31. THUYẾT KIẾN TẠO CHO GIÁO DỤC PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỜI HIỆN ĐẠI

Thứ sáu - 06/12/2019 08:27
THUYẾT KIẾN TẠO CHO GIÁO DỤC PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỜI HIỆN ĐẠI
 
ThS. SC. Thích Nữ Viên Hiếu

 
            Sự nghiệp giáo dục luôn vấn đề hết sức quan trọng, đây một trong những nhiệm vụ hàng đầu trong sự nghiệp xây dựng đổi mới Phật giáo giai đoạn hiện nay, “Giáo dục chỉ nghĩa khi giáo dục giữ sứ mạng đánh thức thể đưa ra thể đi trên con đường sáng tạo”1.
giáo dục Phật học hay giáo dục hội, mục đích đều hướng tới kiến tạo con người, kiến tạo đời sống, kiến tạo tâm linh, để hướng tới sự tồn tại đúng với giá trị tích cực của hiện hữu.
Tinh thần tự chủ trên đường sáng tạo ấy phải được phát huy thêm lên bởi mục đích giáo dục, để chuyển hóa dòng tâm thức của con ngườinhân con người hội cùng hướng về đại thể. giáo dục còn giúp con người tìm ra ý nghĩa của cuộc sống như một toàn thể khám phá ra những giá trị thực tại.
bài tham luận này, xin đề cập phương pháp giáo dục dựa trên thuyếtkiến tạo hướng đến vận dụng cho phương pháp giáo dục Phật học phù hợp hơn với hoàn cảnh thực tại.





*. Cựu Ni Sinh HVPGVN tại Tp, HCMKhóa VII.
1. HT. Thích Minh Châu, Trước sự lệ của con người, tư tưởng ĐHVH, 1969, p. 15.
 
 
  1. KHÁI NIỆM GIÁO DỤC HƯỚNG GIÁO DỤC HIỆN ĐẠI
    1. Khái niệm giáo dục
Giáo dục trước tiên giáo dục con người. Giáo dục một quá trình tổ chức ý thức, hướng tới mục đích khơi gợi hoặc biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của người dạy người học theo hướng tích cực.
Giáo dục nguyên gốc từ tiếng Latinh (Educare) “làm lộ ra”, có nghĩa “giáo dụcquá trình, cách thức làm lộ ra những khả năng tim n của người được giáo dục.
Platon cho rằng: Mục đích giáo dục để hoàn thiện thể tâm hồn của người học.
Theo Aristotle, giáo dục để phát triển những khả năng của con người, đặc biệt tâm trí, để người ta thể thưởng ngoạn được chân lí cuối cùng, cái đẹp những điều thiện lành. chuẩn bị cho đời sống của người khác, chuẩn bị cho cái toàn thể cho đời sống, phát triển đời sống tinh thần, khai mở những giá trị tâm linh. Giáo dục thể chia thành ba mục tiêu:
Một là, giáo dục thể tạo cho con người thành những nhân cách tốt.
Hai là, giáo dục thể huấn luyện cho con người thành những con người tiến bộ trong niềm tin hoàn cảnh người đó duy trì.
Ba là, giáo dục cách giúp con người tìm kiếm nhận biết được sự thật bên trong họ.
    1. Phương pháp giáo dục tất yếu hiện đại
      1. Học trong hoạt động: học một hoạt động của con người, trong đó người học vừa chủ thể, vừa đối tượng tác động. Bởi vậy, cách học tốt nhất học trong hoạt động thông qua hành động. Do đó, người thầy phải có tổ chức tình huống để đưa học trò vào hoạt động, qua đó học trò kiến tạo được kiến thức, phát triển trí tuệ nhân cách.
 
 
      1. Học giải quyết chướng ngại nhận thức: Những quan niệm sai lầm thường tạo nên những trở lực cho người học trong quá trình nhận thức. thế, cần xác định, dạy học xây dựng cái mới trên nền cái cũ.
      2. Học trong tương tác: Th g qua sự tương tác giúp cho người học hiểu nắm vững hơn kiến thức. Th g qua thảo luận, tranh luận kiến thức đến với người học sẽ tự nhiên hơn, không áp đặt gượng ép.
      3. Học thông qua giải quyết các vấn đề: Khi những vấn đề được người học lưu tâm, thì họ tìm thấy được sự hứng thú nhu cầu để giải quyết. Chính sự đã tạo cho người học quyết tâm tìm tòi câu trả lời. Đây yếu tố tạo nên sự tích cực của hoạt động nhận thứcngười học.
  1. THUYẾT KIẾN TẠO TRONG GIÁO DỤC HIỆN ĐẠI
    1. Thuyết kiến tạo
thuyết kiến tạo còn được gọi thuyết của nhận thức. thuyết này vạch tiến trình cách thức tổ chức hoạt động học tập của người dạy người học.
      1. Ba bước của tiến trình dạy học
Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ; đây bước cần thiết giúp cho người học ý thức được nhiệm vụ học tập.
Bước 2: Hành động giải quyết vấn đề; đây bước giúp đỡ người học tham gia hoạt động để xây dựng kiến thức cho bản thân.
Bước 3: Tranh lun để tập hợp kiến thức và vn dụng kiến thức mới; các kiến thức của người học đưa ra khi chưa đầy đủ, chưa thật chính xác khoa học. vậy, người dạy cần tổ chức cho người học tranh luận, qua đó bổ sung, chỉnh lí hoàn chỉnh kiến thức người học cần thu nhận. Cuối cùng, người dạy tổ chức cho người học vận dụng kiến thức mới vào những tình huống tương tự.
      1. Vai trò hoạt động của người dạy
Ngày nay, đã tin tưởng vào nền giáo dục mới, nhưng chúng ta vẫn không quên chú trọng đến vai trò quan trọng của ông thầy. Tìm lại một niềm tin trải qua bao nhiêu thời đại chuyển biến sâu xa, một sự kiện đáng chú ý, đáng dùng làm điểm tựa: “Thầy giáo vẫn luôn luôn một nhà giáo dục. Chínhvậy người ta nên biết cơ cấu tâm tinh thần của nhà giáo dục trước hết: một hành vi hiểu biết, tình thương, thực hiện những giá trị tinh thần và sự chặt chẽ của những nguyên tắc phạm”2.
Cũng thế, trong Đo đức học Pht giáo của TT. Thích Giác Toàn cũng được đề cập: “Vị Tỳ kheo được mọi người gọi bằng thầy, bằng (Upàdhàya – Ô – lainhĩ, hay Satthar, Satthu), tức vị ấy lấy đạo dạy người: Do đó, một trong những trọng trách của vị Tỳ kheo phải giáo dục hàng tu sĩ. Vị Tỳ kheo phải cái đức giáo hóa… đó chính giới đức, tâm đức tuệ đức, phải một hình ảnh gương mẫu vậy”.
Bên cạnh đó, truyền thống giáo dục Phật giáo phương pháp giáo dục quán cơ, đt mi liên hệ mt thiết giữa thy và trò. Trong đó người thầy luôn luôn quan sát trực tiếp những hành vi, cử chỉ, học tập của học trò cách sống. Phong cách của ông thầy được biểu lộ bằng thân giáo, bằng lời nhằm khơi dậy nơi học trò sự thức tỉnh trong từng động tác.
Tạo không khí học tập
Tạo điều kiện để người học bộc lộ quan điểm riêng
Tổ chức cho người học tranh luận từ những quan điểm của họ Tạo điều kiện giúp người học nhận ra các quan niệm sai lầm
của họ để họ tự giác khắc phục chúng Trình bày tính cn tht các quan đim.
2.2. Quan điểm luận về thuyết kiến tạo
Phương pháp này, chúng ta thấy rất trong giáo dục “khế lí, khế cơ” của Đức Phật từ thế kỷ VI trước Tây lịch. Bằng rất nhiều ngôn dụ, Đức Phật nêu quan điểm của Ngài về tầm quan trọng của sự




2. Lê Thanh Hoàng DânTrần Hữu Đức, Triết lý giáo dục, Nxb. Trẻ, 1971, p. 177.
 

phát huy nhân trong việc tu tập chứng ngộ tự thân: “Hãy tự thắp đuốc lên mà đi, “y là hải đo nương tựa cho chính mình, Ta là Pht đã tnh, các ngươi là Pht sẽ tnhTphương pp của Đức Phật không một ai bị đánh cắp hay tự đánh mất đi khả năng thực nghiệm hay chứng ngộ của mình.
Các nhà giáo dục hiện đại nhận thấy,thuyết này được Socrate (470-399, thế kỷ V trước Tây lịch) vận dụng phương pháp của ông bao hàm trong chân ngôn “Hãy tự biết lấy chính mình” (connais toi toi-même). Ông thể dạy học trò bất cứ mọi nơi, mọi lúc. Nơi nào ông cũng thể biến thành trường học. một câu nói chỉ có thể là Socrate chkng ai khác nói ra: Tôi là người đỡ đẻ cho nhng bộ óc.
Jean Piaget (1896-1980), Nhà Tâmgiáo dục, nhà triết học người Thụy Sĩ, nổi tiếng về những nghiên cứu nhận thức luận về phương pp giáo dục. Trung m tư tưởng trong công trình khoa học của J. Piaget bao hàmtác phẩm làm nên tên tuổi của ông “Sự hình thành biểu tượngtrẻ nhỏ” lập luận rằng: Con người trong quá trình khám phá thế giới, nó tự mình tạo nên kiến thức, tự mình tạo nên thế giới của mình. Giáo dục chỉ sự giúp đỡ để con người thể tự học, tự khai sáng cho mình.
Hay với Martin Heidegger (1889-1976), quan điểm: “Khác với tt cả Vt tồn tại khác, con người tồn tại theo phương thức tự hiểu ra, tự giác ngộ được sự tồn tại của mình nhận thức được ý nghĩa cũng như giá trị của sự tồn tại của mình từ đó nhận thức được ý nghĩa tồn tại của thế giới bên ngoài. Với phương pp lun này, chúng ta thấy hơn về nhận định của Einstein: “ý tưởng quan trng hơn tri thc.
Như vậy, người dạy người học phải vượt lên trên quan niệm kiến thức những điều để nhớ, kiến thức kết quả của hoạt động kiến tạo chỉ hình thành khi người học tích cực chủ động lấy việc học của mình.
Cần loại bỏ lối áp đặt truyền thụ một chiều như kiểu nhồi 
nhét. Người học sẽ được học nhiều hơn khi họ được hấp dẫn bởi những kiến thức họ đang tìm kiếm trong học tập kiến tạo. Học tập quá trình tìm kiếm cách thức thử thách khẳng định bản thân.
Điều cần thiết phải làm sao để người học luôn phải vật lộn với những vấn đề họ bắt gặp trong quá trình khám phá tri thức. Giúp họ chỉ khi họ cần sự giúp đỡ. Người dạy chỉ nên định hướng việc làm, không ép họ làm theo ý của mình. Lớp học không còn nơi thầy “đồ” theo nhịp thước. Có khi người thy trthành người học trò.
đây, người học sẽ phải hoạt động liên tục để tìm hiểu “cái chưa biết. Srt căng thẳng và mt mi đi với người học. Trong vai trò cvn, người dy phải biết sp xếp, nhc nhở, động viên, giúp đỡ cho người học phát triển một cách phù hợp. đặc biệt, người dạy phải xây dựng hệ thống các vấn đề câu hỏi trong dạy học.
  1. PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC CỦA ĐỨC PHẬT LIÊN HỆ THUYẾT KIẾN TẠO
Đức Phật, trong công cuộc giáo hóa, thường sử dụng phương pháp thực tiễn khế một cách nhuần nhuyễn, được rút ra từ nếp sống hằng ngày. Đức Phật không áp đặt tri thức, không đánh cắp năng lực tự thân biến người được giáo dục thành kẻ đánh mất đi sự tự chủ. Phương thức giáo dục của Đức Phật mang tính đại chúng tự chủ rất rõ.
    1. Dạy học bằng phương pháp hoạt động
Đức Phật dạy người phụ nữ bồng đứa con đã chết đến cầu xin Ngài cứu vớt. Đức Phật hướng người phụ nữ này đến giác ngộ bằng hoạt động kêu đi tìm tro (hạt cải)nhà nào chưa từng người chết về để cứu đứa bé. không thể tìm thấy đâu ra được những thứ Đức Phật yêu cầu. Cuối cùng, hoạt động ấy đã khai tâm cho người phụ nữ được sự giác ngộ về thường. Đức Phật từng se chỉ, luồn kim giúp cho vị Tỷ Kheo lòa, hay giúp gội rửa những ô uế trên thân thể của vị Tỷ Kheo mắc bệnh ghẻ lở giúp cho họ tự ngộ được pháp hỷ của tình thương yêu, lòng từ bi hạn.
    1. Dạy học giải quyết trở ngại nhận thức
Trong kinh Tương Ưng Bộ I, khi Bà la môn hào phú Bharadvàja
 

chia phần cơm cho nông dân, ông nhìn thấy Đức Phật cũng mặt trong số những người nông dân đang đợi chia phần. Ông nói với Đức Phật như sau: Tôi cày gieo rồi, sau khi xong việc tôi mới ăn. Này Sa môn Đàm, Ngài cũng phải cày gieo rồi sau đó mới được nhận phần cơm”. la môn Bharadvàja nói.
-“Này la môn Bharadvàja, ta cũng cày gieo rồi ta mới ăn”.
Đức Phật khẳng định.
-“Chúng tôi không thấy Đạo Gotama dùng cái ách hay cái cày, sao Ngài lại bảo như thế?” la môn Bharadvàja lại hỏi.
-“Ta gieo hạt giống chính kiến, cây cày trí tuệ, tinh tấn đôi kéo cày, thành quả lao động của ta trạng thái bất tử. Bất cứ ai làm xong việc ấy sẽ được giải thoát khổ đau”. Đức Phật giải thích.
Những cỏ dại trong quan niệm sai lầm trong nhận thức Bharad- vàja được nhổ sạch bằng những lập luận thuyết phục Đức Phật nêu ra. Ngài đã gieo vào tâm vị ấy những hạt giống tỉnh ngộ, niềm tin được xây dựng.
    1. Dạy học bằng phương pháp liên tưởng
lần Đức Phật những đệ tử nhìn thấy một mảnh giấytrên mặt đất. Phật bảo vị đệ tử nhặt mảnh giấy ấy hỏi vị ấy đó loại giy dùng để làm gì. Vị đệ tử thưa: “Bạch đức Thế Tôn, đây là giy dùng để gói đàn hương. Đức Pht hi: Sao ông biết?” Vị đệ tử thưa: “Bạch đức Thế Tôn ‘Tuy bây giờ nó không gói đàn hương, nhưng vn còn thơm hương chiên đàn. Pht và đệ tử tiếp tục đi vphía trước, thấy trên đất một sợi dây. Đức Phật bảo đệ tử nhặt sợi dây lên, Phật hỏi: “Sợi dây ấy đã dùng để làm gì?” Vị đệ tử thưa:Bạch Thế Tôn Sợi dây này đã dùng để buộc cá. Đức Pht hi: “Sao ông biết”? Vị đệ tử thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Bây giờ tuy không buộc cá, nhưng vẫn còn tanh mùi cá.Đức Thế tôn dạy đệ tử rằng: “Này các đệ tử! Hai vật này vốn sạch sẽ tinh khiết, do gặp ngoại duyên không giống nhau, cho nên mùi vị cũng thay đổi khác nhau. Một người bình thường cũng vậy, gần gũi bạn hiền đức tài giỏi, lâu dần sẽ học được điều tốt. Ngược lại thân cận bạn xấu ác, lâu dần cũng sẽ ảnh hưởng tính nết xu. (Kinh Pp Cú thí d).
Hay trong kinh Giáo giới La Hầu La, Đức Phật dùng chậu nước sạch rửa chân rồi mới hỏi La Hầu La, chậu nước này thể uống được không. La Hầu La thưa với Đức Phật rằng chậu nước ấy không thể uống được. Đức Phật từ đó dạy La Hầu La, nếu tâm thức con trong sáng tốt đẹp thì con người mới giá trị, còn tâm thức con xấu xa bất thiện thì con không giá trị cả.
Trong kinh Lăng Nghiêm có đề cp đến chuyn Đức Pht giữa đại chúng đưa chiếc khăn Kiếp ba la rồi hỏi đại chúng đó vật gì? Khi đại chúng trả lời đó khăn Kiếp ba la. Đức Phật liền gút chiếc khăn đó thành nhiều gút. Đức Phật lại hỏi đây còn chiếc khăn không? Đại chúng trả lời chiếc khăn đó không thể sử dụng với chức năng của nó nữa. Đểtrở lại đúng với giá trị của nó thì cần phải tháo gút đó ra, chỉ ai gút thì người đó biết cách tháo gút nào trước gút nào sau. Từ đó Đức Phật liên hệ đến thực tế con người hữu dụng con người dụng. thể giải quyết con người trở về với giá trị tu tập, đó chỉ thể ở tự thân mỗi người.
    1. Dạy học bằng phương pháp đặt vấn đề
Trong hệ thống kinh đin Pht giáo, nhng câu hi mà Đức Pht đặt ra cho đối tượng để đối thoại tranh luận để giải quyết điều không thể thiếu.
Trong kinh Lăng Nghiêm với cuộc đi thoại giữa Đức Pht và Ananda với rất nhiều thắc mắc của cả hai thầy trò được đặt ra cho những vấn đề cần được giải quyết: Phật hỏi đại đức Ananda: Như thầy vừa nói, thân thầytrong giảng đường, do các cửa mở rộng thầy thấy được cảnh vườn rừngbên ngoài; vậy liệu có người nàotrong giảng đường này, không thấy Như Lai thấy cảnh trí bên ngoài giảng đường chăng? Đại đức Ananda thưa: Bạch đức Thế Tôn!trong giảng đường không thấy đức Thế Tôn lại thấy cảnh trí bên ngoài, chuyện đó không thểđược.
Trong kinh Kim Cang có rt nhiu câu hi Đức Pht đt cho T
Bồ Đề: Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? thể do nơi thân tướng thấy Như Lai chăng? Bch đc Thế Tôn! Không thdo nơi thân tướng mà thấy Như Lai. Bởi sao? đức Như Lai nói thân tướng đó chẳng phải thân tướng. Đức Phật bảo ông Tu Bồ Đề: “Phàm hễ tướng đều vọng cả! Nếu nhận thấy các tướng đều không phải tướng, chính thấy Như Lai”.
Trong kinh Tứ Thp NhChương Đức Pht hi một vSa môn: Sinh mạng của con người tồn tại bao lâu?” Đáp rằng: “Trong vài ngày”. Phật nói: “Ông chưa hiểu đạo”. Đức Phật hỏi một vị Sa môn khác: Sinh mạng của con người tồn tại bao lâu?” Đáp: “Khoảng một bữa ăn”. Phật nói: “Ông chưa hiểu đạo”. Đức Phật lại hỏi một vị Sa môn khác: “Sinh mạng của con người tồn tại bao lâu?” Đáp: “Khoảng một hơi thở”. Phật khen: “Hay lắm! Ông người hiểu đạo”.
Ngoài ra, trong kinh Tng Nikaya, chúng ta cũng thy phương pháp này Đức Phật cũng vận dụng một cách xuyên suốt…
Đây số ít trong rất nhiều phương pháp Đức Phật đã vận dụng trong cuộc đời giáo dục của Ngài vẫn còn rất giá trị phù hợp với giáo dục Phật giáo hôm nay. Từ sở những phương pháp giáo dục của Đức Phật, thể vận dụng thêm những phương thức của thuyết kiến tạo trong giáo dục hiện đại cho giáo dục tuổi trẻ phù hợp hơn với hoàn cảnh thực tại.
KẾT LUẬN
Cứ mỗi một giai đoạn lịch sử qua đi một khám phá, một tìm tòi mới, Phật học Việt Namnền giáo dục Phật giáo lại dấn thêm một bước mới, một cải tiến mới, cải tiến mãi không ngừng. Nhưng việc cải tiến ấy không chỉ riêng về phương pháp còn chỉ chung cho mọi phương diện liên quan đến giáo dục phạm. Hơn thế nữa, vấn đề cải tiến, cải tạo, kiến tạo giáo dục Phật học tại Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh phải được định hướng trên nền giáo dục Phật giáo Việt Nam. Nghĩa qua những điều kiện, bối cảnh của lịch sử, địa lý, phong tục… của nước nhà giáo dục Phật giáo tìm hiểu chọn lọc những phương hướng giáo dục thích nghi phát triển. 
Như vậy, vấn đề khoa học Phật học đã được đặt lên hàng đầu, qua đóđặt trọn niềm tin ở lớp kế thừa. Tuy nhiên, điều các nhàphạm, các bậc lãnh đạo quan tâm nhất vấn đề “Giới - Định - Tuệ” cho Tăng-Ni sinh, cho thế hệ trẻ đa tài. đó những người đang trong giai đoạn trau dồi học vấn tu hành.
Phật học Việt Nam thời hiện đại rất giá trị trong việc giáo dục tự thân cũng nhiều gợi ý cho một đường hướng giáo dục giải quyết những khủng hoảng, vướng mắc của mỗi cá nhân,vậy cần những nhànghiên cứu tìm tòi chuyên sâu, triển khai rộng rãi trong toàn hội đồng thời áp dụng một cách hiệu quả.

***


Tài liệu tham khảo
I. Kinh điển
Kinh Giới Phân Bit (Trung Bộ Kinh III), Kinh Phân Bit Giới (Trung A-m, số 162) và Kinh Phân Bit Lục X(Trung A-hàm, số 163).
HT. Thích Minh Châu (dịch), Kinh Tương Ưng Bộ, tập II, Nxb. Tôn giáo, 2000.
HT. Thích Minh Châu (dịch), Kinh Tương Ưng Bộ, tập IV, Nxb. Tôn giáo, 2001.
Kinh Lăng Nghiêm Kinh Di Đà
Kinh Tứ Thập Nhị Chương Kinh Pháp Thí Dụ Kinh Tương Ưng Bộ
Kinh Kim Cang
Sách nghiên cứu
Nguyễn Thanh Hải, Thuyết kiến tạo vàdyhcda trên thuyết kiến tạo.
HT. Thích Giác Toàn, Giáo dục Pht go, Tài liu giáo khoa phục vụ chương trình ging dy lớp Cao đng Pht học TP.HCM, 2007.
Nhiều tác giả, Giáo dục Phật giáo trong thời hiện đại, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 2001.
PGS. TS. Phạm Lan Hương, Giáo dục quốc tế, Nxb. Đại học Quốc gia, 2006.
HT. Thích Minh Châu, Chánh pháp hạnh phúc, Thành Hội Phật giáo TP.HCM, n nh 1996.
HT. Thích Chơn Thiện, Phthckháiluận, Nxb. Tng hợp TP.HCM, 2006.



HT. Thích Thiện Siêu (dịch), Lời Phật dạy, Nxb. Tôn giáo, 2000. Trần Văn Thế, thuyết phạm, Nxb. Bộ Văn hóa Giáo dục.
Jonh Dewey - Phạm Anh Tuấn, Kinh nghiệm giáo dục, 2012.
Giáo dục cổ truyền giáo dục hiện đại (Tài liệu của tác giả Nguyễn Knh Trung – Pháp quốc).
Mai Thanh Thế, Giáo dục giáo dục Phật giáo: Bản chất giá trị, Viện Tâmhọc.
Uyên Uyên, “Nghề giáo dục, o Sài Gòn Giải png, ra ngày 10/01/2001.
Các trang tin điện tử: www.daophatngaynay.com www.thuvienhoasen.com www.daitangkinhvietnam.com www.giacngo.vn

ThS. SC. Thích Nữ Viên Hiếu

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây