3. GIÁO DỤC PHẬT GIÁO VIỆT NAM TỪ TRUYỀN THỐNG ĐẾN HIỆN ĐẠI

Thứ sáu - 06/12/2019 20:33
GIÁO DỤC PHẬT GIÁO VIỆT NAM TỪ TRUYỀN THỐNG ĐẾN HIỆN ĐẠI
 
 
TS.TT. Thích Phước Đạt
 
  1. NGUYÊN GIÁO DỤC PHẬT GIÁO
Nói đến giáo dục nói đến nói đến việc dạy, việc truyền thọ kiến thức kng của người dy cho người học. Trong đó, các tnh tố làm nên một nền giáo dục bao gồm: Mục đích, mục tiêu giáo dục; Ni dung giáo dục; Phương pp giáo dục... Trong quá trình hình phát triển, Phật giáo Việt Nam đã định hình được nền giáo dục Phật giáo, khởi nguyên từ nền giáo dục tự phátnhà chùa trong các làng Việt Nam.
thể nói, nhà chùa nhà trường, nhà nhà giáo ngay từ khi đạo Phật du nhập vào nước ta. Do đó, vai trò của nhà trong việc giáo dục con em Phật tử từ khi được sinh ra cho đến lớn lên, trưởng thành cho đến giờ phút lìa trần đều diễn ra từ trong ngôi chùa từ sự tiếp nối truyền thống gia đình đã tạo nên một nền giáo dục đặc trưng riêng biệt cho Phật giáo. Thực tế cho thấy, nơi nào cộng đồng người Việt sinh sống nơi đó chùa. Chùa nơi ở, tu học đào tạo đệ tử để phát triển mạng mạch Phật pháp, sư 
cũng người hướng dẫn cho con em Phật tử đến chùa tu học, trải nghiệm đời sống tâm linh thông qua việc tổ chức giảng dạy giáo lý, lễ lạt, cầu an, cầu siêu, đồng thời hướng dẫn nếp sống đạo đức qua việc dạy nghề, nuôi dưỡng thân mạng đúng chánh pháp… nên sự ảnh hưởng rất lớn đến đời sống dân chúng. Nói một cách cụ thể, những người thầy đầu tiên của nền giáo dục Phật giáo Việt Nam được nhìn nhận như chủ thể giáo dục. Hẳn nhiên, đối tượng giáo dục phổ thông, ngoài việc đào tạo Tăng tài tiếp nối dòng mạch Phật pháp, người học chủ yếu đồng bào con em Phật tử như đối tượng giáo dục chủ lực.
Với đối tượng giáo dục như trên, bao gồm: Giới đệ tử xuất gia trọn đời, sống đời sống không gia đình giới đệ tử tại gia thì mục đích tối hậu của giáo dục Phật giáo nhằm giáo dục cho người ta tự biết mình cuộc đời để tiến đến mục đích giải thoát Niết-bàn ngay giữa cuộc đời này. Hay nói cụ thể hơn, mục đích duy nhất của giáo dục Phật giáo cứu khổ chúng sinh, đưa chúng sinh đến cảnh giới giải thoát. thế, mục tiêu giáo dục Phật giáo không chứa đựng một nội dung bao quát như giáo dục nói chung mục tiêu cụ thể, trước mắt đối với các vị phát nguyện xuất gia trọn đời thì hướng tâm xây dựng nếp sống phạm hạnh, thánh hạnh trong tập thể Tăng già. Thế nên, Tăng già biểu trưng cho những mẫu ngườitưởng, cao cả hơn làmuốn con người vươn tới thành Phật. Học tập, tu hành để làm Phật. Con ngườitưởng giáo dục Phật giáo cần lấy khuôn mẫu để đào tạo chư Thánh Tăng đã chứng đạo, được kinh điển ghi nhận.
Mặt khác, mục tiêu phải được hiểu những điểm cuối của cả quá trình các đối tượng của giáo dục (người học) phải đến trên một lộ trình dài nhiều chặng phải vượt qua để đạt được lý tưởng tối hậu. vậy, giáo dục Phật giáo tùy hoàn cảnh, tùy trình độ từngnhân những mục tiêu trước mắt khác nhau. Đó hình ảnh chư Tăng tài đức, khả năng tu tập, chứng đạt tâm linh, khả năng giảng dạy, hướng dẫn đồng bào Phật tử trong đời sống sinh hoạt hàng ngày, góp phần xây dựng hội an lạc.

Đối với hàng tại gia, xây dựng một nếp sống hiền thiện, đạo đức theo tinh thần Pht giáo. Trong tinh thần đó, truyn thống tu tập của đồng bào Phật tử Việt Nam thưở ban đầu vào chùa tu học, được nghe pháp, hành pháp, với ý nguyện tu tập theo giáonhà Phật, đồng thời biết thích nghi với hội, với những kiến thức kỹ năng sống hiện đại, được xem một trong những đặc trưng nổi bật của truyền thống giáo dục Phật giáo.
Khi mục tiêu giáo dục đã được đề ra như thế nào, thì nội dung giáo dục phải chất liệu như thế đó. như vậy mới thể đáp ứng đạt hiệu quả tốt nhất. Kế thừa truyền thống giáo dục Phật giáo từ thời Đức Phật, toàn bộ nội dung giáo dục Phật giáo Việt Nam cũng không ngoài con đường thực thi Giới-định-tuệ đã được giải trình qua Tam tạng thánh điển. Giới những giới điều đã lãnh thọ, ý nghĩa giữ mình, nâng cao phẩm hạnh của người xuất gia, khiến tâm trong sạch. Định sự ổn cố tâm lý, phát triển tâm linh. Tuệ sự sáng suốt hợp với chân lý. Giới-định-tuệ mối liên hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau. Một người giới thì định, định mới sinh tuệ, tuệ mới thấy mới hành trì giới thành tựu định. Đối với người tại gia, giới được xem đạo đức, sự tiết độ, sự răn đe. Định sự vững vàng, sự vươn lên. Tuệ sự nhận thức đúng đắn, kiến thức đầy đủ về mình, về cuộc đời. Một người Phật tử giữ năm giới, thọ Bát quan trai nhằm tu dưỡng đạo đức, đưa đến đời sống an lạc.
Phật giáo xem toàn bộ kinh điển Phật giáo như tài liệu giáo khoa để người học Phật tu tập. Tại đây, chúng ta sẽ thấy thế giới hình thành do nhân duyên, ngã thường. Về nhân sinh, cuộc đời bản chất khổ. Con người hình thành do năm uẩn, bị chi phối bởi khổ đau, chính họ thể diệt khổ qua việc tu hành thăng chứng tâm linh đi đến giải thoát. Về hội, mọi người đều con Phật, mọi người đều khổvượt thoát khổ nên cần phải yêu thương nhau, có mối liên hệ đời này, đời khác. Về đạo đức, con người chịu nhận kết quả cuả nghiệp tạo ra vậy, người đệ tử Phật tin tưởng tuyệt đối thuyết nhân quả, nghiệp báo luân hồi. Đó toàn bộ nội dung Phật giáo hướng đến việc giáo dục con người.
 
Để các nội dung giáo dục Phật giáo đến với mọi người, Phật giáo Việt Nam đã áp dụng nhiều phương pháp, biện pháp giáo dục truyền thống từ thời đức Phật. Một trong đặc trưng phương pháp giảng dạy hữu hiệu của Phật giáo phương pháp thầy dạy cho trò. Chúng ta thể bắt gặp hình ảnh các Phật tử đến quy y, đảnh lễ, đàm đạo với các vị thầy để học pháp hành pháp trong các ngôi chùa. Trong các thời thuyết ging, các sư đã vn dụng nhiu phương pháp, biện pháp để giảng dạy giáo lý. khi do được hỏi, khi thầy chủ động gợi ý bằng câu hỏi, rồi trả lời bằng phương pháp trích dẫn kinh điển, lấy dụ, ẩn dụ, hay so sánh đối chiếu… chúng ta thấy các phương pháp này, ngày nay ngành phạm học đường thường vận dụng. Ngoài ra, các khóa thiền định hay các chương trình sinh hoạt Tăng già như an cư, yết ma, giới đàn, thọ bát được xem biện pháp tự rèn luyện, bồi dưỡng đạo đức, trí tuệ giới Phật giáo đã chủ trương hành trì.
  1. KHÁI QUÁT VỀ NỀN GIÁO DỤC PHẬT GIÁO NƯỚC TA
thể nói nền giáo dục Phật giáo Việt Nam được khởi đầu từ nền giáo dục tự phát nhà chùa. Các nhà mở trường lớp đào tạo đệ tử để phát triển mạng mạch Phật giáo, truyền thừa giáonhiên, sinh hoạt chùa chiền như giảng pháp, lễ lạt cầu an, cầu siêu… ảnh hưởng đến đời sông dân chúng, các những người thầy đầu tiên của nền giáo dục Việt Nam.
Trung m Luy Lâu được tnh lp và hot động mạnh mẽ từ thế kỷ thứ I, xứng đáng nơi quy tụ của các nhà sư, học giả Phật học từ Trung quốc, Tây vực và tại ni đia Giao Châu. Dĩ nhiên, nhng khóa đào tạo Tăng tài phải được thực hiện tại đây, cũng như một vài nơi khác quanh Luy Lâu. Trong thời gian này, các cơ sgiáo dục Phật giáo được thành lập người ta thể nghĩ đây những ngôi trường đầu tiênnước ta chăng?
Từ thế kỷ V đến thế kỷ thứ X, đời sống giáo dục Phật giáo đã dần lớn mạnh thông qua sự đào tạo truyền thừa của các Thiền phái. Tuy không phải nhanh chóng nhưng so với nền giáo dục quốc  
dân quả đã gây ấn tượng hơn rất nhiều. Phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, truyền 19 thế hệ ; Ngôn Thông, truyền 17 thế hệ ; Thảo Đường, truyền 5 thế hệ. Tinh thần Phật giáo được phổ biến rộng rãi trong giới chư Tăng Ni trong quần chúng nhân dân. Phật giáo gắn liền với dân tộc gắn liền với mọi tầng lớp nhân dân. Tinh thần này được truyền trực tiếp đến với nhân dân từ các vị thông qua các buổi giảng pháp. Quan trọng hơn, do tài năng đức độ, chư Tăng được nhà cầm quyền kính phục, được hỏi ý kiến, được mời làm quân sư, quốc sư, việc nước…
Đến đời nhà Trn, tinh thần Pht giáo được tiếp ni và phát triển mạnh mẽ. Chính quyền nhân dân một lòng, tạo nên được những thành côngđại trong việc dựng nước, giữ nước. Phật giáo dung hợp Nho – Lão tnh một thể thống nht. Thin phái Trúc Lâm đã kết hợp với ba thiền phái trước tạo thành một Giáo hội vững mạnh. Hơn 170 năm, Phật giáo đời Trần không ngừng phát triển, chính giáo dục Phật giáo đã tạo được chủ thuyết Phật giáo và dân tộc mạnh mẽ nht. Quốc học vin của Trn Thái Tông là một nét sáng tạo ràng về một nền giáo dục Phật giáo, trong đó Nho giáo được tôn trọng. Tinh thần giáo dục Phật giáo đã liên kết chính quyền nhân dân tạo ra thời kỳ Phật giáo vàng son của nước nhà.
Qua đến đời Hậu Lê, Khổng giáo được tôn sùng, giới nho sĩ bài bác Phật giáo, nền giáo dục Phật giáo giai đoạn đó đã không đáp ứng được yêu cầu của quần chúng nhân dân, khiến đất nước mất đi sức mạnh thời Lý - Trn. Chính vì vy, thời Trịnh Nguyn, các chúa lại ủng hộ Phật giáo, củng cố sự nghiệp của mình củng cố đất nước. Từ đấy, tinh thần giáo dục Phật giáo lại vươn lên.
Đến đầu thế kỷ XX, phong trào chấn hưng Phật giáo phát khởi, chính các diễn đàn báo chí Quốc ngữ phương tiện mạnh mẽ để giáo dục tinh thần yêu nước, yêu đo. Trong thời gian này, các Pht học viện đào tạo Tăng tài lại được mở ra khắp nước: Nội, Huế, Nha Trang, Bình Định, Biên Hòa, Sài Gòn và các tỉnh min Tây Nam Bộ. Đến giữa thế kỷ XX, hệ thống trường Bồ đề do Phật giáo chủ trương, dạy con em Phật từ theo chương trình nhà nước, kết 
hợp với quảnPhật giáo đã ảnh hưởng rất mạnh. Năm 1965, Viện Đại học Vạn Hạnh của Phât giáo ra đời, gồm các phân khoa : Pht học, Văn học, Triết họcđã đào to rt nhiu nn tài cho đất nước.
Sau khi đất nước hòa bình, độc lập, thống nhất, Hội nghị đại biểu thống nhất Phật giáo, thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam năm 1981 tại thủ đô Nội. Giáo hội đã giao cho Ban Giáo dục Tăng Ni Trung ương có tch nhim, giúp Ban Thường trực Hi đồng Trị sự thực hiện việc hình thành hệ thống các trường Phật học, đào tạo Tăng Ni trẻ năng lực để phục vụ mọi hoạt động của Giáo hội. Kể từ đây nền giáo dục Phật giáo Việt Nam đã kiện toàn hệ thống tổ chức đào tạo phù hợp xu hướng phát triển của thời đại hội nhập song hành hệ thống giáo dục quốc dân.
    1. Hệ thng Trường Cao cấp Phật hc Việt Nam (nay là Hc vin Phật giáo Việt Nam)
Tm 1981, Trường Cao cp Pht học tại Hà Ni được tnh lập, từ đó, các trường Phật học cả nước lần lượt được thành lập. Đến tng 10/1985, Trường Cao cp Pht học Viêt Nam tại TP. HCM, tiếp đến là Trường Cao cp Pht học Vit Nam tại Thừa Thiên - Huế 1997. Từ Đại hội kỳ IV (tháng 11/1997) đã được chuyển đổi danh xưng Học viện Phật giáo Việt Nam, đồng thời chức năng đào tạo hệ Cử nhân Phật học, từng bước nâng cấp, đào tạo Sau đại học (Cao học Phật học ThạcPhật học) khi đủ điều kiện khách quan.
    1. Hệ thống các trường bản Phật học được hình thành (nay Trường Trung cấp Phật hc)
Năm 1986, Nhà nước công bố đường lối đổi mới. Tháng 10/1987, Đại hi Pht giáo kII, Trung ương Giáo hi Pht giáo Việt Nam đã thông qua nghị quyết để xây dựng phát triển Giáo hội, trong đó việc mở rộng hệ thống giáo dục Tăng Ni. Từ năm 1987 đến nay, Giáo hội thành lập 35 trường bản Phật học khắp các tỉnh, tnh hi cả nước. Trong quá trình củng cvà hệ thống
 

hóa, nâng cao các mặt tổ chức nội dung giảng dạy, từ Đại hội IV (1997), Trung ương Giáo hi đã xin phép chuyn đi danh xưng các trường Cơ bn Pht học trước đây tnh trường Trung cp Pht học, đồng bộ tại các tỉnh, thành.
    1. Các lớp Cao đẳng Phật học
Do số lượng trường bản Phật học ngày mỗi nhiều, số lượng Tăng Ni sinh tốt nghiệp bản Phật học ngày càng đông, trong khi cả nước chỉ 4 Học viện Phật học đào tạo chương trình Cử nhân Phật học, không đủ điều kiện đón nhận hết số Tăng Ni sinh tốt nghip Trung cp theo học. Cho nên, vic hình tnh các lớp Cao đẳng Phật học điều tất nhiên để giúp số Tăng ni sinh này được theo học nhằm nâng cao trình độ.
    1. Hình thành các lớp Sơ cấp Phật học tại các đơn vi sở từ năm 1999
Do đáp ứng nhu cầu tu học của Tăng Ni sinh tân học xuất gia, Ban Trị sự Ban Đại diện các tỉnh, thành nhu cầu đã đứng ra thành lập các lớp cấp Phật học thay thế cho hình thức gia giáo buổi đầu. Hiện nay, các tỉnh thành đã mở các lớp cấp Phật học.
Như vậy, đến nay hệ thống giáo dục đào tạo Tăng Ni của Giáo hi Pht giáo Vit Nam đã hoàn thin từ Sơ cp, Trung cp, Cao đẳng, Cử nhân Sau đại học. Chính các Tăng Ni sinh được đào tạo từ các Học vin Pht giáo Vit Nam, Cao đng và Trung cp đã góp phần nào cho vic hình tnh và hot động ở Trung ương Giáo hi Ban Trị sự các tỉnh, thành hội Phật giáo trong cả nước.
  1. PHÁT HUY GIÁ TRỊ GIÁO DỤC PHẬT GIÁO TRUYỀN THỐNGHƯỚNG ĐẾN XÂY DỰNG NỀN GIÁO DỤC PHẬT GIÁO VIỆT NAM HIỆN ĐẠI PHÙ HỢP XU HƯỚNG HỘI NHẬP
Mục đích tưởng giáo dục Phật giáo của Đức Phật đạo Phật giúp con người tự cảm nhận được những thực tế khách quan tự chấm dứt mọi khổ đau cho chính mình trong cuộc sống. Muốn thành tựu mục đích tưởng của giáo dục Phật giáo, người con Phật phải biết vận dụng tính khế lý, khế phù hợp mọi thời gian, kng gian. Tách rời thực tế khách quan của cuộc sng (xãhi) thì nht định chúng ta kcó thể tnh công. Trong ý nim đó, thiết nghĩ nền giáo dục Phật giáo Việt Nam cần phát huy các nguyêngiáo dục Phật giáo như đặc trưng của nền giáo dục Phật giáo Việt Nam để định hướng phát triển phù hợp với xu hướng hội nhập, trên nền tảng giáo dục Phật giáo truyền thống kết hợp giáo dục học đường hiện đại như sau:
Xuất phát từ khởi điểm giáo dục tự viện trong nhà chùa, tiếp nối kế thừa nền giáo dục Phật giáo thời chấn hưng đầu thế kỷ XX, nhất kể từ khi thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam vào năm 1981, trong vòng 38 năm qua, ngành Giáo dục Phật giáo đã hình thành phát triển hệ thống giáo dục Phật giáo về mặt tổ chức chương trình đào tạo các cấp, tạo nguồn nhân lực phục vụ cho Giáo hội đất nước trong thời kỳ phát triển hội nhập. Cụ thể, cả nước 4 Học viện đào tạo chương trình Cử nhân Phật học Sau đại học; 8 lớp Cao đng Pht học, 35 trường Trung cp Pht học, và 50 lớp Sơ cp Pht học. Hin nay, giữa các Học Vin và các Trường Đại học trong nước đã sự phối hợp đào tạo, Học Viện tại Nội đã liên kết với Trường Đại học Quốc gia Hà Ni mở lớp Hán Nôm, hay Học Vin TP. HCM đã liên kết với Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh mở khóa phạm Giáo dục Mần non, tổ chức các khoá bồi dưỡng nghiệp vụ phạm cho Tăng Ni, cư sĩ thuộc thành viên Ban Giáo dục Phật giáo, Ban Giảng huấn các trường. Đồng thời, giới thiu trên 350 Tăng Ni du học tại n Đ, Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc, Úc, Hoa Kỳ, Nhật Bản... trong số đó, trên 150 Tăng Ni hoàn tất chương trình Tiến sĩ, ThạcPhật học tại Ấn Độ, Trung Quốc và các nước đã trvphục vcông tác tại các cp Giáo hội, Ban, Vin Trung ương, Ban Trsự các tỉnh tnh và các cơ sgiáo dục Phật giáo. thể xem đây hướng mở của giáo dục Phật giáo Việt Nam trong bối cảnh giáo dục hiện nay.
Thực tế nền giáo dục Phật giáo Việt Nam từ xưa đến nay đã trải qua các mô hình giáo dục Phật giáo đi từ giáo dục truyền thống cho đến hiện đại. Khởi đầu giáo dục tự viện, giáo dục Phật học viện, hiện nay giáo dục tại trường Phật học. Mục tiêu của ngành giáo 
dục Phật giáo nhiệm vụ đào tạo Tăng Ni, Phật tử thành những tu sĩ, Phật tử hướng đến giải thoát. Một trong những yêu cầu của giáo dục tạo cho con người học sự thích nghi, sự tự phát triển. Giáo dục Phật giáo không nhằm nhồi nhét kiến thức, kỹ năng của con người trong thời đại mới nhằm giúp mọi người thích nghi với thời đại mới mỗi khi phải chung đụng với đời. Do đó, giáo dục Phật giáo chú trọng thực thi con đường Giới-định-tuệ, lấy sự phát triển tâm linh, đạo đức, thiền định làm mục tiêu cho mọi sinh hoạt. Do đó các trường Phật học ngày nay cần sự kết hợp giữa giáo dục Phật giáo truyền thống giáo dục Phật giáo hiện đại trong bối cảnh cải cách giáo dục Việt Nam bao gồm cải cách chương trình, cải cách phương pháp giảng dạy… để thực thi sự nghiệp giáo dục Phật giáo Việt Nam trong thời đại hiện nay.
Ngày nay ngành Giáo dục Phật giáo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam đang xây dựng chuyển đổi thành một nền Giáo dục Phật giáo hiện đại phù hợp với xu hướng phát triển giáo dục trong thời đại phát triển hội nhập. Do đó, việc đổi mới về phương pháp giảng dạy trên sở phát huy truyền thống giáo dục Tự viện kết hợp phương pháp giáo dục hiện đại của hệ thống học đường, trong đó người học chủ thể cuả giáo dục, nhân vật trung tâm, nhằm nâng cao chất lượng dạy học theo xu hướng hiện đại. Chúng ta thể tìm thấy tất cả các phương pháp phạm hiện đại tiềm năng trong kinh đin Pht giáo. Trong các thời thuyết ging, Đức Pht rt linh động trong phương pháp. khi tự Đức Phật nêu vấn đề triển khai chi tiết (diễn giảng), khi do được hỏi, hay do Ngài gợi ý bằng câu hỏi (vấn đáp). Đức Phật thường dùng các phương pháp thí dụ, ẩn dụ, so sánh, đối chiếu, quy nạp, tổng hợp, diễn dịch, loại suy... Đây những phương pháp về sau này, các ngành khoa học đều thường sử dụng. Trong thin học, chúng ta có thể tìm thy nhng phương pháp đặc biệt của giáo dục Phật giáo qua kỹ thuật thiền định, sự tập trung quán tưởng, sự thâm nhập đề tài bằng tất cả tâm thức.
Điều cần lưu ý khi mọi phương pháp giáo dục tùy thuộc vào nội dung giáo dục do đó tùy thuộc vào mục tiêu, đối tượng, biện 
pháp cách tổ chức giáo dục. Phương pháp giáo dục còn tùy thuộc vào hoàn cnh, môi trường và thiết bgiáo dục. Trong lãnh vực dy (thầy) học (trò) với mục đích đạt hiệu năng qua năm phương pp: 1. Kích thích học sinh học tập; 2. Trình bày thông tin; 3. Rèn luyện kỹ năng; 4. Cũng cố hệ thống hóa tri thức; 5. Kiểm tra đánh giá kiến thức kỹ năng. Năm phương pháp này thể được thực hiện thông qua hai biện pháp: Diễn dịch (trình bày chủ đề rồi giảng giải, chứng minh) qui nạp (phân tích chủ đề rồi rút ra kết luận). Thực tế, mọi phương pháp giáo dục đều sự tham gia của thầy trò, trong đó trò chủ động (tránh việc giảng dạy theo một chiều). Do đó, giáo dục cần chú trọng đến việc tạo điều kiện cho người học tự khai mở, tự trau dồi chủ động trong việc suy tư, tìm kiếm, thâu nạp kiến thức rèn luyện kỹ năng... Ngày nay, nhiều phương pháp giáo dục hiện đại nhưng không phương pháp nào ưu việt, tất cả phải bổ túc cho nhau phụ thuộc vào nhiều yếu tố giáo dục. Theo thiển ý của chúng tôi, nếu được vận dụng linh hoạt sẽ nâng cao chất lượng giảng dạy tại các sở đào tạo Phật học.
Trong xu hướng phát trin, vic hình tnh Ban Giáo thọ sư cơ hữu của Trường có chuyên môn cao là điu tt yếu mang tính chuyên nghiệp của nền giáo dục hiện đại. Ngoại trừ một số tỉnh thành lớn trong cả nước thành phần Ban Giáo thọ chư Tôn đức kinh nghiệm tu tập, truyền trao giáo điển Phật đà nguồn nhân lực kế thừa tốt nghiệp Tiến sĩ, Thạc sĩ, Cử nhân Phật học, Cao đẳng Phật học. Còn lại các tỉnh thành khác ở vùng xa, thành phần Ban Giáo thọ do Chư Tôn đức lãnh đạo phải kiêm nhiệm nhiều Phật sự, đội ngũ kế thừa còn mỏng. Do đó, việc hình thành Ban Giáo thọ trình độ chuyên môn cao, học vị chuyên trách việc giáo dục đào tạo Phật học trọng trách của của các sở đào tạo. Thường xuyên được bồi dưỡng nghiệp vụ phạm hưởng chế độ ưu đãi, hữu, đây chính sở để phát huy năng lực giảng dạy, nâng cao chất lượng đào tạo Giáo hội giao phó.
Đặc trưng của nền giáo dục Phật giáo pháp học đi đôi với pháp hành. Do đó, việc xây dựng trường nội trú 100% cho Tăng Ni

sinh theo học quy luật tất yếu, nhằm tăng cường biện pháp thúc đẩy hiệu năng giáo dục đào tạo. Suy cho cùng, nội dung của giáo dục Phật giáo thường được gọi tam học hay tam lậu học. Đó Giới-định-tu. Toàn bộ giáo lý của Đức Pht và nhng lời ging dy của chư Tổ đều thể phân thành Giới-định-tuệ, để học để hành trì đưa đến giải thoát. thể xem đây điều kiện tất yếu nhằm nâng cao phẩm chất đạo hạnh của Tăng Ni sống theo quy củ Thiền môn. Ban Quản chúng chịu trách nhiệm quảnvề sự tu học, Ban Giám thị chịu trách nhiệm quảnTăng Ni sinh theo đúng nội quy của trường, lớp trong việc học tập thi cử. Hay nói khác, đây mô hình giáo dục học đường Phật giáo kết hợp giáo dục Tự viện trong môi trường tu học nội trútưởng sẽ góp phần nâng cao phẩm hạnh Tăng Ni sinh, sở phát triển nâng cao chất lượng đào tạo.
THAY CHO LỜI KẾT
Trên đây những ý niệm xây dựng phát nền giáo dục Phật giáo Việt Nam hiện đại dựa trên bản chất giá trị từ nền giáo dục Phật giáo truyền thống. Hạnh phúc được xây dựng trên nền tảng con người được giáo dục, nhất giáo dục Phật giáo. Đặc trưng của nền giáo dục Phật giáo dựa trên nền tảng giáo dục Duyên khởi. Chính vậy, khi hội con người càng phát triển bao nhiêu thì nguyêngiáo dục của Phật giáo cũng tùy duyên vận hành để đáp ứng nhu cầu phát triển hội. Mục đích cuối cùng xây dựng hướng con người đi đến giải thóat khổ đau hội an lạc.
***


Tài liệu tham khảo
Thích Minh Châu - Đức Phật nhà giáo dụcđại NXB. Tôn giáo, 2005.
Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, NXB. Văn học, Nội, 2000.
Trần Thị Thu Hương (Chủ biên), Nguyễn Đức Danh, Hồ Văn Liên, Ngô Đình Qua, Giáo dục học đại cương, NXB Đại học phạm TP.HCM, 2017.


 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây