29. THỰC TRẠNG GIÁO DỤC TĂNG NI CỦA TÔNG PHÁI TÀO KHÊ, PHẬT GIÁO HÀN QUỐC VÀ PHƯƠNG ÁN CẢI THIỆN

Thứ sáu - 06/12/2019 03:42
 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC TĂNG NI CỦA TÔNG PHÁI TÀO KHÊ, PHẬT GIÁO HÀN QUỐC PHƯƠNG ÁN CẢI THIỆN
 
NCS.SC. Giác Lệ Hiếu
 
  1. DN NHẬP
C thể nói tri thức một trong những yếu tố quyết định đến sự phát triển của một tổ chức hay một quốc gia. C tri thức, con người sẽ sống bình an hạnh phúc hơn. Bởi tri thức cội nguồn của những ảnh hưởng rất lớn đến hạnh phúc gia đình kể cả chính trị, an ninh, phát triển kinh tế hội. Những tri thức này không đến một cách tự nhiên c được qua quá trình học tập, rèn luyện. Chính thế, giáo dục đng một vai trò quan trọng trong việc phát triển hội.
Phật giáo cũng không ngoại lệ. Giáo dục đào tạo tu tập không chỉ điều kiện tiên quyết đưa đến sự giác ngộ, giải thoát còn phương tiện căn bản để hoằng pháp. Nếu chúng ta muốn tuyên dương giáo pháp, thì chúng ta phải hiểu Phật pháp cũng như phải biết hội cần gì. Phật pháp cũng không phải tự nhiên sinh ra biết được cần phải trải qua quá trình tu học




*. Nghiên cứu sinh TiếnPhật học, Đại học Dongguk, Seoul, Hàn Quốc.
 

nghiêm túc. Chính thế, Phật giáo cũng rất xem trọng vấn đề giáo dục đào tạo.
Giáo dục Phật giáo bao gồm giáo dục cho người xuất gia đệ tử tại gia. Trong giới hạn bài viết này chúng tôi tìm hiu về thực trng, những hạn chế đề xuất nhóm phương án cải thiện hệ thống giáo dục Tăng ni của tông phái Tào Khê, Phật giáo Hàn Quốc (gọi tắt Tào Khê tông).
  1. MỤC TIÊU GIÁO DỤC TĂNG NI CỦA TÔNG PHÁI TÀO KHÊ, PHẬT GIÁO HÀN QUỐC
    1. Định hướng, mục tiêu của giáo dục Tăng ni
Đặc trưng của giáo dục Phật giáo cthể diễn đạt bằng cụm từ như lý tác ý” (Yoniso manasikara, 如理作意). Đây là phương thức Đức Phật dạy chúng ta nhìn nhận mọi sự việc khách quan như nó đang là. Ngược lại, không tán thành cách đánh giá, tư duy chủ quan, không thực tiễn, không ràng. C thể nói đây nguyêngiáo dục của Phật giáo không những chỉ đúng với hội Ấn Độ cổ đại còn rất hợp lý ở mọi thời điểm, mọi vùng miền.
Ni rộng ra, tuy Phật giáo một tôn giáo nhưng phương pháp giáo dục không chỉ đặt hoàn toàn vào niềm tin quáng, ngược lại rất đề cao trí tuệ. Đồng thời, giáo dục Phật giáo không hướng dẫn tín đồ ph mặc mọi thứ vào những thế lực siêu nhiên, bởi mục tiêu, đối tượng giáo dục để được giải thoát trong Phật giáo chính con người.
Luật giáo dục của Tào Khê tông ghi định hướng phương thức giáo dục như sau:1
      1. Phải giáo dục cho Tăng ni tín tâm sâu vào Tam bảo phát nguyện dấn thân hành Bồ tát hạnh.
      2. Hiểu đúng về giáo pháp của Đức Phật thực hành theo đúng giáo thuyết của người, áp dụng việc tu tập vào đời sống hàng ngày.



1. Pháp lệnh Tào Khê tông, Luật giáo dục, điều 2, http://law.buddhism.or.kr/asp/_view/ linkView.asp?lawid=1482
 
 
      1. Nhất quán giữa việc hiểu giáo tu tập, hoằng pháp.
      2. C tầm nhìn đúng đắn về lịch sử biết tùy thuận chúng sinh để c thể áp dụng những phương pháp đúng đắn cho từng thời kỳ.
      3. Giáo dục Tăng ni c phẩm hạnh trí tuệ xứng đáng bậc thầy của nhân thiên, làm lợi lạc cho chúng sinh.
      4. Không tiếc thân mạng, nguyện dấn thân phụng sự Phật pháp, phụng sự giáo đoàn.
  1. Hình mẫu tu Phật giáo tưởng của tông phái Tào Khê, Phật giáo Hàn Quốc
Điều 1 chương 9 trong tông hiến của Tào Khê tông c ghi: “Tăng ni những người xuất gia sống đời độc thân, thọ giới cụ túc giới bồ tát trọn đời, nguyn cu Pht đo và hóa độ chúng sinh. Còn theo điều 1 Luật Giáo dục của Tào Khê tông (Luật sửa đổi ngày 19/9/2012): “Mục tiêu giáo dục trong tông phái đào tạo những người hiểu được giáo lý của đức Phật, c đủ năng lực, trải nghiệm tinh thần ha độ chúng sinh, giúp mình người cùng được giác ng, xây dựng Tịnh độ nn gian.2
Vị tu sĩ Phật giáotưởng theo Tào Khê tông được ghi trong “Luật Tăng ni” như sau: “Tu người lãnh đạo tinh thần của hội, nhà tu hành, bậc thầy của đại chúng, người thừa hành Đức Phật để ha độ chúng sinh, hoằng truyền chánh pháp, c sứ mnh xây dựng nước Pht ngay tại nn gian. Qua đó, chúng ta thấy được trách nhiệm, tưởng quan trọng của Tăng ni chínhtu tập truyền giáo. Ni cách khác, hình mẫu Tăng ni lý tưởng của tông Tào Khê vừa nhà lãnh đạo tinh thần vừa hành giả tu tập cn chính vì mục tiêu thượng cu Pht đo, hạ hóa chúng sinh. Chính thế, mục tiêu của giáo dục Tăng ni Tào Khê đào tạo nên những vị tu sĩ c đầy đủ những yếu tố như trên.



    1. Ko  Sang  Hyeon-Beopin,  “Chuỗi  chuyển  ha  về  chất  của  giáo  dục  Tăng  ni”, Bulgyohakno66, Viện Nghiên cứu Văn ha Phật giáo, 2013, tr. 222.
 

Trong Kinh Tăng Chi bộ và lut tạng (Kiến đo phần) đu nêu vị tu sĩ lý tưởng người học hành đúng theo Pháp Phật, giữ gìn giới luật, nhà đạo đức, nhà lãnh đạo tinh thần, bậc thầy của chư thiên loài người.3
Chúng ta cùng tìm hiểu về kết quả khảo sát gần đây: “Quan điểm của quần chúng về tôn giáo văn ha hội của Hàn Quốc” được thực hiện bởi viện nghiên cứu hội Phật giáo. Khi được hỏi vế ấn tượng/hình ảnh của tu sĩ Phật giáo c 41,7% người trả lời: “Là người tu nh, hướng dn cách thức để m được an định, 26,9% trả lời là người tự do thoát khi thế tục, 16,3% cho biết là nhng người phng sdn tn để cứu khổ thế giới, và 8,9% nhận xét là những chuyên gia về tôn giáo, giảng dạy về tri thức cuộc sống c trí tu. Một câu hi khác của nghiên cứu: Vai trò đúng đn của nhà trong hội hiện đại?” Với câu hỏi này, hơn một nửa số người tham gia khảo sát trả lời rằng “Là người chuyên tu để đạt giác ngộ” (52.0%), “cứu khổ cho hội bằng tinh thần từ bi” (22,0%), “Giữ gìn giới luật c đời sống thanh tịnh” (16, 9%).4
Kết quả khảo sát này cho thấyluận quần chúng cũng xem tu sĩ lý tưởng người phụng sự, người giải thoát, người lãnh đạo tinh thần, bậc thầy về trí tuệ c khả năng làm chủ tâm. Điều này thống nhất vớitưởng người tu của Tào Khê tông cả trong kinh điển nguyên thủy hay giới luật Đức Phật.
Tóm li, từ thời Pht giáo nguyên thủy đến Pht giáo hin đi, lý tưởng đặc trưng của Tăng đoàn chưa bao giờ thay đổi, đó phải đoàn thể người tu thanh tịnh, c trí tuệ. Để c thể xây dựng được Tăng đoàntưởng như thế, giáo dục Tăng ni đng vai trò quan trọng. Chúng ta cùng tìm hiểu những cải cách, thay đổi của hệ thống giáo dục Tăng ni tông Tào Khê thời cận hiện đại cho đến hiện nay.



    1. Lee Cha Rang, “Sự thiết lập tưởng lãnh đạo Tăng già trên nền tảng Luật Tạng ‘Kiến đạo phần’”, Triết học Ấn Độ Quyển 32 (Seoul: Hội Triết học Ấn Độ, 2011), tr. 221-250.
    2. Viện Nghiên cứu hội học Phật giáo (2012), “Báo cáo phân tích quan điểm của quần chúng về tôn giáo văn ha hội của Hàn Quốc”, Seoul: Viện Nghiên cứu hội học Phật giáo Tào Khê tông, tr. 116-132.
 
 
  1. QUÁ TRÌNH CẢI CÁCH THỰC TRẠNG GIÁO DỤC TĂNG NI CỦA TÔNG PHÁI TÀO KHÊ, PHẬT GIÁO HÀN QUỐC
  1. Quá trình cải cách giáo dục Tăng ni thời cận hiện đại
Quá trình cải cách giáo dục Tăng ni cận hiện đại được tiến hành từ cuối triều đại Chosun. Vào khoảng thế kỷ XVI-XVII, sách lịch (履歷) - một bộ sách đặc biệt của Phật giáo ghi lại hệ thống giáo dục Tăng ni trải qua các giai đoạn Sa di-Tứ tập (四集) - Tứ giáo (四 敎) - Đại học. Tuy vậy, người ta không xác định được bộ lịch này được biên tập, hình thành từ khi nào, được ứng dụng rộng rãi như thế nào. Trên nền tảng hệ thống này,từng cấp bậc c giáo trình Kinh đin (經典) - Thin tịch (禪籍) tương ứng. Trong đó, bậc Ttập đặc biệt tập trung giảng dạy về Khán thoại thiền (看話禪) Thiền giáo kiêm tu (禪敎兼修).5
Tiếp theo, chương trình giáo dục Tăng ni được xem nền tảng cho nền giáo dục hiện nay được cải cách bởi Lee Neung Hwa (1869
- 1943), giảng dạy theo chế độ Phật học viện tập trung, chia làm 4 cấp Sa di, Tứ tập, Tứ giáo Đại học, ngoài ra còn một phân khoa tự chọn. Để theo học hết chương trình này cần 10-11 năm.6
Đến giai đoạn Hàn Quốc chịu sự đô hộ của Nhật Bản, giới Phật giáo Hàn Quốc đã cố gắng rất nhiều để thành lập tổ chức độc lập, trong đó c những nỗ lực đa dạng, đa diện trong giáo dục Tăng ni. Tiêu biểu cuộc vận động thành lập đại học Phật giáo Dongguk (tiền thân trường chuyên Hyehwa). Tuy vậy, c thể nói rằng, do những yếu tố khách quan chủ quan (cuộc đấu tranh phân phái giữa Tân Tăng c gia đình theo Phật giáo Nhật Bản các tu sĩ độc thân theo Tào Khê), Phật giáo Hàn Quốc thời kỳ này vẫn chưa xây dựng được chính sách phát triển giáo dục Tăng ni bền vững c trình độ chuyên môn.



    1. Son Seong Pil-Jeon Hyo Jin, “Phân tích bộ Tứ Tập  四集 những tranh luận trong giới Phật giáo vào thế kỷ 1617”, 韓國思想史學第58輯, (2018. 04), tr. 242.
    2. Lee Neung Hwa, Lịch sử Phật giáo Chosun, Quyển hạ (Seoul: Boryeongak, 1990), tr. 989-990.
 

Sau đ, Phật giáo Hàn Quốc chính thức bước vào 3 thời kỳ cải cách giáo dục Tăng ni đáng chú ý như sau:
      1. Thời kỳ thứ nhất: từ cận hiện đại đến năm 1994
      2. Thời kỳ thứ hai: từ năm 1995-2009: hoàn thành chương trình giáo dục Tăng ni bản, xây dựng hệ thống, khung chương trình chung. Tuy nhiên, c thể nói cải cách này mang tính hình thức hơn đạt được thống nhất về nội dung chương trình.
      3. Thời kỳ thứ ba: từ sau khi Viện trưởng Viện giáo dục nhiệm kỳ thứ 6 (HyeonEung Sunim) nhậm chức năm 2010-nay: Thống nhất cả nội dung hình thức hệ thống giáo dục Tăng ni trong toàn tông phái.7
Thời kỳ thứ nhất được ghi từ cuối Chosun, nhưng thật ra cần hiểu chính xác từ khi Hàn Quốc thoát khỏi ách đô hộ của Nhật cho đến năm 1994. Giai đoạn này chưa c phân viện giáo dục riêng biệt, Phật giáo Hàn Quốc trải qua cuộc phân phái lớn nghiêm trọng nhất lịch sử giữa bộ phận Tăng ni sống đời độc thân những tu sĩ Phật giáo c gia đình theo văn ha Phật giáo Nhật Bản. Chương trình giáo dục Tăng ni về nội dung cả hình thức thế chưa c sự nhất quán.
Từ tháng 1 năm 1964 đã dần hình thành những trào lưu thành lập các sở đào tạo Tăng ni tập trung (tiền thân của những Phật học viện đại học Phật giáo)những ngôi già lam c truyền thống giáo học lịch sử lâu đời như Hwagyesa, Songwangsa, Haeinsa, Tongdosa. Tuy nhiên biến cố thời cuộc và khó kn vskng thống nhất giữa các giáo phái một lần nữa khiến cải cách giáo dục bị trì trệ. Kết quả thậm chí c giai đoạn Tăng ni phủ nhận vai trò của giáo họcđề cao thái quá thiền tập, chỉ chuyên tập trung các trường thiền. Nội dung giáo dục giai đoạn này vẫn còn thiếu các môn học mới, chủ yếu ch đọc hiểu dịch kinh từ nguyên bản Hán cổ.



    1. Viện Giáo dục Tào Khê tông trong dịp kỷ niệm 10 năm khai viện, đã tự họp bàn thống nhất phân chia 3 thời kỳ như thế, Giáo dục Tăng già, quyển 6, Nxb. Viện giáo dục Tào Khê tông, tr. 23-53.
 

Về sau, trong nỗ lực hình thành các trường đại học Phật giáo, căn cứ trên đề án cải cách giáo dục đo tràng Seonwoo, vào m 1994, cuối cùng thì Tào Khê tông đã thành lập Viện Giáo dục, ban hành pháp chế về giáo dục chịu trách nhiệm chính về xây dựng cải cách các chương trình giáo dục Tăng ni. Từ đây, quá trình cải cách định hình khung giáo dục mới chính thức được tiến hành.8
Thời kỳ thứ hai từ năm 1995, căn cứ trên pháp chế sửa đổi của luật giáo dục, Tào khê tông xây dựng chương trình giáo dục gồm các cấp như sau: Giáo dục cấp (dạy cho ngũ giới, tập sự) - Giáo dục căn bản (Đại học Tăng già trung ương, Đại học Tăng già địa phương (Phật học viện),  Khoa Phật học, Khoa thiền học trường Đại học Dongguk…) - Giáo dục chuyên môn (Học Lâm) - Giáo dục đặc biệt - Tái giáo dục (Các chương trình đào tạo, tập huấn ngắn ngày). Thời kỳ này, hành chính giáo dục đã đi vào ổn định, các hình thức nội dung chương trình giảng dạy dần được nhất quán. 9
Tuy vậy, giáo dục Tăng ni thời kỳ này thực tế vẫn chủ yếu diễn ra theo phương thức truyền thống thầy trò tiếp nối (師資相承), trong đ, vai trò sự tham gia hướng dẫn của tông phái cùng hạn chế, chủ yếu ch để duy trì tối thiểu việc quản Tăng tịch thôi.
Thời kỳ cải cách thứ 3, từ năm 2010, khi chương trình giáo dục tiêu chuẩn được hoàn thiện, thời kỳ diễn ra những thay đổi cả về chất lượng lẫn hình thức giáo dục các thời kỳ trước đ chưa làm được.
Giai đoạn này c những thay đổi bước ngoặt như cải cách sách giáo khoa, Hàn ha giáo trình, hiện đại ha phương pháp phạm, đào tạo thêm những môn ngoài ngành nhằm tăng cường sức sáng tạo của học tăng, thành lập những sở để đào tạo ngắn ngày, đào tạo chuyên môn, mở nhiều kha tập huấn đa dạng thu hút Tăng ni theo học… Để làm được những việc trên, viện giáo dục đã c những nỗ lực rất lớn trong việc xây dựng sở vật chất, thay đổi


    1. 2. Yoo Seung Mu, “Tìm hiểu 3 chương trình lớn của tông phái - Tập trung vào đánh giá kết quả tổng thể”, Giáo dục Tăng già, Quyển 6, Nxb. Viện giáo dục Tào Khê tông, 2004, tr. 370.
    2. Beopin, “Giáo dục Tăng đoàn, Phải phù hợp với lịch sử c giao tiếp với hội”, Bulgyo PyeongnonSố 42 (Seoul: tưởng Manhae, 2010), tr. 278-280.
 

phương pháp phạm, sửa đổi pháp chế liên quan đến giáo dục, nâng cao năng lực kể cả trong quản trong công tác đào tạo...10
Căn cứ trên việc thông qua đề án sửa đổi chương trình đào tạo của Viện giáo dục năm 2011, vào năm 2013, viện đã đưa hướng dẫn thi hành chi tiết về các môn học bắt buộc môn tự chọn như sau:

Bảng 1. Sự thay đổi môn học phương pháp giảng dạy Tăng ni trong Phật học viện11

 
Thờikỳ3 (2010-nay) Thờikỳ1-2 (1945-2009) Cậnđại (LeeNeungHwa)  

Năm

Họckỳ1

Họckỳ2
Bậc học Mônhọc chính   Tên            Mônhc gọi





Năm1

















 
  1. Be
  2. K

Đọc dịch kinh chữ Hán I
Khái luận Phật giáo
Phật giáo nguyên thủy
Lịch sử Phật giáo Hàn Quốc














opin (2010), nt, tr o Sang Hyeon-Beo
Đọc dịch kinh chữ Hán II
Khái luận thiền học
Luật-Giới luật đại thừa
Lịch sử Phật giáo Thế giới
Tìm hiểu tôn giáo thế giới
(E-learning)













. 284-292.
pin, nt, tr. 228.





Tri môn





Trimôn
 
Mười giới, sa di Bát Nhã tâm kinh,
Sadi   Phát bồ đề
tâm văn,
Thiền lâm bảo huấn, Tri môn cảnh huấn
 
 







Năm2

Đọc dịch kinh chữ Hán III
Phật giáo bộ phái đạo đức hiện đại (E-learning)
Tiếng Anh Phật Pháp I
Tìm hiểu về di sản văn ha Phật giáo (E-learning)
Đọc dịch kinh chữ Hán IV
Lịch sử Phật giáo Thế giới (E-learning)
Tiếng Anh Phật Pháp II
tưởng Bát Nhã-Trung Quán (E-learn- ing)
Nghi lễ Phật giáo I






Tứ tập





Tứ tạng,
đạo thư, thiền yếu






Tứ tập
Giáo trình thiền viện, Tứ tạng, Pháp tập biệt hành lục thiết yếu bình nhập (法集別 行錄節要 幷入私記), Cao Phong thiền yếu ( 高峰禪要)





Năm3

Đọc dịch kinh chữ Hán V Ngữ lục
Phương pháp luận hoằng pháp (E-learn- ing)
Nghi lễ Phật giáo II
Đọc dịch kinh chữ Hán VI
Hiểu về Thiền khán thoại
tưởng Duy Thức-Như lai Tạng
Phật giáo hội (E-learn- ing)





Tứ giáo
Kinh Lăng Nghiêm, Khởi Tín luận, Kinh Kim Cang, Kinh Viên Giác




Tứ giáo


Thủ Lăng Nghiêm Kinh, Đại thừa khởi tín luận, Kim cang bát nhã kinh, Viên giác kinh






Năm4



Đọc dịch kinh chữ Hán VII
tưởng Hoa Nghiêm
Môn tùy chọn Môn tùy chọn


Đọc dịch kinh chữ Hán VIII
tưởng Tịnh độ
Thi tốt nghiệp, luận án tốt ng- hiệp, đánh giá





Đại học





Kinh Hoa Nghiêm




Đại học
Kinh Hoa Nghiêm, Thiền môn niệm tụng, Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, Thiền gia Bửu giám, Diệu Pháp Liên Hoa Kinh
 


 
Phương    Giáo dục thông minh: Ứng pháp       dụng hế thống E-leraning LMS, giáo     chủ động học, chi tiết ha môn dục     học, Bài giảng của giáo
Giáo dục truyền thống: chủ yếu dùng sách giấy, giáo trình chính bằng tiếng Hán, bài giảng của giáo


2. Tình hình giáo dục Tăng ni hiện nay của Tào Khê tông
Từ trước khi tông phái tiến hành cuộc tổng cải cách năm 1994 thì giáo dục Tăng ni không c sự thống nhất. Ngoại trừ một vài ngôi chùa trọng yếu, còn lại các Tăng ni hầu hết đều không được tiếp nhận hệ thống giáo dục toàn vẹn. Thiếu sở vật chất. Thiếu yếu những nhà chuyên môn Phật học đủ tầm đứng lớp giảng dạy. không c bộ sách giáo khoa chung, mỗi ngôi chùa, mỗi Phật học việnnhiên c chương trình đào tạo tiêu chuẩn khác nhau.
Tháng 1 năm 1995, Viện giáo dục được tách riêng độc lập, với sự đầu tư mỗi nhiệm kỳ (4 năm) 10 tỷ won để phát triển chương trình cải cách giáo dục. Giáo dục Tăng ni chia thành bậc cấp, căn bản, chuyên khoa với chương trình học cụ th, thống nht. Trong Vin giáo dục cũng phân ban như ban giáo dục, ban soạn giáo trình giáo khoa, ban biên dịch kinh nhằm nâng cao tính chuyên môn trong từng phần việc.
Chế độ giáo dục bắt buộc (nghĩa vụ) được áp dụng từ năm 1995, yêu cầu toàn bộ người xuất gia phải tham gia hết chương trình giáo dục căn bản 4 năm mới đủ yêu cầu thọ cụ túc giới, mới chính thức được công nhận tu sĩ Phật giáo tông Tào Khê (c Tăng tịch). Đồng thời, để phân định tu sĩ dự bị (sa di, sa di ni, thức xoa ma na) với tu sĩ chính thức, chỉ cTỳ kheo, Tỳ kheo ni mới được mặc áo đồng màu, còn sa di, sa di ni mặc áo c viền cổ màu nâu.
Về sở giáo dục, Viện giáo dục chủ trương thành lập sở đào tạo cho sa di, sa di ni, gọi Phật học viện (Gangwon). Tính đến năm 2000, c 19 Phật học viện đủ tiêu chuẩn, trong đó c 13 Phật học viện Tăng, gồm Donghwasa, Baekyangsa, Beomeosa, Beopju- sa, Bulguksa, Songwangsa, Sudeoksa, Sanggyesa, Jikjisa, Haeinsa, Hwaomsa, Tongdosa, Seonunsa và Đại học Tăng già. Pht học vin
 

ni gồm Unmunsa, Donghaksa, Bongnyeongsa, Jeongamsa, Yumasa, Đại học Phật giáo Samseon.
Tháng 7 năm 1996, Viện giáo dục đã ban hành pháp chế liên quan đến Đại học Tăng già Luật viện, nhằm nâng cao, chuẩn ha các quan giáo dục chuyên sâu. Kết quả thành lập được 4 nơi gọi trung tâm đào tạo chuyên môn như Geumgang Luật viện (chùa Bongnyeong), Yeongsan Lut vin (chùa Pagye), Lăng Nghiêm Học lâm (Bongseonsa) Hoa Nghiêm Học Lâm (Silsangsa).12
Tháng 11 năm 2009, Hòa thượng HyeonEung nhậm chức viện trưởng viện giáo dục nhiệm kỳ 2 đã xúc tiến mạnh mẽ việc cải cách giáo dục. Tđây, chương trình giáo dục Tăng ni kng theo 4 cp Tri môn-Tứ tập-Tứ giáo-Đại học” như cũ, lấy Th n-Giáo-Luật nền tảng, kết hợp các chương trình giáo dục hiện đại như ngoại ngữ, máy vi tính, hoằng pháp hội học, các môn không phải tôn giáo học…
Về giáo trình, hòa thượng chủ trương “Hàn ha” toàn bộ sách giáo khoa. hội ngày nay với tầng lớp xuất gia trẻ những người không thạo chữ Hán cổ, lối giáo dục xưa với giáo trình tiếng Hán làm chủ đạo gây không ít khó khăn cho người học. Để học một bài, người học phải mất rất nhiều thời gian cho phần dịch nghĩa, không còn đủ thời gian đầunghiên cứu sâu vào nội dung kinh. Đây điểm cần khắc phục. Học bằng giáo trình tiếng Hàn, giúp tu sĩ giảm bớt thời gian dịch nguyên tác, tập trung hiểu nghĩađúng đắn của tư tưởng Phật giáo. Tuy nhiên, cũng không thể loại bỏ triệt để các môn đọc dịch tiếng Hán cổ- bởi đây lối giáo dục truyền thống vốn đã c rất lâu tại các Phật học viện cũ.
Bước vào thế kỷ XXI, cụ thể hơn một thập niên trở lại đây, giáo dục Phật giáo đối diện với những khó khăn mới. Nguyên nhân đến từ sự suy giảm người xuất gia, dẫn đến các Phật học viện thiếu học tăng, học ni rất nhiều. Viện giáo dục buộc phải tiến hành cải tổ sở đào tạo Tăng ni. Cụ thể, ngày 1 tháng 3 năm 2014, “pháp chế liên


  1. Kwon Oh Young, Sức mạnh thay đổi thế giới của Phật giáo, Tạp chí Pháp bảo, số 1269, ngày 12/11/2014, http://www.beopbo.com/news/articleView.html?idxno=84344.
 

quan đến tiêu chuẩn vận hành các Phật học viện” c hiệu lực, ghi như sau: Các học viện Phật giáo c dưới 40 người, mỗi niên kha c không đủ 10 người sẽ không được nhận tài trợ của viện giáo dục cho việc vận hành học viện. Đồng thời, viện giáo dục khuyến khích các học viện này chuyển đổi thành Viện nghiên cứu sau đại học. Đây quy chế nhằm ngăn ngừa việc giảm chất lượng giáo dục hướng đến sự điều hành hiệu quả hơn các đại học Phật giáo. Theo đ, năm 2012, c ít nhất 6 học viện đã chuyển đổi thành sở giáo dục căn bản (sơ cấp Phật học), hoặc chuyển đổi thành chuyên viện nghiên cứu, dịch kinh, luật viện...13
Ngoài ra, theo luật giáo dục sửa đổi năm 2010, sau khi thọ cụ túc giới, tu sĩ dưới 30 hạ lạp phải tham gia kha đào tạo bắt buộc mỗi năm tối thiểu 12 tiếng.
Tóm li, trong chiu dài lịch sử 1.700 m Pht giáo, truyn thống giáo học của Tăng ni thời xưa đã đào tạo nên những bậc cao tăng xứng tầm Quốc - bậc thầy giỏi nhất của thời đại. Trải qua những pháp nạn biến cố, Phật giáo Hàn Quốc ngày nay c những hạn chế nhất định. Từ sau 1994, với chính sách cải cách giáo dục Tăng ni đã mang lại những thành công đáng kể. Tuy vậy, trình độ của Tăng ni ngày nay so với giới trí thức hội hiện đại, để được công nhận bậc thầy thì vẫn còn rất kh. Bên cạnh đ, những sở cố thủ với cách giáo dục truyền thống hiện vẫn tồn tại. Bởi vậy, con đường cải cách giáo dục Tăng ni toàn diện vẫn còn rất dài rất xa.


  1. Kwon Oh Young, nt.
 
 

Bảng 2. Hệ thống sở giáo dục Tăng ni Tào Khê tông14

 
  Giáo dục cấp Giáo dục Căn bản Giáo dục chuyên môn Giáo dục Đặc biệt Tái giáo dục
Nội dung Tập sự/ ngũ giới (6 tháng)
Đào tạo tập trung cho bậc ngũ giới (21 ngày)
Phật học viện (Gang- won)
Thiền viện căn bản (Haeinsa, Donghwasa) Đại học Dongguk Đại học Tăng già
Học lâm (Silsangsa, Hwaom, Bongseonsa) Luật viện Thiền viện chuyên sâu Đại học Tăng già Tỳ kheo ni (Eunhaesa) Đại học Tăng già Tỳ kheo ni (Unmunsa) Osanhakgyo Munhwa hakgyo Viện đào tạo trung ương Đào tạo trụ trì
Đào tạo giáo chức
Đàotoy viêntnghi Đào tạo bậc quảntại các chùa hành chính Đào tạo theo hạ lạp
Thời gian 6 tháng 4 năm 2 năm 3 năm 3-7 ngày
So sánh Điều kiện để thọ giới sa
di- sa di ni
Magoksa, Sudeoksa, Beomeosa, Baekyangsa, Songwangsa, Tongdosa, Donghaksa, Unmunsa, Bong- nyeongsa, Jeongamsa, Haeinsa, Beopjusa, Bulguksa, Hwaomsa, ĐH Tăng già Samseon Bậc thạc sĩ, đăng tại trường, Luật viện: Haeinsa, Songwangsa, Tongdosa, Pagyesa Tiến sĩ- Tam tạng
Osanhakgyo Munhwa hakgyo
Là tiêu chuẩn để phong giáo phẩm, giáo chức





  1. Đại học Dongguk, Hội đồng môn Seoklim (1997), Nxb. Phật giáo hiện đại, tr.263.
 

IV. NHỮNG HẠN CHẾ CÁC NHÓM GIẢI PHÁP CẢI THIỆN HỆ THỐNG GIÁO DỤC TĂNG NI CỦA TÔNG PHÁI TÀO KHÊ, PHẬT GIÁO HÀN QUỐC
  1. Những hạn chế: Giáo hành phân ly
Phật giáo tôn giáo của sự thực hành, tu tập. Mục tiêu của giáo dục Phật giáo chính để đạt đến giải thoát, trở thành bậc giác ngộ.15 Hành giả học Phật đúng đắn đều hiểu rằng, để đạt đến giác ngộ thì phải song hành việc học tu cho rốt ráo. Tuy nhiên hiện nay, giáo dục Tăng ni lại đang rơi vào tình trạng giáo hành phân ly.
Chương trình giáo dục căn bản tại học viện Tăng già như sau: Thiền học khái luận, Ngữ lục thiền 1, tu thiền luận, phương pháp luận hướng dẫn tham thiền, Khán thoại thiền những môn bắt buộc. Về sinh hoạt tôn giáo c những môn Nghi thức Phật giáo, Thực tập
tu (수행실수), hòa chúng (대중습의). Về nghi lễ Phật giáo c các
môn Lễ Phật, Lễ thù ân, 108 lễ sám hối, cúng ngọ, pháp hội… Riêng về Thực tập tu, gồm niệm Phật, tọa thiền, lạy sám hối, tụng kinh, bố tát, tự tứ, chấp tác, tri sự… các Phật học viện hiện vẫn còn duy trì nghi thức quá đường như nghi thức sinh hoạt chung cho đại chúng.16
Chương trình giáo dục chuyên môn tại các thiền viện (Viện ng- hiên cứu Tăng già sau đại học) gồm cNgữ lục thiền, Lịch sử thiền tông, Tài liệu tham khảo liên quan thiền, Phương pháp luận hướng dẫn tham thiền.
Qua hai chương trình giáo dục căn bản chuyên môn, chúng ta đều thấy c các môn giáo học liên quan đến thiền, nhưng lại hoàn toàn không c giờ thực tập thiền đúng nghĩa (實參實修). Ni cụ thể hơn, học tăng học ni c thể học vềluận thiền tại học viện, nhưng không c thiền tập. Còn vào trường thiền chuyên biệt thì chỉ chuyên ngồi thiền không c giờ học giáo phương pháp lun liên quan. Điu này dn đến spn cực giữa giáovà nh.


    1. Viện Giáo dục Tào Khê tông (2014), “Bách thư giáo dục cùng HyeonEung sunim - Viện trưởng Viện giáo dục nhiệm kỳ 6”, Nxb. Gyejong, tr. 31.
    2. Cho Ki Ryong, “Định hướng giáo dục Tăng già đặc trưng cuộc cái cách tông phái Tào Khê, Phật giáo Hàn Quốc”, Thiền học, tập 50 (2018.8), tr. 22.
 

Ngay cả trước khi cuộc cải cách giáo dục được tiến hành thì việc chuyên tu (ngồi thiền) chuyên học (chỉ học giáo lý) cũng đã diễn ra sự phân ly, không tiến hành song song trong quá trình đào tạo Tăng ni. Còn hiện nay, khi xây dựng hệ thống giáo dục chuyên biệt, thiền viện hoàn toàn biệt lập với Phật học viện/ đại học Phật giáo thìràng việc vừa học vừa thực tập tu không thể diễn ra trong cùng một không gian. Sau khi tông Tào Khê tiến hành hàng loạt những cải tổ cho phù hợp hơn với thời đại, thì vấn đề học hành của tu vẫn chưa c hướng đi hài hòa, thống nhất.17
Sự phân ly giữa giáo hành trong chế giáo dục đào tạo Tăng ni như thế này đưa đến kết quả tạo nên một nền giáo học không đủ thực hành một sự tu tập không c đủ giáo điển để giải thích, phân tích. Ngoài ra, việc phân ly này còn dẫn đến một hệ lụy khác, Tăng ni xem nhẹ giáo điển truyền thống (nội điển) tập trung tăng cường học ngoại điển. Đây nguyên nhân dẫn đến sự tổn hại đặc trưng riêng c của giáo dục Phật giáo, khiến giáo dục Phật giáo không khác với việc đào tạo những nhà nghiên cứu, hơn đào tạo một vị Phật tương lai.
Vậy nên, nhiệm vụ mới của giáo dục Tăng ni cần phải xây dựng được môi trường học c tu tu c học. Được vậy mới c thể đào tạo nên Tăng ni xứng đáng bậc thầy của nhân thiên.18
  1. Đề xuất các nhóm giải pháp
2.1. Không tách rời tam học 三學
Mục đích tối hậu của Phật giáo chính giải thoát, tự tại khỏi những nỗi khổ đau về thân tâm. Con đường đưa đến sự giải thoát đó chính tu tập Bát chánh đạo. Nội dung tu tập chính yếu của Bát chánh đạo không ngoài tam học: Giới-Định-Tuệ戒․定․慧. Không c chương trình tu học thay thế nào, không c cải cách nào ngoài ba môn học này c thể đem đến giác ngộ tuyệt đối. Tam học

  1. Cho Ki Ryong, nt, tr. 23.
  2. Viện giáo dục Tào Khê tông (2014), sđd, tr. 31.
 

chính nền tảng, nội dung, đường lối tu tập khu biệt Phật giáo với các tôn giáo khác với các chế độ giáo dục đào tạo khác.
Đầu tiên giới. Giới chính biểu hiệncách của người tu. Sa di c 10 giới, Tỳ kheo c 250 giới, Tỳ kheo ni c 348 giới. Chính người tu giữ giới mới hình thành nên Tăng đoàn thanh tịnh hòa hợp. Giới giềng mối, căn cứ để người xuất gia khác với người tại gia, để hành giả c thể xứng đáng được gọi người tu hành theo Phật giáo. Đối với tu sĩ, không thể c phương tiện tu tập nào thay thế ngoài giới định tuệ. Giới luôn đi cùng với định tuệ, đây ba yếu tố tương hỗ bt ly. Trong Thiền gia quy gm (禪家龜鑑) có ghi như sau: “Giới cũng định định cũng tuệ tuệ cũng vậy, một đủ cả ba kng phải là tướng độc lp nhau.19 Rõ ràng, chúng ta thy trong giới c định tuệ, trong tuệ c giới định, trong định c giới tuệ. thế khi tách rời Tam học thì không còn Tam học nữa.
Hiện nay hệ thống chương trình, sở giáo dục Tăng ni của Tào Khê tông đang khiến quá trình thực hành Tam học bị tách rời. Giáo dục Tăng ni nhằm phát triển định-tuệ, nhưng môi trường giáo dục của Tào Khê lại không đủ đảm bảo cho việc tu tập quán chiếu để phát triển định tuệ. Ngoài ra, việc tinh chuyên trì giới cũng không được đảm bảo. Đây hạn chế rất lớn cần khắc phục.
Nếu chúng ta từ bỏ mục đích trở thành Phật trong chương trình giáo dục Tăng ni thì việc học Phật không khác biệt so với học các đạo đức khác. Tăng ni cả Phật tử tại gia cần luôn ghi nhớ mục tiêu học Phật của mình để thành Phật. Nếu không, những giá trị tôn giáo cao quý của đạo Phật sẽ bị mai một, tổn thương rất nhiều.
Trong Tam học này, chúng ta cũng kng nên coi trng thái quá một yếu tố nào bỏ qua, không tu tập những yếu tố còn lại. thực hành tam học thực hành cùng lúc, tương hỗ với nhau, chứ không phải độc lập nhau. Tuy nhiên, hiện nay Tăng ni Hàn Quốc đang c khuynh hướng lựa chọn lấy hay bỏ (取捨選擇) một trong tam học. Thể hiện qua việc Tăng ni chọn giới thì đăng vào luật


19.     戒也定也慧也 擧一具三 不是單相”
 

viện, chuyên định thì vào thiền viện, chọn trí thì vào học viện. Thậm chí ctưởng giữ giới học giới để trở thành luật sư, hành thiền để giữ chức phương trượng trong thiền đường, hay trở thành pháp giảng chuyên học giáo điển. Theo lối tư duy chọn chuyên ngành như vậy, thì việc học Phật đó chỉ đào tạo nên những chuyên gia trong từng lĩnh vực chứ không thể đạt đến giác ngộ, giải thoát rốt ráo. Cũng nên nhấn mạnh một lần nữa, hành giả tu theo Phật phải thực hành Tam học đồng thời. Khi hành giả nghiêm túc trì giới thì tự nhiên c định tuệ sanh, khi c định thì giới tuệ cũng sanh nhờ c tuệ thì giới định viên mãn.20
Liên quan đến vấn đề này, Tào Khê tông cần phải tham khảo mô hình giáo dục Tăng ni của Thiên Thai tông. Giáo dục Tăng ni của Thiên Thai tông c thể được mô tả bằng cụm từ thiền nông nhất thể (禪農一體). Tuxem việc làm nông ngồi thiền một, giữ truyền thống ban ngày làm việc, khi chiều tối thì học kinh (晝耕夜 ), tu thiền.nhiên lấy dụ này không phải để khuyên Tăng ni Tào Khê ban ngày làm nông tối học kinh như thế. chủ ý muốn đề xuất một hướng nghiên cứu cho mô hình giáo dục Tăng ni bao gồm trọn vẹn Giới Định Tuệ: buổi sớm dậy ngồi thiền, ban ngày chấp tác, tối đến học kinh.21
    1. Hài hòa giữa truyền thống hiện đại
Vic cải cách Tông phái bao gồm cả cải cách giáo dục Tăng ni, nỗ lực xây dựng chương trình giáo dục hiện đại ha. Điều này thể hiện qua chương trình giáo dục c bổ sung nhiều môn ngoại điển. Tuy thế, hiện đại ha một khái niệm tương đối. Thời gian hiện tại ngay khi nói ra cũng trở thành quá khứ tương lai cũng sẽ trở thành thì quá khứ. Chính vậy, chương trình giáo dục Tăng ni không chỉ nhấn mạnh vào ngoại điển, tập trung vào những môn học hiện đại cần phải c sự hài hòa giữa giáo điển truyền thống những

  1. Lee Jeong Mo (Thae Won), “Phương pháp thực hành Phật giáo - trọng tâm Tam học”, Nghiên cứu Tịnh độ học 11, Hội Tịnh độ Hàn Quốc, 2008, tr.11.
  2. Baek Jun Hom, “Phương hướng thực hành tam học của Phật giáo Won”,   Jeongsin gyebeok 14, Viện Nghiên cứu tư tưởng Phật giáo Won trường Đại học Wonkang, 1995, tr.163.
 

môn học ngoài Phật học. Chúng ta xây dựng chương trình giáo dục phù hợp với hội ngày nay không c nghĩa đánh mất đi, chối bỏ hẳn truyền thống giáo dục đã đang c.22
Hòa thượng Byeopin đã tm gọn phương án cải thiện giáo dục Tăng ni như sau:23
Th nhất, sách giáo khoa cần phải được thống nhất triệt để in mới. Hiện naynhững sở giáo dục địa phương vẫn còn dùng sách từ thời Chosun. hội Hàn Quốc hiện đại trong những thập kỷ qua có quá nhiu thay đổi. Trong khi đó nhà chùa vn còn cthủ vào giáo trình từ thế kỷ trước thì chắc chắn c rất nhiều sai biệt trong nhân sinh quan, thế giới quan, hội quan. Nếu chỉ dựa vào những môn học trong Tứ tập Tứ giáo thì Tăng ni chẳng những không đủ tư chất để thích ứng với hội năng động hiện đại còn không thể tìm hiểu, nghiên cứu Phật giáo một cách toàn diện sâu sát. Theo đ, cần thiết kế chương trình c đầy đủ nội dung hơn, bao gồm những môn nội điển như lịch sử Phật giáo, Phật giáo nguyên thy, tư tưởng Trung Quán, tư tưởng Duy Thức, Thc hành thin, Pht giáo ứng dụng… để c thể tiếp cận tưởng Phật giáo đa diện, sâu sắc. Ngoài ra cũng cần bổ sung những môn ngoại điển, ứng dụng được trong hội hiện đại như triết học, hội học, nhân học…
Th hai, sách giáo khoa phải viết bằng tiếng Hàn. Hiện nay các Phật học viện truyền thống vẫn còn dùng giáo trình thời Chosun (nguyên bản tiếng Hán cổ) làm giáo trình chính khi học nội điển. Với khung thời gian ít ỏi cho từng môn, so với số lượng từ Hán cổ khó không thông dụng quá nhiều, Tăng ni phải mất rất nhiều thời gian để đọc hiểu cho đúng nội dung kinh, dẫn đến kết quả để giảng dạy trọn vẹn một bộ kinh cho đúng giáo án, cho đủ nội dung bất khả thi. Đã đến lúc chúng ta cần mạnh dạn thay đổi toàn bộ giáo trình Hán cổ sang tiếng Hàn, lựa chọn những bản dịch chuẩn, c đối chiếu nhiều bản dịch với nhau, sẽ c hiệu quả tốt hơn trong nghiên cứu.

  1. Viện giáo dục Tào Khê tông, sđd, tr. 32-33.
  2. Beopin, “Giáo dục Tăng đoàn, Phải phù hợp với lịch sử c giao tiếp với hội”, Bulgyo Pyeongnon Số 42 (Seoul: tưởng Manhae, 2010), tr. 284-290.
 

Th ba, cần hiện đại ha phương pháp giáo dục. Phương pháp phạm đúng hiện đại ha cũng quan trọng không kém so với công tác Hàn ha giáo trình giảng dạy. Phương pháp giảng dạy chủ yếu hiện nay tại các Phật học viện đọc dịch/đọc hiểu một bản kinh (tài liệu do giảng viên cung cấp). Đây phương pháp phạm c nhiều hạn chế trong việc phát huy sức sáng tạo của học viên. Nhất trong hội đặt nặng việc học như Hàn Quốc, chúng ta không thể giáo dục Tăng ni phương pháp thụ động với một bản kinh được cho mày mò dò từ điển. Cần thay đổi phương pháp phạm, để c thể cung cấp cho Tăng ni năng lực giải quyết, phân tích, lựa chọn trong rừng thông tin thời đại kỹ thuật số cung cấp miễn phí. Đồng thời phải giúp nâng cao sức sáng tạo, sự chủ động cho học viên. Ngày nay, so với vic giải mã” nhng ám hiu, nhng chviết đã không còn thông dụng, thì kỹ năng quan trọng hơn cần rèn luyện đó chính khả năng tổng hợp phân tích thông tin, dữ liệu, nội dung nội-ngoại điển đem lại. Học, hiểu được thì mới đem áp dụng những tri thức đó vào trong đời sống thực tiễn được. Để đạt được mục tiêu này, phương pháp phạm cần đổi mới cho phù hợp.
Th tư, rèn luyện năng lực phân tích ứng dụng nhân học. Để Tăng ni nắm bắt được xu hướng thời đại, c định hướng đúng đắn cho bản thân cũng như làm tốt vai trò hướng đạo cho Phật tử tại gia, thì ngoài những môn học truyền thống, chương trình giáo dục nên bổ sung các môn liên quan đến nhân học như triết học, văn học, lịch sử… C những kiến thức đa dạng hỗ trợ, Tăng ni vừa c khả năng giải thích, diễn dịch tưởng Phật pháp phù hợp với thời đại, vừa phát huy tối đa sức sáng tạo những năng lực riêng c của từng người. Xu hướng giáo dục hiện nay không ch cần c kiến thức chuyên sâu về một lĩnh vực cần c tầm hiểu biết rộngnhiều lĩnh vực khác nhau, nhất các lĩnh vực c liên quan gần gũi đến chuyên ngành Phật học.
    1. Xúc tiến giao tiếp với cộng đồng hội
Phật giáo đã được công nhận một tôn giáo đại chúng từ thời Tam quốc đến Shilla thống nhất cho đến Goryeo với lịch sử truyền thừa hoằng pháp hiệu quả. Tuy nhiên, đến thời kỳ Chosun, Phtgiáo
 

gặp pháp nạn lớn bởi chính sách sùng Nho bài Phật của triều đình. Từ đ, Phật giáo mất đi sức ảnh hưởng dần trở nên kém thích ứng trong việc hoằng pháp cho giới trẻ trong bối cảnh hội hiện đại.24
Ngày nay, khi người ta nghe đến hai từ già lam, đa phần liên tưởng ngay đến những ngôi chùa tịch mặc nằm sâu trong rừng hay tít trên non cao. Đây không phải mô hình vốn c của các ngôi chùa. Ni cách khác, một kiểu thụ động, im ắng, thiếu tính nhập thế vốn không phải hình mẫu đúng đắn của các ngôi già lam truyền thống. Khi Đức Phật còn tại thế, Tăng đoàn của ngài không phải một tập thể lánh đời, quay lưng với những trách nhiệm hội. Nếp sinh hoạt ôm bát khất thực căn bản đã không ủng hộ cho lối sống biệt lập, xa rời quần chúng. Chư Tăng những người đã cắt đứt những mối nhân duyên ràng buộc cá nhân, nhưng Tăng đoàn không phải tập thể đoạn tuyệt với những giao lưu, giao tiếp hội. Đức Phật đã dành 24 mùa mưa antại Kỳ Viên tinh chứ kng phải vào rng sâu, sng n dt. Trúc Lâm tinh xá hay KViên tinh đều những nơi c vị trí gần với hoàng thành, thích hợp cho những tương tác hội vừa đủ.
Tuy nhiên, vào thời Chosun, chịu tác động của chính sách sùng Nho bài Phật, những ngôi chùa lần lượt bđánh bật ra khỏi kinh thành, bị dời lên non cao. Chính vị trí địa không thuận tiện này làm cho chùa chiền hội mất sự nối kết, tu không hòa nhập được với thời cuộc.
Để khắc phục được vấn nạn này, chúng ta cần hướng đến lối sinh hoạt tôn giáo với mục đích cứu khổ độ sinh, hơn cổ xúy nếp sống thụ động, tách rời hội. Tu những người không chỉ tu tập mục đích tự lợi (giác ngộ thành Phật) còn lợi tha (cứu khổ ban vui, giúp người cùng chứng đắc). Phật giáo thời hiện đại cần xây dựng những trung tâm hoằng pháp c vị trí dễ tiếp cận, giúp cho việc hội nhập hội được tốt hơn. Phật giáo cần chứng minh những giá trị ứng dụng to lớn của mình, khởi đầu từ việc gần gũi với


  1. Cho Ki Ryong, “Định hướng giáo dục Tăng già đặc trưng cuộc cái cách tông phái Tào Khê, Phật giáo Hàn Quốc”, Thiền học, Tập 50 (2018.8), tr. 28.
 

quần chúng, giúp mọi người dễ dàng c hội học tập thực hành những lời dạy minh triết của Đức Phật.
Đồng thời, Phật giáo cần một đối sách chiến lược mang tính tổng hợp để thu hút thêm nhiều tín đồ ở lứa tuổi mầm non, thanh thiếu niên. Đối với lứa tuổi này, cần phát triển nhiều chương trình đa dạng, hữu dụng c hệ thống, như các lớp học ngoại ngữ, giáo lý, những chương trình hoạt động hội những lớp phát triển kỹ năng, năng khiếu… trên nền tảng giáocăn bản của Phật giáo.25
V. KẾTLUẬN
Bài tham luận này đã tìm hiểu về thực trạng, những hạn chế đề xuất nhóm giải pháp cho giáo dục Tăng ni Tào Khê tông. Tính đến nay, đã hơn 50 năm kể từ khi tiến hành cuộc cải cách giáo dục, Phật giáo Hàn Quốc vẫn đang đối diện với hai luồng tranh luận lớn: giáo dục Phật giáo để đào tạo ra những học giả hoằng pháp viên, hay giáo dục để đào tạo những nhà tu hành. Nguyên nhân của những tranh luận này đến từ hạn chế của chương trình đào tạo không triển khai trọn vẹn được Tam học, của việc phân chia quá ràng ranh giới của Giáo-Thiền-Luật, khiến tu sĩ đối diện với hoàn cảnh phải lựa chọn một “chuyên ngành” không c hội học thực hành đồng thời những môn học, những thực tập vốnc giá trị vai trò hỗ trợ cho nhau.26 Nghĩa là, chương trình giáo dục hiện nay đã gây nên nhận thức phân biệt, tạo lằn ranh giữa hành giả học giả, thiền sinh hoằng pháp viên, giảng luật sư…
hội hiện đại đặt ra yêu cầu cho một chương trình phương pháp giáo dục mới, kết hợp hài hòa giữa truyền thống hiện đại, giữa giáo hành, giữ liên kết với hội nhất không phân ly Tam học- nền tảng của phương pháp tu tập để đạt đến giác ngộ giải thoát- vốn mục tiêu tối hậu của tu sĩ Phật giáo.


  1. Park Kyeong Jun, “Triển vọng khó khăn của Phật giáo thực tiễn”, Quan niệm lịch sử của Phật giáo thực tiễn, Nxb. Đạo thư, Hyengwon, 2002, tr. 514.
  2. Beopin, Tăng đoàn ngày nay, ý chí niềm tin?, 2013.07.31. http://www.bdgyofocus.net/news/artideView.html?idxo=68085, 2013.09.25.
 



Tài liệu tham khảo
Baek Jun Hom, “Phương hướng thực hành tam học của Phật giáo Won”, Jeongsin gyebeok 14, Viện Nghiên cứu tư tưởng Phật giáo Won trường Đại học Wonkang, 1995, tr. 143-171.
Beopin, “Giáo dục Tăng đoàn, Phải phù hợp với lịch sử c giao tiếp với xã hi, Bulgyo Pyeongnon Số 42 (Seoul: Tư tưởng Manhae, 2010), tr. 278-280.
Cho Ki Ryong, “Định hướng giáo dục Tăng già đặc trưng cuộc cái cách tông phái Tào Khê, Pht giáo Hàn Quốc, Thiền hc, Tập 50, 2018.8, tr. 5-37.
Đại học Dongguk, Hội đồng môn Seoklim (1997), Nxb. Phật giáo hiện đại.
Kim Bong Jun, “Kiểm nghiệm phản tỉnh về cuộc vận động cải cách Pht giáo m 94, Bulgyo Pyeongnon 8, Nxb. Pht giáo thời đại, 2001, tr. 216-234.
Kim Jin Hyeon (Hyeon Sik), “Nghiên cứu về chương trình đào to căn bn của giáo dục Tăng ni Tào Ktông, Pht go hc Hàn Quốc tập 65, Seoul: Hiệp hội Phật giáo Hàn Quốc, 2013.
Kim Kwang Sik, “Phật giáo Hàn Quốc hiện đại cuộc vận động thanh tịnh hóa Pht giáo, Vin Nghiên cứu sPht giáo hin đại Hàn Quốc, Nxb. Phật giáo thời đại, 2006, tr. 149-169.
Ko Sang Hyeon-Beopin, “Chuỗi chuyển ha về chất của giáo dục Tăng ni, Bulgyohakno 66, Vin Nghiên cứu văn hóa Pht giáo, 2013, tr. 219-245.
Lee Cha Rang, “Sự thiết lậptưởng lãnh đạo Tăng già trên nền tảng Lut Tng ‘Kiến đo phần, Triết hc n Đquyn 32 (Seoul: Hi Triết học n Đ, 2011), tr. 221-250.
Lee Neung Hwa (1990), “Lịch sPht giáo Chosun, Quyn h, Seoul: Boryeongak.
 

Park Kyeong Jun, Trin vng và khó kn của Pht giáo thực tin, Quan niệm và lch scủa Pht go thực tiễn, Nxb. Đo thư, 2002, tr. 487-525.
Son Seong Pil-Jeon Hyo Jin, “Phân tích bộ Tứ Tập 四集 nhng tranh lun trong giới Pht giáo vào thế kỷ 1617, 韓國思 想史學第58輯, 2018. 04.
Viện Giáo dục Tào Khê tông (2014), “Bách thư giáo dục cùng HyeonEung sunim - Viện trưởng Viện giáo dục nhiệm kỳ 6”, Nxb. Gyejeong.
Viện Giáo dục Tào Khê tông (2006), “10 năm khai viện - Thành quả và nhng vn đề tồn ti, Giáo dục Tăng già, quyn 6, Nxb. Vin Nghiên cứu giáo dục Tào Khê tông.
Viện Giáo dục Tào Khê tông (1995), “Lịch sử và thực trạng của Đại học Tăng già đa phương, Giáo dục Tăng già, quyn 1, Nxb. Viện Nghiên cứu giáo dục Tào Khê tông.
Viện Nghiên cứu văn ha Phật giáo đại học Dongguk dịch, “Phật giáo học Đông Á cn đi, Seoul: Nxb. Đại học Dongguk, 2008.
Viện Nghiên cứu hội học Phật giáo (2012), “Báo cáo phân tích quan điểm của quần chúng về tôn giáo văn ha hội của Hàn Quốc, Seoul: Vin nghiên cứu xã hi học Pht giáo Tào Khê tông, tr. 116-132.
Yoo Seung Mu, “Tìm hiểu 3 chương trình lớn của tông phái - Tp trung vào đánh giá kết quả tng th, Giáo dục Tăng già, Quyn 6, Nxb. Viện giáo dục Tào Khê tông, 2004.
‘Việc học phương pháp phạm hiện đại của những giáo tu sĩ – Lễ khai kha phương pháp phạm Tăng già, Viện Nghiên cứu giáo dục, Tp chí Pht giáo, 2011.10.18,
Sức mạnh thay đi thế giới của Pht giáo, Tp chí Pht giáo, 2014. 11. 12, http://www.beopbo.com
http://www.ibulgyo.com/news/artideView.htmPidx- no:114164.
 
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây