3. Triết học giáo dục Phật giáo - Phương pháp, nội dung và vai trò - TS.TT. Thích Nhật Từ

Thứ sáu - 06/12/2019 09:27
TRIẾT HỌC GIÁO DỤC PHẬT GIÁO: PHƯƠNG PHÁP, NỘI DUNG VÀ VAI TRÒ

TS.TT. Thích Nhật Từ

 
  1. KHÁI NIỆM “TRIẾT HỌC GIÁO DỤC PHẬT GIÁO”
Triết học giáo dục Pht giáo (Buddhist Philosophy of education) một lĩnh vực của triết học Phật giáo ứng dụng (applied Buddhism) nhằm phân tích các vấn đề thuộc về bản chất mục đích của giáo dục Phật giáo cũng như những vấn đề triết học phát sinh từ lý thuyết thực hành giáo dục Phật giáo trong thực tiễn.
Các chủ đề của triết học giáo dục Phật giáo rất rộng, bao gồm triết học hội, triết học tâm, nhận thức luận, bản chất của sự giảng dycógiátrnhậnthức, đcđimvàchtlượnggiáodục(educational quality), chính sách giáo dục (educational policies), chương trình giáo dục tiêu chuẩn hóa (standardized curricula), các chiều kích hội, kinh tế, pháp đạo đức của giáo dục (the social, economic, legal and moral dimensions of education) Phật giáo.
Nếu lịch sử triết học giáo dục của phương Tây bắt nguồn từ 
Socrates1  phát triển mạnh từ thời của John Locke2 thì triết học giáo dục Phật giáo nguồn gốc từ 9 thể loại kinh điển trong Phật giáo Nguyên thủy hoặc 12 thể loại kinh điển trong Phật giáo Đại thừa. Nền triết học giáo dục phương Tây tập trung các tranh biện về bản chất của giáo dục qua các học thuyết như phân tích tâm(psycho-analysis), thuyết hiện sinh (existentialism), thuyết hiện tượng (phenomenology), thuyết thực chứng (positivism), thuyết hậu hiện đại (post-modernism), thuyết tự do mới (neo-liberalism) mấy thập niên trở lại đây triết học phân tích (analytic philosophy),3 đang khi, triết học giáo dục Phật giáo nhấn mạnh đến tính thực tiễn (pragmatism) trong việc kết thúc các nỗi khổ, niềm đau, trải nghiệm an vui, hạnh phúc trong đời.
Triết học giáo dục hin đại tho lun các học thuyết dy (teaching) học (learning), kiến thức, chân học, giáo dục tiêu chun sng, động cơ và qun trị lớp học, và giáo dục ngh. Triết học giáo dục Phật giáo nhấn mạnh đến mục đích nhận thức của giáo dục (epistemic aims of education), giáo dục tự do (liberal education) khỏi các trói buộc tâm, tư duy luận chân lý, giáo dục các giá trị (values education), thiền định, trí tuệ, giác ngộ giải thoát.
Về mục đích nhận thức luận (epistemic aims), theo Phật giáo, “chân lý” (sacca) mục đích quan trọng nhất của giáo dục, theo đó, con người cần nỗ lực giải phóng tâm khỏi các trói buộc (cetovimutti, tâm giải thoát). Đức Phật cho rằng giải thoát đích thực phải được thực hiện bằng trí tuệ (paññāvimuti, tuệ giải thoát). Nói cách khác, chân trí tuệ mục đích nhận thức nền tảng nhất của giáo dục (the fundamental epistemic aim of education).
Triết học giáo dục có liên hệ đến các học thuyết đo đức, triết học chính trị - hội, triết học luật, nhằm hướng đến các biện pháp 
thích hợp về đạo đức, hội chính trị về giáo dục, các đánh giá đo đức vphương pp và hiu quả của giáo dục. Triết học giáo dục Phật giáo đề cập chính yếu đến bản chất, mục đích các phương tiện giáo dục con người, nhằm giúp con người đạt được 3 hoàn thiện (tisikkhā) về trí tuệ (paññā), đạo đức (sīla) thiền định (adhicitta, vô thượng tâm). Triết học giáo dục Pht giáo kng nhấn mạnh về cấu trúc của kiến thức, ngược lại, phân tích sâu về tâm của người học, bản chất của sự học, động lực, sự thành tựu tri thức hiểu biết như kết quả tất yếu của giáo dục Phật học.
  1. BỐN PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY CĂN BẢN CỦA ĐỨC PHẬT
Dựa vào các phương pháp giáo dục căn bản trong giáo dục học hiện đại, tôi trình bày tóm tắt các phương pháp giáo dục được đức Phật sử dụng phù hợp với từng căn tính (Carita, cariyā) của người thành phần nghe chân lý. Chẳng những không mâu thuẫn trong việc sử dụng các phương pháp giáo dục khác nhau, đức Phật cho chúng ta thấy rằng việc giảng dạy chân đạo đức với nhiều phương pháp khác nhau nhưng phù hợp với người nghe sẽ giúp người học/ nghe đạt được sự giác ngộ, sống hạnh phúc trong đời.
    1. Phương pháp người dạy trọng tâm (teacher/ instructor centred method)
Đây phương pháp giảng dạy, theo đó, người giảng dạy (teacher) hay người hướng dẫn (instructor) đóng vai bậc thầy chuyên môn về một lãnh vực (a master of the subject matter), tiếng nói thẩm quyền (authority). Người học sẽ vào vai người nghe để đón nhận nguồn tri thức chân chính được truyền đạt khéo léo từ người thầy.
Trong nhiu pp hi được đức Pht thuyết ging suốt 45 m, với vai trò đng pp vương, vua của cn lý, đức Pht là bậc siêu chuyên gia về các lãnh vực chân(dhamma) đạo đức (vinaya), người mở đường giác ngộ cánh cửa bất tử cho chúng sinh, đã truyền chân lý một cách không mệt mỏi, để lại cho đời mấy vạn bài kinh sâu sắc, khả năng giải quyết các nỗi khổ niềm đau.
Nếu trong giáo dục thế học, phương pháp người dạy trọng
 

tâm được xem “phương pháp giảng bài” (lecture method), không chỗ cho người học dự phần trong tiến trình giảng dạy, thì ngược lại, phương pháp này phát huy vai trò “đạo sư” (satt) của đức Phật, theo đó, đức Phật người chỉ đường (satt) chân lý, theo sau ngài, các đệ tử thánh đệ tử tại gia cùng đồng hành trên con đường giác ngộ (bodhi magga).
đây, người học (sekkha) cần phải hoàn thành ba nội dung học thánh (tisikkhā)4 gồm học đạo đức cao cấp (adhisīla sikkhā), học thiền định cao cấp (adhicitta sikkhā) học trí tuệ siêu việt (adhipaññā sikkhā), hướng đến sự đạt được tri kiến thanh tịnh, giác ngộ, giải thoát.
Thực tập tâm linh về bản chất sự tham dự ngôn (non-verbal participation) của các đệ tử, gồm đệ tử thánh đệ tử tại gia trong tiến trình giáo dục giác ngộ của đức Phật, theo đó, người học sẽ chứng đắc quả thánh nhân siêu việt (lokuttaraphala).5
    1. Phương pháp người học trọng tâm (learner-centred method)
Trong phương pp người học là trng m thì người dy là nguồn tài nguyên tri thức hơn một thẩm quyền chân lý đối với người học. Trong Pht giáo, đi với nhng tình huống giáo dục châncần người nghe tham gia tích cực để được tỉnh thức, đức Pht chọn phương pp người học là trng m.
Người học ở đây được gọi “bậc hữu học” (Sekkha)6 tức còn nhu cầu tu học về trí tuệ, đạo đức thiền định để chứng đắc các thánh vị, thánh quả gồm đạo, quả, Nhị đạo, Nhị quả, Tam đạo, Tam quả Tứ đạo, Tứ quả. Cụ thể hơn, bậc hữu học phải tiếp tục học tập để lần lượt chứng các quả  thánh  gồm  Tu-đà- hoàn (Sotāpattiphala), Tư-đà-hàm (Sakadāgāmiphala), A-na-hàm (Anāgāmiphala)bậc A-la-hán đạo (Arahattaphala).7


4. D. III.220; A. I.229.
5. D. III.227, Vbh. 335.
6. A.I.62.
7. Xem chi tiết, Thích Nhật Từ, “Thánh nhân trong kinh điển Pali” tại đây: http://www. buddhismtoday.com/viet/phatphap/097-tnt-thanhnhan.htm
 

Học trí tuệ để hiểu thẩm thấu hai loại chân 8 gồm chân tương đối (sammatisacca, tục đế) vốn các sự thật quy luật theo quy ước chân tuyệt đối (paramatthasacca, chân đế) chính sự thật theo bản thể, vốn pháp tính của mọi sự vật hiện tượng trong trụ.
ngcnhkhác, theo Phtgiáo, ngườihọccnsiêngnghọctt cả lời Phật dạy (sāsana)9 gồm: (i) Chân trong pháp học (Pariyatti sāsana) bao hàm chín thể tài văn học Phật giáo, (ii) Chântrong pháp hành (Paipatti sāsana) gồm giữ gìn giới hạnh thanh cao, làm chủ các giác quan, tiết độ trong ăn uống, sống chánh niệm, tỉnh thức thực tập ba mươi bảy yếu tố giác ngộ (Bodhipakkhiyadhamma)10  (iii) Pháp thành (Paivedha) gồm có: (a) Sự thực hành chân chánh (sammā paipatti), (b) Sự thực hành thuận (anuloma paipadā), c) Sự thực hành bất nghịch (apaccanīka paṭipadā), d) Sự thực hành tùy mục đích (anvattha paipadā) (e) Sự thực hành pháp trình tự (dhammānudhamma paipadā).
    1. Phương pháp nhấn mạnh nội dung (content-focused method)
Với phương pháp nhấn mạnh nội dung, cả người dạy người học đều tập trung vào nội dung được giảng dạy (fit into the content taught), tức cách học theo chương trình đã được lên kế hoạch (the programmed learning approach) nhằm giúp người học đạt được kết quả hay nguồn tri thức trong từng buổi học với từng chủ đề học cụ thể.
Với 34 bài Kinh Trường bộ, đức Phật truyền đạt kinh nghiệm đối thoại liên tôn giáo liên triết học, nhằm giúp người khác đạo hiểu sâu đạo Phật trở thành Phật tử tự nguyện. Với 152 bài Kinh Trung bộ, đức Phật trình bày toàn bộ con đường tỉnh thức của ngài gồm thế giới quan, nhân sinh quan, hội quan, chính trị quan, đạo đức


8. Ā. I.95; Kvu A.34
9. Nd 1. 143.
10. Vbh. 249: Gồm Tứ niệm xứ (Satipaṭṭhāna), Tứ chánh cần (Sammappadhāna), Tứ như ý túc (Iddhipāda), Ngũ quyền (Indriya), Ngũ lực (Bala), Thất giác chi (Bojjhaga), Bát chi đạo (Ariyamagga).
 

quan, tu tập quan và giải thoát quan. Với Kinh Tăng chi, đức Pht nhấn mạnh cách dạy các chủ đề chântheo con số từ 1-11. Với Kinh Tương ương, đức Phật phân tích chuyên sâu nội dung nhân duyên, 12 mắt xích sự sống, 5 uẩn, ngã, thường. Với Kinh Tiểu bộ, đức Phật giải thích chân lý của ngài qua 15 chuyên đề với nội dung rất phong phú khai sáng.
Trong suốt 45 m truyn bá cn lý, đức Pht luôn sử dụng phương pháp dạy nhấn mạnh nội dung. Chẳng hạn, khi giảng dạy về thiền, đức Phật giải thích bốn cảnh giới thiền sắc giới (Rūpajhāna) người tu thiền cần thực tập đạt được. Đức Phật không giảng rộng qua các nội dung khác. Người học với đức Phật sẽ tập trung vào các cảnh giới thiền, tu thiền đạt được thành quả thiền11 như dưới đây.
Với thiền (Pahama jhāna), người tu thiền phải nương vào 5 yếu tố thiền gồm gán tâm trên thiền (tầm), an trú tâm trên thiền (tứ), hoan hỷ, an lạc định. thiền kết quả tất yếu của quá trình chuyn hóa ái dục (kama) nên được gi là hlc do ly dục sanh.
Với Nhị thiền (Dutiya jhāna), hành giả chỉ cần tập trung ba nội dung hoan hỷ, an lạc định, không cần nương vào tầm tứ như phương tiện an trụ tâm nữa. Nội dung căn bản của cấp thiền thứ hai là hlc do định sanh, nhấn mạnh san trú m vào định.
Với Tam thin (Tatiya jhāna), nh giả chỉ cn tập trung hai ni dung an lạcđịnh, về bản chất, đâytrạng thái thiền “diệu lạc” do không chấp vào cảnh giới hỷ lạc trong hai tầng thiền trước.
Với Tứ thiền (Catuttha jhāna), hành giả tập trung vào nội dung “xả niệm” để buông thư tâm một cáh tuyệt đối, giúp tâm được thanh tịnh trọn vẹn. Thực chất, “xả niệm” loại định cao cấp. Do đó, muốn đạt định tâm, người tu thiền phải buông xả các cảm xúc, ý niệm, thái độ hóa.
Việc đức Phật giảng dạy chânnhấn mạnh nội dung khả


11. M. I.40.
 

năng dẫn dắt người nghe thành tựu mục đích tu học từng phần, phù hợp với hình giáo dục nội dung trong hệ thống Đại học ngày nay.
    1. Phương pháp dạy tương tác (Interactive method)
Còn gọi phương pháp tham dự (participative method), phương pháp dạy tương tác đề cao sự tham dự của người dạy người học, theo đó, người dạy hướng dẫn k năng đặt vấn đề phản biện, trong khi người học phải đề cao tinh thần tự học, không xem kiến thức của người dạy hệ quy chiếu chân lý.
Trong phương pp dy tương tác của đức Pht, người thy là người dẫn đường chân lý, giúp mọi người được tỉnh thức, trong khi người học đạo tương tác với sự hướng dẫn của đức Phật để khai mở tuệ giác. Trong cách thức dy tương tác này, ngoài vic giải thích chântrong từng chủ đề cụ thể, đức Phật đưa ra các câu hỏi trực tiếp vào nội dung, việc trả lời sẽ giúp cho người học Phật hiểu đạt ngộ chân lý. Nói cách khác, theo đức Phật, phương pháp dạy tương tác phương pháp giáo dục sáng tạo khai phóng.
dụ, trong Kinh ngã tướng,12 khi phân tích thân thể được cấu tạo bởi các tổ hợp đất, nước, lửa, gió nên bị thường chi phối, đức Phật muốn người học đạt được “trí tuệ phổ cập tướng” (sammasanañāa) đối với sắc thân. Để tạo ra sự tương tác trong dạy học về chủ đề này, đức Phật hỏi “Cái thường khổ hay vui?” Bằng kinh nghiệm thực tiễn, người học/ nghe sẽ trả lời: “Bạch Thế Tôn, cái gì vô thường sẽ đem đến khổ đau.
Để giải quyết khổ đau trong thường, đức Phật dạy đề cao trí tuệ biết thực trạng thường khổ tướng để vượt qua: “Này các đệ tử, cái thường mang đến khổ đau, nên chấp ta, sở hữu của ta tự ngã của ta?” Người học chắc chắn sẽ trả lời: “Bạch Thế Tôn, để vượt khổ đau trong vô thường, kng nên chấp dính thân thể, cảm giác, tri giác, tâm tư, nhận thức” theo công thức: “Cái này không phải tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã


12. Xem bản dịch của Thích Nhật Từ trong Kinh Phật cho người tại gia, NXB. Hồng Đức, 2013.
 

của tôi.13 Do đó, quán phi ngã tưởng (Anatt  saññā) là cách dy tương tác nhằm giúp cho người học Phật vượt qua mọi chấp thủ khổ đau.
  1. ĐỨC PHẬT DẠY CHÂN QUA 12 THỂ LOẠI KINH
Ngoài bốn phương pháp dạy chân đạo đức căn bản nêu trên, trong Văn học Phật giáo Pali Agama tương đương, đức Phật giới thiệu 9 thể tài kinh,14 hay chín phần giáoPhật (Navaṅgasatthu sāsana), trong khi trong Kinh điển Đại thừa, đức Phật giới thiệu 12 thể loại kinh (dvādaśa-anga, dvādaśāga-buddha-vacana, 十二 部經).15 Các thể loại kinh điển Phật giáo tương thích với bốn cách giảng dạy của đức Phật như nêu trên.
Mườihaithloikinhcòngilàmườihaiphầngiáo(S. dvādaśāṅ- ga-dharma-pravacana, 十二分教) hoặc Tam thừa thập nhị bộ phần giáo” (三乘十二部分教) các thể tài kinh điển quan trọng, theo đó, hơn 17.500 bài kinh Pali, khoảng 17.000 bài kinh A-hàm tương đương hàng trăm bài kinh Đại thừa dựa vào để phát triển thành nền văn học đề cao vai trò của trí tuệ trong việc giải quyết các nỗi khổ niềm đau. Mười hai thể loại kinh bao gồm như sau:
  1. Khế kinh (S. sutra, P. Sutta, 契經), còn gọi tu-đa-la (修 多羅) hay chánh kinh, hoặc gọn kinh () chỉ chung những bài kinh bằng văn xuôi, phần lớn giải thích (Niddesa) phân tích (Vibhaga). Trong kinh tạng Pali thì Kinh Trường bvà Kinh Trung bộ thuộc khế kinh.
  2. Trùng tụng (S. geya, P. geyya, 重頌), phiên âm là Kì-d(祇 夜), còn gọi Ứng tụng (應頌) gồm những bài kinh với hai thể loại văn xuôi kệ ngôn (Sagāthā) thuộc Kinh Tương ưng bộ.
  3. Thọ (S. vyākaraa, P. Veyyākaraa, 受記), phiên âm Hoa-già-la-na (華遮羅那), tương đương khái niệm “Ký thuyết” trong văn học Pali. Nếu trong Đại thừa, văn học Thọ gồm những lời Phật xác quyết về các Bồ-tát sẽ thành Phật trong tương lai thì


13. M. III. 240.
14. Vin.III.8; M.I.133; A.I.5; A.III.86.
15. 佛光大辭典 (Phật Quang Đại Từ điển). Taipei: Fo-kuang ch’u-pan-she, 1988.
 

trong văn học Pali, thuyết thể loại văn xuôi với hệ thống luận lý vững chắc, như tạng Vi diệu pháp (Abhidhamma).
  1. Phúng tụng (S=P. gāthā, 諷頌), phiên âm là k-đà (偈陀), còn gọi chú (記註) hay kệ ngôn gồm những bài kinh được Phật dạy theo thể loại văn vần, tức kệ ngôn,kệ, về bản chất độc lp với bài kinh văn xuôi. Trong văn học Pali, các tập Trưởng o Tăng k(Theragāthā), Trưởng o Ni k(Therīgāthā), Kinh Pp (Dhammapada), một số kệ ngôn trong Kinh tập (Suttanipāta) thuộc văn học phúng tụng này.
  2. Vô vn tự thuyết (S=P. udāna, 無問自說) phiên âm là Ưu-đà- na (憂陀那), còn gọi Tán thán kinh (讚歎經) hay Cảm hứng ngữ (Una). Trong kinh tạng Pali, Una gồm 82 bài kệ được đức Pht tự hoan hỷ thuyết giảng, không do ai thỉnh pháp.
  3. Quảng thuyết (nidāna, 廣說), phiên âm Ni-đà-na (尼陀 ), còn gọi nhân duyên (因緣) gồm các bài kinh nói rộng về nhân duyên Phật thuyết pháp người nghe pháp. Không tương đương trong văn học Pali.
  4. Thí dụ (avadana, 譬喻), phiên âm A-ba-đà-na (阿波 陀那), còn gọi Diễn thuyết giải ngộ kinh (演說解悟經) gồm các bài chưa chứa đựng nhiều ẩn dụ ngụ ngôn. Không tương đương trong văn học Pali.
  5. Bản sự (S. itivṛttaka, P. Itivuttaka, 本事經) phiên âm Y-đế-mục-đa-già (醫帝目多伽), còn gọi như thị pháp hiện ( 是法現) gồm các bài kinh nói về chuyện đời trước của các Bồ-tát thánh hiền. Tương đương với Như thị thuyết (Itivuttaka) trong văn học Pali gồm 110 bài kinh trong Tiểu bộ kinh.
  6. Bn sanh (S=P. jātaka, 本生經), phiên âm là Xà-đà-già ( 闍陀伽). Trong văn học Pali, Kinh bn sanh gồm 550 bài kinh vchuyện tiền thân của đức Phật.
  7. Phương quảng (S. vaipulya, P. vedalla, 方廣), phiên âm
Tì-phật-lược (毗佛略), còn gọi Phương đẳng (方等) hay Quảng
 

đại kinh (廣大經). Trong văn học Đại tha, Phương Qung gồm các bài kinh giới thiệu triết lý cao siêu, trong khi trong văn học Pali, Phương Quảng (Vedalla) gồm những bài kinh thể loại vấn đáp.
  1. Vị tằng hữu (S. adbhutadharma, P. abbhūtadhamma, 未曾 有), phiên âm A-phù-đà đạt-ma (阿浮陀達磨希法), còn gọi hy pháp (希法) gồm các bài kinh nói về oai lực, cảnh giới đặc biệt của Phật Bồ-tát, những điều lạ lùng, khó xảy ra nhưng thật.
  2. Luận nghị (upadeśa, 論議), phiên âm Ưu-ba-đề-xá, (優 波提舍), còn gọi Cận sự thỉnh vấn kinh (近事請問經) gồm các bài kinh sự thỉnh giáo, đức Phật nhân đó giải thích chi tiết, ràng. Không tương đương trong văn học Pali.
Phối hợp 4 cách giảng dạy chính của đức Phật 12 thể tài kinh điển Phật giáo thì phương pháp dạy nhấn mạnh người dạy chỉ thể loại Bn sanh (S=P. jātaka, 本生經, vị trí 9) đang khi phương pháp dạy nhấn mạnh người học gồm Thọ (S. vyākaraa, P. Veyyākaraa, 受記, vị trí 3), Vô vn tự thuyết (S=P. udāna, 無問 自說, vị trí 5), Quảng thuyết (nidāna, 廣說, vị trí 6) Bản sự (S. itivṛttaka, P. Itivuttaka, 本事經, vị trí 8).
Phương pháp dạy nhấn mạnh chủ đề gồm Khế kinh (S. sutra,
P. Sutta, 契經, vị trí 1), Trùng tụng (S. geya, P. geyya, 重頌, ví trí 2) Thí dụ (avadana, 譬喻, vị trí 7) cũng như văn học Bản sinh về tiền thân Phật Bản sự về tiền thân Bồ-tát.
Phương pháp dạy tương tác gồm thể tài Phương Quảng (S. vaipulya, P. vedalla, 方廣, vị trí 10) thể tài Luận nghị (upadeśa, 論議, vị trí 12) gồm các bài kinh theo cách đức Phật đặt câu hỏi người học trả lời. Cụ thể như các Kinhvôngãtướng, kinh Cūlavedalla, Mahāvedalla, Sammādiṭṭhi, Sakkapañhā, Sakhārabhāja-nīya, Mahāpuṇṇama v.v…
Nói cách khác, trong 12 thể tài văn học, phương pháp nhấn mạnh người dạy ít được phổ cập như các phương pháp nhấn mạnh người học, phương pháp nhấn mạnh nội dung phương pháp tương tác.
 
 
  1. GIÁO DỤC CHÂN
VivaitròlàngườiđtđượcChánhbiếntri(P.Sammāsambuddho), bậc đầy đủ trí tuệ đạo đức (P. Vijjācaranasampanno, Minh Hạnh Túc), đức Phật được tôn vinh bậc thầy trời người (P. Satt devamanussāna, Thiên Nhơn sư), cốt lõi của giáo dục Phật giáo giáo dục chân (sacca) nhằm giúp mọi người đạt được trí tuệ (paññā).16
Theo đức Phật, chân đối tượng cần nhận thức (abhiññeyyā dhammā), theo đó, con người nhận diện được bản chất cuộc sống các quy luật trong thiên nhiên (P. niyāma). Đức Phật giáo dục chân giúp mọi người hiểu phương pháp giải phóng khổ đau gồm bốn sự thật thánh (P. Ariyasaccāni) như được trình bày trong kinh Chuyển Pháp Luân (Dhammacakka ppavatt  na sutt  )17 gồm bốn bước như sau.
Bước một, nhận diện sự thật về khổ đau (Dukkha ariyasacca) hay sự thật về khổ (Dukkhasacca) cần phải biết tường tận (Pariññā, biến tri). Về thân thể gồm các khổ hiển nhiên như sinh, già, bệnh, chết. Về tâm gồm các khổ: Thương phải chia lìa, ghét phải hội ngộ, muốn không toại nguyện, chấp tâm vật lý. Đề cao trách nhiệm giải quyết khổ đau, theo Phật giáo, con người nên tránh thái độ đào tẩu tắc trách, thái độ phớt lờ liều lĩnh, thái độ cường điệu hành hạ bản thân về cảm xúc.
Bước hai, nhận diện sự thật về nguyên nhân khổ đau (dukkhasamudayo ariya sacca hay samudaya sacca) chính tham ái (taṇhā)18 cần được đoạn trừ (Pahāna), hay chấm dứt (pahātabbā dhammā) gồm: (i) Khao khát tính dục (kāmatahā, dục ái) đặt nặng sự hưởng thụ 5 dục lạc (sắc, thinh, hương, vị xúc), (ii) Khao khát hiện hữu (bhavatahā, hữu ái) mong được tiếp tục tái sinh, chấp vào thường kiến (sassa-tadiṭṭhi), (iii) Khao khát (vibhavatahā, hữu ái) tức sự tuyệt vọng, kết liễu sự sống trong



16. A. IV. 284.
17. D.III.277, S.V.421, Vbh.99, Vin.I.9.
18. A. III.445.
 

bế tắc, rơi vào đoạn kiến (ucchedadiṭṭhi). Từ đó, dẫn đến tình trạng ái luyến, bám víu chỗ này, vướng dính chỗ kia không dứt được, tiếp tục trôi lăn trong luân hồi.
Bước ba, trải nghiệm sự thật về niết-bàn (dukkhanirodho ariya sacca, khổ diệt thánh đế), hay diệt đế (Nirodha sacca) tức chânvề sự kết thúc toàn bộ khổ đau nguyên nhân gây tạo khổ đau, không còn tham ái, sân hận, si mê, chấp thủ. Niết-bàn cần được chứng đắc (sacchikiriyā) trong hiện đời, trạng thái tâm thuần tịnh, an lạc tuyệt đối, đạt được khi còn sống, bây giờ tại đây.
Bước bốn, sự thật về con đường diệt khổ (dukkhanirodh gāminīpaipadā ariyasacca, khổ diệt đạo lộ thánh đế), hay đạo đế (magga sacca) cần tu tập (bhāvanā) trọn vẹn. Chính đạo gồm tám yếu tố chân chính: Tầm nhìn chân chính, tư duy chân chính, lời nói chân chính, hành động chân chính, nghề nghiệp chân chính, siêng năng chân chính, chính niệm hiện tiền và đại định nhất tâm. Đây phương pháp quan trọng nhất của đức Phật, có khả năng giải quyết tất cả nỗi khổ, niềm đau; được Phật xem như pháp thoại cao cấp (sāmukkasikā dhammadesanā) cần được xiển dương phổ biến rộng rãi, lợi ích cho nhân sinh.
Giáo dục chân lý của đức Phật đi từ việc nhận diện mặt mũi của khổ đau nguyên nhân gây tạo, hướng đến sự chấm dứt khổ đau bằng việc phát triển 3 loại trí tuệ (ñāa)19 đối với bốn chânthánh gồm có: (i) Sự thật trí (saccañāa), trí tuệ nhận thức rõ: “Đây kh, đây là nn khổ; đây là niết-bàn, đây là con đường dit kh,
(ii) Sở dụng trí (kiccañāa), trí tuệ ứng dụng trong bốn đế gồm: “Khổ cần biết rõ, khổ cần kết thúc, niết-bàn cần chứng đắc con đường dit khổ cn tu tập, và (iii) Stác trí (katañāa), trí tuệ biết biết điều đã làm đối với bốn đế: “Sự thật về khổ cần biết đã biết, nhân khổ cần biết đã chấm dứt, niết-bàn cần đạt đã chứng đắc cnh đo cn tu đã tu tnh công.



19. S. V.422: Ba trí này còn gọi ba luân (Parivaṭṭa) về sự giác ngộ bốn đế, tạo thành mười hai thể (Ākāra).
 

Không chỉ dừng lạiviệc giáo dục chânvới giá trị cốt lõi chấm dứt khổ đau, đức Phật nhấn mạnh vào giáo dục k năng đạt được trí tuệ với ba phương diện (tam tuệ):20  (i) Trí tuệ nhờ học (sutamaya paññā, văn tuệ) tức trí tuệ do học từ thầy giáo, học từ đàm luận, (ii) Trí tuệ nhờ nghiền ngẫm (cintāmaya paññā, tuệ) các chân quy luật được Phật giảng dạy, (iii) Trí tuệ nhờ tu tập (bhāvanāmaya paññā, tu tuệ) tức phát triển tâm qua tu thiền định.
Theo đức Phật, người đạt được trí tuệ sẽ thành tựu ba pháp thượng (anuttariya)21 gồm (i) Sự thấy thượng (dassanānuttariya), thấy bằng trí tuệ, nhận diện bản chất của danh sắc giác ngộ chân lý, (ii) Sự thực hành thượng, (paṭipadānuttariya), thực hành chánh pháp, hoàn thiện đạo đức, thiền định trí tuệ nhờ tu bát chánh đạo, (iii) Sự giải thoát thượng (vimuttānuttariya), kết thúc toàn bộ phiền não, giải phóng tâm khỏi các trói buộc, thoát khỏi sanh tử luân hồi.
Nói cách khác, theo đức Phật, giáo dục chân nhằm giúp mọi người kết thúc toàn bộ khổ đau, trải nghiệm hạnh phúc, trở thành bậc giác ngộ, bây giờ tại đây.
  1. GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
Bên cạnh việc giáo dục chân lý, giúp mở tuệ nhãn, đức Phật chú trọng giáo dục đạo đức, giúp con người sống hữu ích giá trị hơn. Theo đức Phật, giáo dục đạo đức bắt đầu từ giáo dục tại nhà, tăng cường tại trường học ngoài hội mỗi người tự nỗ lực hoàn thiện để sống hạnh phúc giá trị.
Về giáo dục đạo đức tại nhà, đức Phật đề cao vai trò giáo dục của cha mẹ đối với con cháu. Cha mẹ được đức Phật gọi “người dạy đầu đời” (pubbācariya, tiên sư) trước khi gửi con đến các trường mầm non, cấp 1, cấp 2, cấp 3 đại học. Làm tiên của các con, các bậc cha mẹ cần huấn luyện về đạo đức (sīla), k năng sống (life skills) giá trị sống (life values).


20. D. III.219; Vbh. 324.
21. D. III.219; M. I.235
 

Về giáo dục đạo đức tại nhà trường  ngoài    hội,  đức Phật nhấn mạnh 3 phương diện: (i) Không làm các điều ác (sabbapāpassa akaraṇaṃ) gồm phòng phi  dứt  ác,  (ii)  Làm các nghiệp lành (kusalass’ ūpasam-padā), (iii) Thanh lọc nội tâm (sacittapariyodapana). Ba điều này cốt lõi những lời dạy đạo đức của đức Phật (Buddha-ovāda).22
Không làm điều ác gồm hai phương diện: Phòng phi đối với các điuác(āratī viratī pāpā) chưaphátsinh, đồngthời, nlựcdứtácđi điều phạm pháp, trái đạo đức, ngược lương tâm đã lỡ làm trong quá khứ, gây tác hại cho mình, cho người, ở hiện tại tương lai. Người phòng phi sẽ hưởng được “hạnh phúc do tội” (anavajjasukha, lạc tội)23 tức là sự an lạc do không làm điều ác, không sợ người khác chê trách về hành vi, thói quen lối sống.
Về phương diện luật pháp, hội dân sự thì dứt ác tức nỗ lực chấm dứt 10 nghiệp bất thiện (akusalakammapatha). Liên hệ đến nghiệp ác của thân (kāya-kamma) hay thân ác hạnh (kāyaduccarita), 3 nghiệp giết hại (ātipāta), nghiệp trộm cắp (adinnādāna) hạnh ngoại tình (kāmesu micchācārā). Liên hệ đến truyền thông xấu của miệng (vacī-kamma) hay khẩu ác hạnh (vacīduccarita), 4 nghiệp nói dối (musāvāda), nói lời chia rẽ (pisuāvācā), nói lời độc ác (pharusavācā) nói chuyện phiếm (samphappalāpa). Liên hệ đến tâm ý (manokamma) hay ý ác hạnh (manoduccarita), 3 nghiệp tham lam (abhijjhā), giận dữ (byāpāda) vàtà kiến (micchādiṭṭhi).24
Làm tất cả điều thiện bắt đầu bằng sự làm chủ 3 cánh cửa tạo nghiệp25 gồm ý môn (mano dvāra), thân môn (kāya dvāra), khẩu môn (vacī dvāra). Không chỉ dừng lại việc phòng ngừa chấm dứt nghiệp xấu, người đạo đức cần phát triển các đức hạnh đối lập với nghiệp bất thiện. Mười nghiệp thiện (kusalakam mapatha) gồm


22. Dhp. 183, 234; D.II.49.
23. A. II.69.
24. D. III. 269; A. V.264.
25. D. II.49.
 

3 thiện về thân, 4 thiện về miệng 3 thiện về tâm, còn được gọi chánh pháp hành (dhammacariyā), tịnh pháp (soceyya), thánh đạo (ariya-magga), diệu pháp (saddhamma) hay pháp chân nhân (sappurisa dhamma).26
Về thân môn thiện gồm có: (i) Từ bỏ nghiệp giết hại (ātipāta pahāya), phát triển tâm từ bi đối với loài hữu tình (sabbapāabhūtahitānu kampī hoti), (ii) Từ bỏ việc trộm cắp (adinnādānā pahāya), tôn trọng sở hữu của người khác (adinna theyyasakhāta anādātā), biết chia sẻ, giúp người vượt qua khó khăn, (iii) Từ bỏ ngoại tình (kāmesu micchācāra pahāya), không sai quấy trong hưởng dục (na cārita āpajjitā).
Về khẩu môn thiện gồm có: (i) Từ bỏ nói dối (musāvāda pahāya), chỉ nói sự thật, tôn trọng sự thật, (ii) Từ bỏ lời nói chia rẽ (pisuṇaṃ vācaṃ pahāya), chỉ nói những lời làm cho hòa hợp (samagga-karaṇiṃ vācaṃ bhāsitā), (iii)  Từ  bỏ  lời nói độc ác (pharusa vācaṃ pahāya), chỉ nói lời thương mến (bahujanamanāpā tathārūpi vācaṃ bhā-sitā), (iv) Từ bỏ phiếm luận (samphappalāpa pahāya), chỉ nói lời hợp thời, lời đúng lý, lời hữu ích, nói về pháp, nói về luật, nói lời đáng lưu giữ (kālavādī bhūtavādī atthavādī dhammavādī vinayavādī nidhā navati vācaṃ bhāsitā).
Về ý môn thiện gồm có: (i) Không tham lam tài vật (ya taṃ parassa paravittūpakaraṇaṃ taṃ n’ ābhijjhātā hoti), (ii) không sân tâm (abyāpannacitto kho pana), mong chúng sanh tự cẩn trọng an vui (sukhī attāna pariharantū’ ti), (iii) chánh kiến (sammādiṭṭhi kho pana).
Theo đức Phật, giữ gìn 10 điều đạo đức (dasasīla) cách giúp bản thân đạt được ba hoàn thiện cao cấp (tisikkhā, tam học).27 Hoàn thiện đạo đức (adhisīla sikkhā, tăng thượng giới học) nền tảng phát triển hoàn thiện tâm định cao cấp (adhicitta sikkhā, tăng



26. M. I. 287; A. V.266, 275, 278.
27. D. III.220; A. I.229.
 

thượng định học). Hoàn thiện định tâm nền tảng phát triển trí tuệ siêu việt (adhipaññā sikkhā, tăng thượng tuệ học).
Theo giáo dục Phật giáo, khi đạt được 3 sự hoàn thiện đạo đức, thiền định trí tuệ, con người bình thường sẽ trở thành chân nhân, chân nhân thành tiệm cận thánh nhân, tiệm cận thánh nhân trở thành thánh nhân, Bồ-tát Phật. Nói cách khác, giáo dục đạo đức Phật giáo giúp con người trở nên hoàn thiện, thánh thiện, an lạc.
  1. VAI TRÒ CỦA NGƯỜI DẠY
cốt lõi của giáo dục Phật giáo nhằm giúp con người đạt được trí tuệ đạo đức, theo đức Phật, vai trò dẫn dắt của người dạy rất quan trọng góp phần quyết định tương lai thành công hạnh phúc của người học. Do đó, người thầy cao quý trong Phật giáo phải đạo (satt).
Dựa vào lời Phật trong các kinh, quyển Thanh tịnh đạo luận Sớ giải Luật tạng liệt năm loại nhà giáo Phật pháp (Ācariya)28 gồm: (i) Thầy tế độ xuất gia (Pabbajjā cariya), tức thầy cạo tóc truyền giới sa di, (ii) Thầy truyền cụ túc (Upasampadā cariya), tức thầy tế độ lên phẩm hạnh tỳ-kheo, chính thức làm thầy cô, (iii) Thầy y chỉ (Nissayā cariya), tức thầy tinh thần thay mặt thầy tế độ giúp người tu hành nhiều tiến bộ do thực tập đúng chánh pháp,
(iv) Thầy giáo hóa (Uddesācariya hay dhamma cariya), tức thầy dạy chân đạo đức, giúp ta hiểu sâu, thực hành đúng, kết quả trong tu học, (v) Thầy huấn từ (Ovādā cariya), tức thầy khiển trách, khuyên nhắc, khi ta bị lầm lỗi.
Trong m loại thy nêu trên, thy y chỉ, thy giáo hóa và thy huấn từ đều thuộc nhóm thầy dạy chân(dhamma) dạy đạo đức (vinaya), giúp người học được trưởng thành về nhân cách sống, đạo đức sống để trở thành người giá trị. Điều này cho thấy, đức Phật nhấn mạnh vai trò giáo dục chân đạo đức của nhà giáo với tư cách đạo (satthā), hơn ch đơn thuần truyền



28. Vism. 94; VinA. V.1085; VII.1397.
 

trao kiến thức lập nghiệp như khuynh hướng giáo dục thế học từ trước đến giờ.
Đề cao vai trò đo sư của nhà giáo, trong Kinh Tăng chi,29 đức Phật khích lệ  nhà giáo  cần  thực  hiện  5  cam  kết: (i) Nhà giáo che chở học trò về đức hạnh (satt sāvakehi sīlato rakkha paccāsisati), (ii) Nhà giáo che chở học trò về kiến thức (satt sāvakehi ñānadassanato rakkha paccāsiṃsati), (iii) Nhà giáo che chở học trò về sự thuyết pháp (satt sāvakehi dhammadesanato rakkha paccāsiṃsati), (iv) Nhà giáo che chở học trò về sự ứng đáp (satt sāvakehi veyyākaraato rakkha paccāsiṃsati), (v) Nhà giáo che chở học trò về sự nuôi mạng (satt sāvakehi ājīvato rakkha paccāsiṃsati). Nếu vai trò “nuôi mạng” nhấn mạnh phương diện truyền trao kiến thức lập nghiệp thành công thì ở bốn vai trò còn lại, nhà giáo phải huấn luyện cho học trò về đạo đức, kiến thức, sự ứng đáp khả năng trình bày chân lý.
Trong Kinh Thiện sinh, đức Pht ly hướng nam (dakkhiā disā)30 làm biểu tượng cho thầy giáo, kêu gọi các nhà giáo cần đảm bảo 5 trọng trách trong giáo dục học trò: (i) k năng huấn luyện đạo đức, (ii) k năng truyền trao kiến thức chuyên môn, (iii) Tinh thần truyền trao tận tình, không giấu nghề, (iv) Khen ngợi các học trò ngoan giỏi, (v) Bảo hộ cho học trò về mọi phương diện.
Tch nhim thứ 1 giúp học trò trở tnh người có nn cách, phẩm hạnh đạo đức, sống không lo sợhội lên án luật pháp nghiêm tr. Tch nhim thứ 2 giúp học trò trở tnh người có kiến thức chuyên môn trong ngành học theo đuổi, trở thành chuyên gia vsau. Tch nhim thứ 3 là thái độ cn tnh về tri thức, kng giấu nghề, truyền trao kiến thức phương pháp nghiên cứu giúp học trò gii tương đương hoặc gii hơn mình. Tch nhim thứ 4 là khích lệ những học trò ngoan, hiền, giỏi, làm tấm gương phấn đấu cho các bn đồng học trong lớp. Tch nhim thứ 5 là tinh thần bảo



29. A. III.122.
30. D. III. 189-192.
 

hộ về mọi phương diện cuộc sống, để học trò thể tự tin, thành công hữu dụng cho đời.
Để đạt được 5 trách nhiệm nêu trên, theo đức Phật trong Kinh Trường b,31 nhà giáo cần: (i) Tránh xa thin xo tổn hi(apāya kosalla), vốn làm suy sụp thiện pháp, tăng trưởng ác pháp, (ii) Phát huy tối đa “thiện xảo tăng ích” (āya kosalla), tức trí tuệ linh hoạt trong việc làm phát sanh lợi ích giá trị cho mình cho người, (iii) Thiện xảo phương tiện (upāya kosalla), tức trí tuệ với chủ trương hạnh động cụ thể nhằm làm giảm tổn hại tăng trưởng hữu ích.
***
Nói tóm lại, ngoài việc khái quát bốn phương pháp giáo dục căn bản của đức Phật, bài viết này phân tích hai nội hàm về giáo dục chân giáo dục đạo đức, qua đó, nhấn mạnh vai trò của người dạy trong tiến trình đánh thức người học từ kho tàng tiềm năng vốn ở mọi người. Trên nền tảng so sánh với phương pháp giáo dục hiện đại, bài viết giới thiệu 12 thể tài kinh văn Phật giáo tương ứng với các phương pháp giáo dục nhấn mạnh người giảng dạy, nhấn mạnh người học, nhấn mạnh nội dung đề cao sự tương tác.
Tất cả chỉ để khẳng định một điều rằng giáo dục Phật giáo là nhằm khai mở tuệ giác, phát triển tâm, giúp người học không dừng lạithành quả thi cử, ứng dụng lời Phật dạy vào đời sống thực tiễn, giải quyết dứt điểm các nỗi khổ niềm đau.



***









31. D. III.220.
 

Bảng viết tắt sách trích dẫn
A. = Aguttara Nikya, 6 vols, ed by R. Morris, E. Hardy & C.A.F. Rhys Davids (London:P.T.S, 1885-1910); The Book of the Gradual Sayings (Aguttara Nikya), or More-Numbered Suttas, vol. I-II, tr. by F.L. Woodward (London: PTS, 1989- 92, 1st Ed. 1932-3); vol. III-V, tr. by E.M. Hare (London: PTS, 1988-94, 1st Ed. 1934-6).
Dhp. = Dhammapada, Ed. O. Von Hinuber and K. R. Norman. (London: PTS, 1994); tr. Nrada Thera, The Dhammapada, (London: John Murray, 1954).
D. = Dgha Nikya, 3 vols, ed by T.W. Rhys Davids & J. E. Capenter (London: PTS, 1890-1911); tr by T.W. and C.A.F. Rhys Davids, Dialogues of the Buddha, 3 vols. (London: PTS, 1992, 1st Ed. 1899-1921); also by Maurice Walshe, The Long Discourses of the Buddha, London: Wisdom Publications, 1995, in one volume.
M. = Majjhima-Nikya, 4 vols, ed by V. Trenck, R. Chalmer & Mrs. Rhys Davids (London: P.T.S, 1888-1925); tr by I.B. Horner, The Collection of the Middle Length Sayings, 3 vols., PTS Translation Series No. 30, (London: PTS, 1993-5, 1st Ed. 1954-9); also tr. Bhikkhu amoli and revised by Bhikkhu Bodhi, The Middle Length Discourses of the Buddha. (Boston, Mass.: Wisdom, 1995) in one volume.
Vin. = Vinaya Piaka, 5 Vols, (London: P.T.S, 1938-66); tr. by I.B. Honer, The Book of the Discipline, 6 vols. vols. I, II & III (Sut- tavibhaga), (London: PTS, 1992-3, 1st Ed. 1938-42); vol. IV (Mahvagga); vol. V. (Cullavagga); vol. VI. (Parivra). (London: PTS, 1992-3, 1st Ed. 1951-2 & 1966).
S.= Sayutta-Nikya, 5 vols, edby L. Feer& Mrs C.A.F. Rhys Davids (London: P.T.S, 1884-1925); The Book of the Kindred Sayings, or Grouped Suttas, 5 vols, vols. I-II, tr. by Mrs. Rhys Davids, assisted by Sriyagoa Sumangala Thera and F.L. Woodward.


(London: PTS, 1993-4, 1st Ed. 1917-22); vols. III-V, tr. by F.L.
Woodward, ed. by Mrs. Rhys Davids. (London: PTS, 1992-4, 1st Ed. 1925-30).
Vism.= Visuddhdimagga, ed. H. C. Warrenand D. Kosambi. HOS.41. (1950), Tr. by Bhikkhu amoli, The Path of Purification. (Colombo: R. Semage, 1956; 3rd edn, Kandy: BPS, 1975; and 2 vols., Berkeley, Calif.: Shambhala, 1976)
Vbh.= Vibhaga, ed. andtr. by S. K. Mukhopadhyaya.(Santiniketan: 1950), , tr. by Pahamakyaw Ashin Thiila (Sehila), The Book of Analysis (Vibhaga), Being the Translation of the Second Book of Abhidhamma Piaka, (London: PTS, 1995, 1st Ed. 1969).

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây