối tượng bảo trợ hội” “Nhân viên công tác hội làm việc tại các sở trợ giúp hội thuộc các tổ chức tôn giáo còn thiếu về số lượng, chưa được đào tạo chuyên nghiệp về công tác hội, thiếu kỹ năng phương pháp chăm sóc khoa học, hỗ trợ đối tượng hòa nhập cộng đồng” (y ban Trung ương Mặt trn Tổ quốc Vit Nam và Bộ Lao động, Thương binh hội, 2017).
Trong bi cnh nh lang pp lý to điu kin thun lợi cho hoạt động đào tạo nghề công tác hội sự thiếu hụt về đội ngũ nhân viên công tác hội cũng như thiếu vắng các dịch vụ công tác hội tại các sở trợ giúp hội thuộc các tổ chức tôn giáo cho thấy công tác hội trong Phật giáo cần sớm được đưa vào đào tạo, để không chỉ nâng cao năng lực, trình độ của đội ngũ nhân viên công tác hội tại các sở trợ giúp hội còn nâng cao năng 
lực, trình độ của Tăng, ni, Phật tử cũng như các nhân viên công tác hội nói chung.
Tóm lại, các cơ sở về nhu cầu thực tiễn, nguồn lực của Phật giáo tham gia vào hoạt động trợ giúp hội và cơ sở pháp đã cho thấy đến lúc cần nghiên cứu giảng dạy chuyên ngành công tác hội trong Phật giáo.
  1. ĐỀ XUẤT KHUNG NỘI DUNG CỦA MÔN HỌC CÔNG TÁC HỘI TRONG PHẬT GIÁO
Qua nghiên cứu một số đề cương môn học về tâm linh tôn giáo, kết hợp với những kết quả nghiên cứu về công tác hội Phật giáo, dưới đây sẽ trình bày một số gợi ý về mục tiêu nội dung môn học:
Mục tiêu chung của môn học: môn học này sẽ cung cấp cho người học những kiến thức về lịch sử mối quan hệ giữa công tác hội Phật giáo, hiểu được các khái niệm bản trong giáoPhật giáo thuyết công tác hội, vai trò của Phật giáo trong thực hành công táchội ở Việt Nam, nắm vững được các kỹ năng đạo đức nghề công tác hội, học được cách đánh giá về khía cạnh tâm linh, tôn giáo của con người, vận dụng được các kiến thức, kỹ thuật của thực hành công tác hội trong quá trình tham gia các hoạt động trợ giúp hội.
Nội dung chính của môn học dự kiến bao gồm:
    • Đối tượng, chức năng nhiệm vụ của nghề công tác hộiMột số quan điểmthuyết của nghề công tác hộiPhật giáo Việt Nam: các quan điểm giáo bản thực trạng hoạt động trợ giúp hội
    • Lịch sử mối quan hệ giữa công tác hội Phật giáo
    • Đạo đức nghề công tác hội giá trị đạo đức Phật giáo
    • Vận dụng các phương pháp của công tác hội (công tác hội cá nhân, công tác hội nhóm phát triển cộng đồng) trong hoạt động trợ giúp hội của Phật giáo
Môn học này được xây dựng phù hợp với mọi đối tượng người học, bao gồm cả những sinh viên chuyên ngành công tác hội, nhân viên công táchội cả những Tăng, ni, Phật tử nhu cầu tìm hiểu về lĩnh vực này. Những kiến thức về công tác hội trong Phật giáo rất cần thiết với các nhân viên công tác hội bởi Phật giáo một trong các nguồn lực hội quan trọng tham gia giải quyết các vấn đề hội, đồng thời việc hiểu được về nội dung giáo bản của Phật giáo cũng như vai trò của Phật giáo trong công tác hội sẽ giúp nhân viên công tác hội thực hiện hoạt động nghề nghiệp của mình tốt hơn. Bên cạnh đó, việc cung cấp thông tin, tri thức về công tác hội trong Phật giáo cho các Tăng, ni, Phật tử sẽ góp phần giúp cho những hoạt động trợ giúp của Phât giáo ngày càng trở nên chuyên nghiệp, tham gia tích cực vào việc giải quyết tận gốc rễ các vấn đề hội, khắc phục được những hạn chế của hoạt động từ thiện hội hiện nay.
Trong các chương trình đào to vcông tác xã hi trên thế giới, tuy chưa lĩnh vực chuyên ngành hẹp công tác hội trong Phật giáo, song môn học về tâm linh công tác hội môn học được đưa vào trong một số khung chương trình đào tạo về công tác hội trên thế giới (ví dụ trong chương trình đào tạo về công tác hi của Đại học Michigan, Đại học Nam California,…). Trong bi cảnh Phật giáo một trong các tôn giáo ảnh hưởng lớn ở Việt Nam, vai trò tích cực trong các hoạt động trợ giúphội đến nay đã phát triển được một mạng lưới bảo trợ hội thuộc Phật giáo trợ giúp cho nhiều nhóm đối tượng hoàn cảnh khó khăn, môn học Công tác hội trong Phật giáo nên được phát triển thành một môn học lựa chọn trong khung chương trình giảng dạy về công táchội nói chung được đưa vào giảng dạy trong chương trình đào tạo về Phật học.
Hiện nay, trong một số sở đào tạo về Phật học đã quan tâm tới việc giảng dạy về công tác hội cho đến nay vẫn còn nhiều sở đào tạo về công tác hội chưa xem kiến thức về tôn giáo học nói chung kiến thức sở của ngành. Tại trường Đại học Khoa học hội Nhân văn, Đại học Quốc gia Nội đã xác định 
tôn giáo học đại cương môn học thuộc khối kiến thức chung của ngành trong khối kiến thức tự chọn của ngành môn hội học tôn giáo. Tới bậc đào tạo sau đại học, khung chương trình đào tạo về thạc tiếncông tác hội đã phát triển các học phần liên quan đến tôn giáo công tác hội. Tuy vậy, đây các học phần lựa chọn từ năm học 2019-2020 bắt đầu tổ chức giảng dạy trong chương trình đào tạo thạccông tác hội định hướng ứng dụng. Việc bắt đầu triển khai giảng dạy học phần Niềm tin tôn giáo và thực hành công tác hội cho thấy trong hoạt động đào tạo về công tác hội ở Việt Nam đã bắt kịp được xu hướng của thế giới cũng như nắm bắt được nhu cầu thực tiễn hiểu được vai trò của nguồn lực tôn giáo trong thực hành công táchội tại Việt Nam. Đây cũng điều kiện để thể tiếp tục phát triển lĩnh vực chuyên ngành công tác hội trong Phật giáo dành cho các những nhân viên công tác hội hoạt động trong môi trường liên quan đến hoạt động của Phật giáo cũng như dành cho các Tăng, ni, Phật tử ở Việt Nam.
Để phát triển lĩnh vực công tác hội trong Phật giáo, cần đưa chuyên ngành này vào giảng dạy từ bậc cao đẳng, đại học, do đó cần đến sự hợp tác giữa các sở đào tạo về công tác hội các sở đào tạo về Phật học. Môn học này nếu được xây dựng thành công, sẽ mở ra được triển vọng trong hợp tác đào tạo giữa Học viện Phật giáo Việt Nam với các sở đào tạo đại học, sau đại học về công tác hội hiện nay.
  1. KẾT LUẬN
Trong bi cnh hot động nghề công tác xã hi ở Vit Nam – một quốc gia chịu ảnh hưởng tưởng của đạo PhậtPhật giáo là một trong các tôn giáo khả năng huy động được nhiều nguồn lực hội tham gia vào các hoạt động trợ giúp hội, nhân viên công tác hội ngày nay cần những kiến thức về tôn giáo nói chung, cũng như hiểu về giá trị, triết lý của Phật giáo trong các hoạt động trợ giúp hội, cần nắm được cách thức đánh giá nhu cầu tâm linh tôn giáo của các đối tượng trợ giúp. Bên cạnh đó, việc đào tạo công tác hội trong các sở của Phật giáo cũng cần lĩnh vực chuyên ngành đi sâu vào công tác hội trong Phật giáo để làm các đặc thù của hoạt động công tác hội trong Phật giáo, cung cấp kiến thức về hoạt động công tác hội trong Phật giáo để các hoạt động từ thiện hội của Phật giáo ngày càng tiến tới sự chuyên nghiệp. Phát triển chuyên ngành công tác hội trong Phật giáo đã và đang trở thành một nhu cầu cần thiết đối với cả cơ sở đào tạo thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam sở đào tạo ngành công tác hội trong cả nước. Việc xây dựng môn học công tác hội trong Phật giáo hoàn toàn khả thi khi ngày càng nhiều nghiên cứu ở các nước trong khu vực cũng chịu ảnh hưởngtưởng Phật giáo Việt Nam quan tâm tới sự liên kết giữa Phật giáo công tác hội. Hy vọng những trao đổi về mặt học thuật trong bài viết này sẽ nhận được sự quan tâm những thảo luận về sự phát triển chuyên ngành đào tạo mới công tác hội trong Phật giáoViệt Nam.

***

Tài liệu trích dẫn
Canda, E. R. and Furman, L. D. (2010), Spiritually diversity in social work practice: The Heart of Helping, New York: Oxford Universi- ty Press, Inc. doi: 9780195372793.
Canda, E. R. and Phaobtong, T. (1992), ‘Buddhism as a Support System for Southeast Asian Refugees, Social Work, 37(1), pp. 61–67.
Chhon, K. (2017), ‘New models of Buddhist Social Work in Cam- bodia, Journal of International Buddhist Studies, 8(2), pp. 60–87.
Dương Quang Điện (2016), ‘Hoạt động từ thiện hội của Phật giáo Việt Nam’, Tạp chí Khoa họchội Việt Nam, Số 10, pp. 88–92.
Garces-Foley, K. (2003), ‘Buddhism, Hospice, and the American Way of Dying, Review of Religious Research, 44(4), pp. 341–353.
Gerald W. Fry, Gayla S. Nieminen, H. E. S. (2013), Historical Dic- tionary of Thailand. Third Edit. Scarecrow Press, Inc.
Hoang, H. T., Nguyen, T. T. and Reynolds, J. F. (2018), ‘Bud- dhism-based charity, philanthropy, and social work: A lesson from Vietnam, International Social Work, p. 002087281876725. doi: 10.1177/0020872818767257.
Hoàng Thu Hương (2012), ‘Phật giáo Việt Nam với Từ thiện hi và Công tác xã hi, in Kyếu Hi tho Quc tế: Chia sẻ kinh nghiệm quốc tế về công táchội an sinhhội, Nxb. Đại học Quốc gia.
Hoàng Thu Hương (2017), ‘Chuyên nghiệp hóa hoạt động từ thiện xã hi: xu hướng nhập thế của Pht giáo Vit Nam đương đi, in Hội thảo khoa học quốc tế Phật giáo nhập thế các vấn đề xã hội đương đại, Vin Trn Nn Tông, Đại học Quốc gia Hà Ni và Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Hoàng Thu Hương và Bùi Phương Thanh (2016), Tâm thế tham gia hot động từ thin của Pht tử Vit Nam hin nay, Tp chí Văn hóa Nghệ thuật, 389, pp. 103–105.
Nguyen, H. (2014) ‘Buddhism-based exorcism and spirit-calling as a form of healing for mental problems: Stories from Vietnam, Journal of Religion & Spirituality in Social Work: Social Thought, 33(1), pp. 33–48. doi: 10.1080/15426432.2014.873648.
Nguyen, H. (2015) ‘Linking Social Work with Buddhist Temples: Developing a Model of Mental Health Service Delivery and Treatment in Vietnam, British Journal of Social Work, 45(4), pp. 1242–1258. doi: 10.1093/bjsw/bct181.
Nguyễn Hồi Loan (chủ biên) (2015), Giá trị của Phật giáo đối với Công táchội trong xu thế toàn cầu hóa. Nội: Nxb. Đại học Quốc gia.
Nguyễn Ngọc Hường (2012), ‘Kết nối Đạo Phật với Công tác hội: Đề xuất một mô hình cung cấp dịch vụ Công tác hội tại Việt Nam’, Tạp chíhội học, số 1, pp. 23–34.
Nguyn Tài Đông (2013), Tch nhim xã hi của Pht giáo Vit Nam’, in Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Phật giáo châu Á Việt Nam trong tiến trình phát huy văn hóa dân tộc, Quảng Ninh.
Nguyễn Thị Kim Hoa, Nguyễn Thu Trang Fujimori, Y. (2012), ‘Những giá trị của ngành Công tác hội thể hiện trong các hoạt động nhân đạo của các sở Phật giáo - Một góc nhìn khái quát từ Việt Nam Nhật Bản’, in Hội thảo quốc tế chia sẻ kinh nghiệm quốc tế về công tác hội an sinh hội. Nội: Nxb. Đại học Quốc gia, pp. 56–65.
Nguyễn Thị Minh Ngọc (2013), ‘Liên kết hội của Phật giáo qua hot động giáo dục và từ thin xã hi, in Kyếu hi tho quc tế: “Phật giáo châu Á Việt Nam trong tiến trình phát huy văn hóa dân tộc”.
Nguyễn Văn Hồi (2017), ‘Đánh giá khái quát kết quả thực hiện đề


án phát triển nghề công tác hội giai đoạn 2010 - 2015 định hướng giai đon 2016 - 2020, in Kyếu Hi tho khoa hc Chăm sóc sức khỏe: những vấn đề xã hội học và công tác hội’, Nxb. Đại học Quốc gia Nội, pp. 40–59.
Sherwood, P. (2001), ‘Buddhist Contribution to Social Welfare in Australia, Journal of Buddhist Ethics, 8(319), pp. 61–74.
Techapalokul,  S.  (2015),  TOWARDS  BUDDHIST  SOCIAL
WORK AND HAPPINESS *’, in International Buddhist Confer- ence on “Buddhist Social Work and Education in ASEAN Economic Community (AEC), International Buddhist Conference on “Bud- dhist Social Work and Education in ASEAN Economic Community (AEC), July 25-28, 2015.
Thích Như Niệm (2011), ‘Ngành từ thiện hội Phật giáo cần thay đi tư duy hot động, Báo Giác Ngộ Online. Available at: http://giacngo.vn/chude/kyniem30namngaythanhlapGHP- GVN/2011/12/24/5B724B/.
Trn Văn Kham (2009), ‘Hiu về quan nim công tác xã hi, Tp chí Khoa học Đại học Quốc gia Nội, Khoa họchội Nhân văn, 25, pp. 1–7.
y ban Trung ương Mặt trn Tổ quốc Vit Nam và Bộ Lao động, Thương binh hội (2017), Báo cáo tình hình các tôn giáo tham gia hoạt động trợ giúphội dạy nghề

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây