28. BỔ SUNG HỌC PHẦN TOÁN HỌC VÀO CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO PHẬT HỌC Ở CÁC HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Thứ sáu - 06/12/2019 08:18
BỔ SUNG HỌC PHẦN TOÁN HỌC VÀO CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO PHẬT HỌC Ở CÁC HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM
 
TS.TT. Thích Nguyên Đạt


Hãy trắc lượng, hãy trắc lượng, dẫu không phải lúc nào cũng trắc  lượng được.”(Socrates)
Một ngành khoa học chỉ trở nên hoàn thiện khi sử dụng được  ngành khoa học định lượng, đó
Toán học. (Karl Marx)
  1. TOÁN HỌC BỘ MÔN BẮT BUỘC TRONG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
Toán học (mathematics) kng phải chỉ là nhng con s, nhng cách tính toán phục vụ cho việc cân, đong, đo, đếm hằng ngày hay những định lý, phương trình, hàm số đầy chất trừu tượng phục vụ cho nim tha n của tư duy thun túy. Toán học trên hết nói như Galileo Galilei là ngôn ngmà Thượng đế viết nên vũ tr. Với loại hình ngôn ngcon s, ký hiu, Toán học trình bày bn cht cũng như thuộc tính của thực tại thế giới đời sống trong một phương


*. Ủy viên HĐTS GHPGVN, Phó Viện trưởng, Trưởng phòng đào tạo Sau đại học, Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế.
 

cách hữu hiệu, đơn giản tổng quát. Nói khác, thực tại được trình hiện ngang qua những con số, với những con số bằng những con số, đang khi tự thân những con số thực tại. Trên phương thế này, Toán học chính là Triết học. Hơn na, trong phương din giáo dục, Toán học là phương thức suy lun, lun lý logic, là phương tin làm sắc bén nhạy cảm cho của tư duy.
Theo từ nguyên (etymology), Toán học - mathematics, nghĩa là điều cần được học điều được học. Hôm nay,các đại học trên thế giới, Toán học được đồng nht xem là ngành khoa học cơ bn (Basic Science). Điu này nói rng, Toán học là nn móng của tt cả mi tri thức, mi ngành học thut, bao gồm từ Triết học đến các ngành Khoa học hội - Nhân văn Khoa học Tự nhiên.
Chính bởi như cách nói của Carl Friedrich Gauss: Toán học Nhoàng của c ngành khoa hc, nên hu như mi chương trình đại học, ở nước ngoài và cả ở Vit Nam, đu có học phần Toán học, chí ít như một học phần bắt buộc thuộc khối kiến thức chung, đại cương. Đó là, tùy theo pn ngành mà Toán học được ging dy chuyên sâu hay tổng quát. Cụ thể, trong các chương trình Đại học Vit Nam, kng kể các chuyên ngành liên quan trực tiếp đến Toán như Sư phạm Toán, Toán - Tin..., các pn ngành thuộc khoa học tự nhiên như Vật lý, Hóa học, Sinh học..., thậm chí Y khoa đều các học phần Toán cao cp bt buộc. Các ngành thuộc khi khoa học Xã hi - Nn văn như Triết học luôn có học phần Toán Cao cp đại cương, các ngành lịch sử, Văn học, Đông phương học.... đều học phần Toán Xác sut - Thống kê. Điu này cho thy Toán học là bộ môn thiết yếu bắt buộc trong giáo dục đại học. Cũng thêmđây rằng, các chuyên ngành hội - Nhân văn nếu chỉ dừng lại với Toán học Thống kê xã hi có lẽ là chưa đ, bởi Toán học kng chỉ công cụ, ẩn dưới nó cả một nội hàm triết học về thực tại, mang trongnhững giá trị hình của tư duy giáo dục.
  1. TOÁN HỌC VÀ PHẬT HỌC
Thoạt nhìn, dường như chẳng có mi liên hệ nào giữa Toán học, một ngành học thuật của những con số, Phật học, một ngành
 

học thuật tôn giáo. Tuy nhiên, nếu cận cảnh hơn, cả hai ngành học thuật này bao hàm nhiều điểm đồng nhất để từ đó một hay nhiều phép bắc cầu giữa chúng thể được thực hiện. Chí ít, ở trên hai bình diện sau:
  • Triết học
  • Khoa học
  1. Bình diện triết học
Dẫu xuất phát điểm Phật giáo thể không được xem một Triết học (hiu theo nghĩa hp tư bin của thut từ này), nhưng Pht học, quả thật, một hệ thống triết học. Bởi nơi đây, những vấn đề căn để của con người thế giới, bao gồm bản thể luận (ontology), nhận thức luận (epistemology) giá trị luận (axiology) được giải trình với một hệ thống luận lý (logic) đặc thù.
Chạm đến Lun lý học (logic) là chạm đến Toán học hay một phần lõi của Toán học. Có thể hình dung Lun lý học như một tp cầu 2 mố cầu. Hình dung ‘tháp’ bởi tự thân Luận lý học hiện đã đang hiện diện như một mảng học thuật đặc thù, mảng nghệ thuật của tranh biện; hình dung ‘cầu’ bởi nó lập cước trên hai mố, đó là Triết học và Toán học. Với Triết học, Lun lý học có quan hệ nội tại với biện chứng pháp (dialectics) luận nhận thức. Theo Hegel, Luận lý học lấy các phép biện chứng luận nhận thức làm chất liệu. Còn theo Marx Engels, chúng đồng nhất về nội dung. Phương cách trình bày các quan điểm về thế giới con người của Phật giáo đầy phép biện chứng luận lý. Các phép biện chứng luậnnày theo thời gian phát triển đã được tổng hợp nâng cao hơn với Nagajunar (Long Thọ - thế kỷ 2 TL.), và với Dinaga (Trn Na - thế kỷ 5-6 TL.) Dharmakirti (Pháp Xứng - thế kỷ 7 TL.). Với Toán học, đó chính là Lun lý Toán học, tức áp dụng các nghệ thut hay kỹ thut Toán học để trình bày và pn tích vn đề một cách luận lý. Các triết gia Hy Lạp cổ đại như Pythagoras, Euclid, Plato Aristotle được biết những nhà tiên phong sử dụng các ý tưởng và phương pp Toán học để trình bày các lp lun triết học
 

của mình. Hẳn rằng, Luận lý triết học hoàn toàn thể làm việc với phương thứctả hình thức của ngôn ngữ tự nhiên, bởi ngôn ngữ tư duy mối quan hệ hữu cơ. Tuy nhiên, vào khoảng những thập niên 1950, 1960, khi Luậntoán học trở nên như một cao trào, thì Luận lý triết học với ngôn ngữ tự nhiên dần bị thay thế các luận lý được phô trình với những phương thức hiệu toán học dần được ưa chuộng, đặc biệt trong giới trí thức.
Dưới những phương thức hiệu toán học, các luận lý triết học hiện ra một vẻ đẹp diệu kỳ, nếu vẻ đẹp được hiểu như sự đơn giản tổng quát. Hãy chiêm ngưỡng lại vẻ đẹp của biểu thức về thuyết Tương đối hẹp nổi tiếng của Einstein: E = mc2, một biểu thức cực kỳ đơn giản nhưng khái quát hóa toàn bộ những hàm ẩn hiện hữu của trụ. Bởi thế, điều thể nhận thấy một xu hướng thời thượng hôm nay, triết học Phật giáo được trình bàytầm cao rt thường thy dưới dng toán học, toán học lun lý. Triết học Thế Thân của GS.TS. Mạnh Thát hay những công trình Phật học của GS.TS. Hồng Dương - Nguyễn Văn Hai những đơn cử cho việc áp dụng Toán học trong trình bày các lun thuyết triết học Pht học. Sinh viên Pht học, do vy, nếu kng có kiến thức vToán học và toán luận lý, sẽ gặp khó khăn thậm chí hoàn toàn không thể hiểu được những trình bày hiện đại cao cấp về triết học Phật giáo (chẳng hạn những công trình của hai tác giả Phật học này), tất nhiên, không thể thưởng thức được vẻ đẹp triết học Phật giáo ngang qua những biểu thc Toán học lung linh ca sti giản mà tng quát.
  1. Bình diện khoa học
Nhìn từ góc độ xuất phát điểm, Phật giáo nhất định không phải khoa học nhưng tinh thần cũng như phương cách trình bày triết lý Phật giáo không nghi ngờ lại hàm đầy chất liệu khoa học (scientific/ science), nếu hiểu thuật từ này theo ý nghĩa rộng rãi để chỉ cho một cái đó luậnchặt chẽ, hệ thống, biện chứng thực nghiệm. Bởi thế, nhiều học giả đương đại đồng ý rằng, khoa học càng phát triển triết lý Phật giáo càng rực sáng, không nhiều học giả đồng thuận với ý kiến quy đồng Phật giáo khoa học.
 

Mối quan hệ giữa Phật giáo khoa học ở góc độ này hay khía cạnh kia thể đang vấn đề của tranh luận. Thế nhưng, Phật học dứt khoát một ngành khoa học, một ngành học thuật nghiên cứu về Phật giáo về hiện tượng Phật giáo. Xu hướng chungcác trường Đại học trên thế giới, Phật học đã đang được đối xử như một phân ngành thuộc khoa hội - Nhân văn. Ngay cách dùng từ Buddhist Studies - Nghiên cứu hay Học thuật về Phật giáo - đang được phổ biến hiện nay trong Anh ngữ thay cho từ “Buddhology” - Luận thuyết Phật giáo - được dùng trước đây phần nào đã nói lên ý nghĩa khoa học của Phật học.
Cũng vy, chạm đến khoa học là chạm đến Toán học. Bởi l, tự tn Toán học đã xác lp chính nó là một ngành khoa học, đồng thời các ngành khoa học khác, bao gồm cả khoa học tự nhiên, khoa học hội, khoa học hình thức và khoa học ứng dụng, đều sử dụng công cụ toán học để thực hiện việc thu thập dữ liệu, khảo sát, nghiên cứu, lý giải, phân tích biểu đạt. Các trắc lượng trụ thiên văn hay những công nghệ thông tin (IT), trí tuệ nhân tạo (AI) hôm nay là dựa trên nhng tnh tựu của ứng dụng Toán học. Các khoa học tự nhiên như Sinh học, Địa chất, Vậthay Hóa học đều sử dụng các thuật toán, bao gồm cả toán cấp lẫn toán cao cấp, không chỉ để thống biểu đạt còn nhằm lý giải phát hiện. Bởi, như thực tế lịch sử khoa học cho thấy, có nhiều và nhiều phát hiện khoa học không xuất phát từ thực nghiệm từ những suy nghiệm toán học thuần túy.
Các ngành khoa học hội - nhân văn, mặc dầu đa phần đều ứng dụng thuật toán Xác suất - Thống trong thu thập dữ liệu, phân tích các yếu tố (FA - factor analysis), các mối tương quan (R
- relation) cho những nghiên cứu định tính (qualitaty research) định lượng (quantitaty research), kể cả loại hình nghiên cứu mô tả (descriptive research), một phổ biến hiện nay trong giới nghiên cứu Phật học ở nước ta. Tuy vậy, những thuật toán cấp cao cấp đôi khi cũng được sử dụng để phô trình lý giải, bởi rất nhiều khi những phát hiện mới đã đến từ những ứng dụng các thuật toán
 

thun túy và trừu tượng này. Trong chiu kích ý nghĩa Pht học như một ngành khoa học hội - nhân văn, các sinh viên Phật học sẽ rất thit thòi và hạn chế nếu kng có nn tảng Toán học vng chc.
  1. TOÁN HỌC NÀO CẦN CHO NGÀNH KHOA HỌC PHẬT HỌC?
Hơn 2.500 năm hiện diện như một đỉnh cao của trí tuệ loài người (nếu tính từ thời Toán học Hy Lp cđi), Toán học đã không ngừng được phát triển phát hiện cả trong suy nghiệm trừu tượng lẫn trong thực tiễn ứng dụng. Điều này ngầm ý rằng nhiều ngành và thể loại Toán học đã được ra đời, chẳng hạn: ngành học vlượng (số học), về cấu trúc (đại số), không gian (hình học), sự biến đổi (giải tích), logic, lý thuyết tập hợp,thuyết bất định, toán học ứng dụng mô hình, xác suất thống kê... Nhưng, trên bình diện đi tượng nghiên cứu, Toán học thun túy thường được pn tnh 2 loi: Toán học sơ cp với đi tượng bt biến và Toán học cao cp với đi tượng khbiến; trên bình din mục đích nghiên cứu, Toán học được pn tnh Toán học thun túy (# Toán học vtoán học), và Toán học ứng dụng (# Toán học vị nn sinh).
Xét trên bình din giáo dục, Toán học thun túy hỗ trợ cho phát trin tư duy, trí tuệ và sáng to, còn Toán học ứng dụng phục vụ như công cụ cho khảo sát, hệ thống, lý giải phân tích những thực tiễn nghiên cứu. Trong ý nghĩa này, Toán học thun túy ln ứng dụng đều cần thiết cho mọi ngành khoa học học thuật. Nếu thế, hẳn ôm đồm quá đối với sinh viên đại học, nhất với những sinh viên kng phải ngành Toán và khoa học tự nhiên. Vì thời gian và tính hiệu quả của mỗi chương trình đại học đều phạm vi giới hạn của nó, nên các chương trình đại học ngành khoa học hội - nhân văn đa phần, như được tìm hiểu, đều chỉ dừng lại với giáo dục về Toán học thống kê xã hội. Điu này đã làm hạn chế đi rt nhiu khnăng tư duy sáng tạo của các sinh viên thuộc khối ngành này.
Từ suy nghĩ trên, đối với sinh viên ngành Phật học, một phân ngành khoa học xã hi - nn văn, kng chỉ cn được trang bToán học luận lý, công cụ toán học thống còn cần phải được bổ sung nhng phần Toán học cao cp đại cương (đây, xem như kiến
 

thức Toán học sơ cp đã được đúc nn ở cp học Phổ thông ri). Nói cách khác, chương trình giáo dục Phật học ở cấp Học viện Phật giáo Vit Nam cn được trang bị ít nht 3 loại kiến thức Toán học: Toán học Cao cp đại cương, Toán học lun lý và Toán học Xác sut
- Thống kê. Trong đó, Toán học Cao cp hướng tới làm ng cao khả năng tư duy trừu tượng sáng tạo, làm nhạy bén thêm cho tư duy; Toán học lun lý cung cp một khng hệ thống, lp lun và đi xa hơn trong suy tầm triết học Pht giáo đương đi; và Toán học thống giúp thêm công cụ để nghiên cứu Phật học hàm lượng khoa học tốt hơn thuyết phục hơn.
  1. LỜI KẾT
Một khi xác định Phật học một chuyên ngành học thuật khoa học thuộc hội nhân văn, một khi xác định các Học viện Phật giáo Việt Nam những trung tâm giáo dục cấp đại học, thì không thể khác hơn, cn phải bổ sung các học phần Toán học vào trong chương trình giáo dục của chúng, chí ít ở cấp đại học (cử nhân) sau đó, thể phần nào được nâng cao hơn ở các cấp học cao hơn, Thạc TiếnPhật học. Nhờ đó, người viết tin tưởng, các sinh viên của các Học viện Phật giáo, những nhà Phật học tương lai thể đi xa hơn trong tiếp cận triết học Phật giáo đương đại, thưởng thức được những vẻ đẹp triết học Phật giáo dưới những trình bày đương đại sáng tạo nên nhữngthức đẹp mới cũng như những công trình nghiên cứu mới về Phật học ở tương lai.




***




Tài liệu tham khảo
Hng Dương - Nguyn Văn Hai (2000), Tìm hiu Trung Lun - Nhận thức Không tánh”, Nguyệt san Phật học, Hoa Kỳ.
Lê Mnh Thát (2003), Triết hc Thế Thân, Nxb. Tng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh.
Khung chương trình đào tạo Cử nhân Phật học, Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Nội, tại Thành phố Hồ Chí Minh, tại Huế.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây