27. THIỀN VÀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM THỜI HỘI NHẬP

Thứ sáu - 06/12/2019 08:15
THIỀN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM THỜI HỘI NHẬP
TS.TT. Thích Tâm Đức

 
Sự khủng hoảng môi sinh kinh tế toàn cầu hay chiến tranh thương mại hiện nay một sự phá sản tất yếu của chủ nghĩa thực dụng (Pragmatism) hay hưởng thụ quá mức (over-consumerism), những biểu hiện của lòng tham đầy vị kỷ. Đây một hồi chuông cảnh tỉnh cho những ai còn hoặc đang bị mê hoặc hay choáng ngợp trước sgiàu sang một cách vô tình, sn sàng vong tn, tự đánh mất mình hay đánh mất truyền thống văn hóa của dân tộc. Một sự cứu nguy hay giải pháp khả thi cấp tốc cho toàn hội đó Thiền sự ứng dụng của nó, đặc biệt ứng dụng vào lĩnh vực giáo dục đại học Việt Nam bao gồm Học viện Phật giáo Việt Nam thời kỳ hội nhập thế giới.
  1. THIỀN
Thiền xuất phát từ Ấn Độ cổ đại, được xem một phương pháp giáo dục con người toàn diện, hướng con người đến chânthiện
mỹ, rèn luyện con người phát triển thể lực trí lực một cách hài hòa tốt đẹp. Theo dòng lịch sử, Thiền đã du nhập vào nhiều vùng




*. Ủy viên thường trực HĐTS GHPGVN, Phó Viện trưởng thường trực Viên nghiên cứu Phật học Việt Nam, Phó Viện trưởng, HVPGVN tại TP.HCM.
 

lãnh thổ khác nhau trên thế giới ở mỗi địa phương ấy, Thiền đã bám rễ phong cách văn hoá riêng của mình.
Thiền ở Ấn Độ nét siêu nhiên. Một thiền giả thuần thục thể những thần thông như “một thân biến thành nhiều thân; tàng hình đi xuyên qua tường, độn thổ xuống đất; đi trên mặt nước; ngồi kiết già bay trên không giống như chim; thể sờmặt trăng, mt tri1
Người Trung Quốc thường được xem có tính thực tế, kng thích đắm mình vào những vấn đề thần bí của tôn giáo, chẳng hạn, thế nào bản chất của trụ, sự tái sinh, v.v… Lần đầu tiên khi đối mt với sxâm nhập của Pht giáo n Đ, người Trung Quốc bquyến nhưng rồi dần dần họ đã tự khẳng định mình. Họ bắt đầu tìm kiếm một số đặc điểm nào đó trong đạo Phật họ thể hiểu thực hành, không lâu sau họ đã tìm thấy Thiền như một tinh hoa của Phật giáo. Kết quả, Thiền tông ra đời phát triển, đặc biệt dưới sự hướng dẫn của Huệ Năng, một Thiền giả ít chữ nhưng ni tiếng vào thời k vàng son của triu đại nhà Đường, Trung Hoa (A.D. 625-755). Trong suốt hơn một trăm ba mươi m này Thin cùng với các lĩnh vực khác ở Trung Hoa như văn hóa, tôn giáo, nghệ thut, văn chương đã tự do khởi sc và phát trin. Thin tông Trung Hoa này không thiên vềluận như các tông phái Phật giáo khácđây như Thiên Thai, Hoa Nghiêm Duy Thức; do vậy,đã đápng được khuynh hướng thực tin của người Trung Hoa. Và, Huệ Năng chủ trương Phật quốc chính tại thế gian này:
“Phật quốc thế gian này trong đó sự giác ngộ được tìm cầu. Tìm cầu giác ngộ bằng sự tách rời ra khỏi thế gian này thì hão huyn giống như tìm sng th.2
Nhật Bản, Thiền hay Zen đã trở thành một phần của kho từ vựng thế tục như “Zen của X” hay “Zen nghệ thuật của X” hay nói một cách khác, ý niệm Thiền đã thâm nhập vào văn hoá



    1. Pali Text Society, Majjhima Nikaya, London, 1979, tr. 97-98.
    2. Nanjio, the Sutra of Hui-neng, dịch giả: A F. Price Wong. M. Lam, Boston, 1969, tr. 34.
 

dân gian. Trong bi cnh này, Thin luôn ám chỉ một ý nghĩa tự do, thanh thoát, hợp nhất với thế giới điều đó thể được cảm nhận không chỉ trong những hình thức kỹ thuật cao của hành thiền còn trong bắn cung, làm vườn, nghi thức uống trà, ngay trong cả những việc thế gian như bảo trì xe máy…Việt Nam, ta nghe nói về trà đạo, kiếm đạo, cung đạo, nhu đạo… Đạođây nghĩa Thiền cũng nghĩa nghệ thuật. Những sử gia thường cho rằng sự hiểu biết đặc biệt về Thiền phát xuất từ một phong trào cải cách của Phật giáo xảy ranước Nhật vào thời kỳ Minh Trị (1868-1912) và hu Minh Tr. Trong giai đon này, Pht giáo bị xem ngoại lai, đồi bại mê tín. Nhưng tín đồ của Thiền đã phản ứng lại bằng một chủ trương tân Phật giáo hoàn toàn hiện đại, không giáo phái dấn thân vào hội. Một thiền tiêu biểu của giai đoạn này D. T. Suzuki (1870-1966) – người công truyền Zen đến các nước phương Tây – cho rằng, trải nghiệm Zen sự siêu việt nhị nguyên tri thức, do vậy ưu việt đối với tất cả những trải nghiệm của tôn giáo.3
Khi đến Việt Nam thì Thiền đã có những sắc thái riêng - một sự đồng hành góp phần tạo nên sức mạnh văn hoá của dân tộc:
  1. Sức mạnh văn hóa của dân tộc Việt Nam
Nhiều lần trong lịch sử của nhân loại, những sự việc đã xảy ra chỉ thể đặt trong phạm trù những hiện tượng kỳ diệu. Những hiện tượng như vậy đã làm ngạc nhiên cả những nhà sử học lẫn khoa học. Lịch sử đấu tranh giải phóng của người Việt Nam khỏi những đế quốc hùng mạnh như Trung Quốc, Mông C, Pháp, Mỹ thuộc loại phạm trù những hiện tượng kỳ diệu như vậy. Điều này thể chỉ ra rằng, đứng về phương diện vật chất thì Việt Nam khó đối thủ của những đế quốc đó. Do vậy, người ta phải tìm một lối giải thích khác; đó là, sức mạnh văn hoá của dân tộc Việt Nam.



    1. Encyclopedia of Buddhism, Robert E. Buswell et al., Vol. 2, Macmillan Reference USA, 2004, tr. 924.
 
 
  1. Thiền Phật giáo Việt Nam một thực thể văn hoá bao gồm chính trị hộitriết học – tín ngưỡng của dân tộc Việt Nam hay sự nhập thế của đạo PhậtViệt Nam
Đạo Phật đã đến Việt Nam vào khoảng một, hai thế kỷ trước Công nguyên trong bối cảnh dân tộc này đang không ngừng đấu tranh nhằm giải phóng ách đô hộ phương Bắc (111 trước công nguyên – 938). Ban đầu, đạo Phật được người Việt chấp nhận như vị cứu tinh, họ mong ước một vị Phật quyền năng để cứu vớt những linh hồn dân tộc của họ. Nhưng tất cả đã trở thành ích. Dần dần, người Việt nhận ra rằng chỉ sức mạnh của chính mình mới thể cứu mình. Đây lý do tại sao Thiền đã trở thành vai trò mang tính quyết định sau đó. Không nghi ngờ nữa khi ngôi chùa Phật giáo đầu tiên “Khai Quốc / Trấn Quốc” đã được xây dựng vào thời gian của cuộc kháng chiến thành công ngắn ngủi (545 – 603) do Bân lãnh đạo.
đã sự chuyển hướng từ bí ẩn sang chính trịđạo Phật Việt Nam, từ Tì Ni Đa Lưu Chi đến Trúc Lâm (một thin phái Vit Nam được tnh lp bởi vua Trn Nn Tông (1258 – 1380)), và cho đến thời hin đi. Trong thập niên 1960, trước sđàn áp và pn biệt của chính quyền Công giáo Nam Việt Nam, nhiều phong trào Phật giáo đã nổi lên đấu tranh cho sự bình đẳng giữa các tôn giáo. Vào ngày 11/06/1963, nhà Thích Quảng Đức tự thiêu đã làm xúc động lòng người trong nước khắp thế giới, dẫn đến sự sụp đổ của chế độ độc tài Ngô Đình Diệm vào năm 1963, sau đó cũng đã góp phần vào sự thống nhất đất nước vào năm 1975.
Làm thế nào để quốc gia được bền vững? Câu hỏi trọng đại này đã được vua Đại Hành (980 – 1005) nêu lên không lâu sau khi Việt Nam khôi phục lại chủ quyền sau một nghìn năm dưới ách đô hộ của phương Bắc, đã được Thiền Pháp Thuận trả lời như sau:
“Quốc tộ như đằng lạc Nam thiênthái bình viđiện các
 

Xứ xứ tức đao binh” (Tm dịch)
“Ngôi nước như mây quấn Trời Nam mở thái bình Đạo đức ở cung điện Chốn chốn hết đao binh.4
Theo Pháp Thuận, chính lối sống đạo đức của chính quyền nguyên nhân chính yếu cho sự thống nhất các tầng lớp quần chúng sự vững bền của dân tộc.
Trên phương diện chính trị, quần chúng đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Những vị vua Phật giáo đời nhà Trần đã coi trọng ý dân, lòng dân, bạn của dân, thương sức lao động của dân trong khi thực hiện những hoạt động chính trị như dời đô, lên ngôi, thay đổi triều đại, tuyên chiến. Tuy nhiên, để thu phục nhân tâm, vua phải sống đạo đức. Để làm tỏ đạo đức của vua, Quốc Viên Thông (1080 – 1151) đã giải thích như sau:
“Dân như một đồ vật,sẽ yên khi được đặt ở chỗ yên sẽ nguy hại khi được đặt ở nơi nguy hiểm. Điều quan trọng tính cách của vua. Nếu đạo đức của vua phù hợp với lòng dân thì dân sẽ kính yêu vua như cha mẹ, sẽ ngưỡng nhìn xem vua như mặt trăng mặt trời. Điều đó nghĩa là đt dân vào nơi chỗ yên vy.5
sống đạo đức nên các vua Trần đã tập hợp được quần chúng chiến thắng quân xâm lược.
Khuynh hướng chính trị biểu hiện sự gắnrất gần gũi giữa Phật giáo và dân tộc Việt Nam. Nhưng không phải chỉ trên phương diện chính trị.




    1. Ủy ban Khoa học hội Việt Nam - Viện Văn học, Thơ văn Trần, I, Nội, 1977, tr. 204.
    2. Thiền uyển tập anh, Ngô Đức Thọ Nguyễn Th Nga dịch, Nội, 1993, tr. 241.
 

Phật giáo Việt Nam cũng đã mang lại sự thịnh vượng hòa bình cho đất nước. Một học giả Việt Nam cận đại đã nhận xét rằng: Triu Lý có thể được gi là triu đại từ bi nht trong lịch sử của dân tộc ta. Chính do nh hưởng của đo Pht. Một học gikhác bình luận về kinh tế ở triều đại nhà Trần (1225 – 1400) như sau:
“Không một giai đoạn nào trong lịch sử trung đại Việt Nam kinh tế công thương nghiệp thành thị lại phát triển như vậy, lại được nhà nước phong kiến tạo điều kiện mở mang như vậy. Thương nhân được tự do kinh doanh, tầng lớp đại thương trở thành tầng lớp tiến bộ nhất trong hi ở các thế kXIII – XIV.6
Đối với tôn giáo, Phật giáo Việt Nam tôn trọng sự bình đẳng giữa các tôn giáo. Vua Trn Thái Tông (1218 – 1277), một thin sư Phật giáo, đánh giá cao ba tôn giáoKhổng giáo, Lão giáo Phật giáo.7 Thiền nói:
“Mặc dầu cuộc đời quý, nhưngkhông quý như Đạo. Do vậy, Khổng Tử nói: Thật thỏa mãn cho ta khi được nghe Đo vào bui sáng cho du phải chết vào bui chiu.Lão Tử nói:Ta đã có một ni lo lớn. Chính vì ta đã có cái thân này.’ Đức Phật cầu Đạo đã tự hy sinh để cứu độ chúng sinh đang đau khổ. Ba vị thánh này đã xem thường thân mạng mình để coi trọng đạo, phải vậy không?”8
Trn Nn Tông, nhà vua và cũng là Tsư Thin phái Trúc Lâm, với chủ trương trần lạc đạo, đưa tinh thần lạc quan của đạo Phật vào trong đời sống thế tục. Chính ông người lãnh đạo hai cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông (1385 1387) thành công, đánh dấu một giai đoạn lịch sử hoàng kim của dân tộc.



    1. Ủy ban Khoa học hội Việt Nam - Viện Sử học, Tìm hiểuhội Việt Nam thời Trần, Nội, 1981, tr. 296.
    2. Như lịch sử cho thấy, ngay từ những thế kỷ đầu công nguyên, Phật giáo đã tồn tạiViệt Nam cùng với Khổng giáo Lão giáo dưới ách đô hộ phương Bắc (11B.C.A.D. 938).
    3. Ủy ban Khoa học hội Việt Nam - Viện Văn học, Thơ văn Trần, I, Nội, 1977,
tr. 9.
 

Năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu, một Phật tử cũng người đã hoàn tất cuộc Nam tiến, mở rộng đất nước đến mũi Mau, chủ trương Nho mộ Thích, kết hợp Nho Phật, sử dụng cách điều hành kiểu Nho giáo nhưng với cái tâm Phật giáo. Sáu Thiền phái của giai đoạn này vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay, đó là: Tào Động, Trúc Lâm, Quốc Ân, Thp Tháp, Chúc Thánh và Liu Quán.
Dẫu Thiền các nước những đặc điểm khác nhau nhưng chúng vẫn những điểm chung căn bản.
sở luận của Thiền là: Sự tập trung tư tưởng. Bộ óc con người khi tập trung vào một đối tượng thì tạo ra một sức mạnh nội tâm như một ngọn đèn pha chiếu sáng, khiến thấy mọi sự vật; trong khi đó nó làm ức chế và khiến những phần còn lại của vỏ não được nghỉ ngơi, thanh thản. Tâm trí, nếu không được huấn luyện đúng cách, thường tán loạn, vọng tưởng, chạy theo những dục vọng gây ra những hậu quả đáng tiếc về mặt đạo đức, luật pháp… Phương pháp thực hành Thiền nhiều cách, nhưng một cách đơn giản hiệu nghiệm, đó là: Quán tưởng hơi thở. Vị ấy ngồi yên lặng, lưng thẳng, mắt khép lại để ý hơi thở ra. Hơi thở này đang đi vào, vị ấy biết như vậy; hơi thở này đang đi ra, vị ấy biết rõ như vy. Trong khi đang theo dõi hơi thở như vy, nếu có nhng hình ảnh, ý niệm, suy nghĩ, lo lắngchúng đẹp hay xấu, vui hay buồn thì vị ấy đừng để ý hay bận tâm, phê phán. Sau một thời gian lâu hay mau tuỳ theo sự nỗ lực của từng người sẽ hiệu quả sớm hay muộn. Thước đo kết quả của sự luyện tâm vị ấy cảm thấy sức khoẻ thân tâm của mình ngày càng được tốt hơn: ngủ ngon giấc không chiêm bao mộng mị, bớt lo lắng phiền não, vui vẻ, tập trung vào công việc đang làm một cách tự nhiên. Một sự luyện tâm như vậy sẽ dần tạo ra một phản xạ điều kiện mới thay thế cho những thói quen xấu cũ. Thiền không chỉ ngồi còn được ứng dụng trong mọi hành vi cử chỉ như đi, đứng, nằm, ngồi, mặc áo, quét rác, bửa củi… Một thiền giả luôn chánh niệm - tỉnh giác với mọi biểu hiện của ý, lời nói hành động của mình.
Người chứng nghiệm thiền định khả năng trực giác, siêu việt
 

luận. luận loại tư duy còn mang tính đối đãi hay mâu thuẫn nội tại với những cặp phạm trù đúng – sai, thiệnác, đẹp – xấu… Nhưng trực giác siêu việt những cặp phạm trù này, giúp hành giả tính tự chủ, sáng tạo tiếp thu cái mới một cách chọn lọc.
  1. GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM THỜI HỘI NHẬP
    1. Các mẫu giáo dục Đại học hiện đại
Immanuel Kant (1724-1804), cha đẻ thực thụ của trường Đại học hiện đại, đã kết hợp triết học duy lý (rationalism) của Descartes với triết học duy nghiệm (empiricism) của Bacon mở đầu cho thời kỳ Khai sáng. Vị này chủ trương Đại học hiện đại phải một tư tưởng chủ đạo, tạo thành nền tảng cho mọi hoạt động của nó, bao gồm mục đích, triết lý, phương pháp, cũng như quan hệ giữa các khoa quan hệ của trường với nhà nước. tưởng chủ đạo ấy tính. Đối với Kant, cũng như đối với các nhàtưởng của thời đại Khai sáng, lý tính haytrí một năng lực phổ quát khả năng giúp con người khám phá thế giới hành động đúng đắn, hợp với quy luật tự nhiên.
Nhưng với Wilhelm von Humboldt (1767-1835) thì chủ trương Đihcvănhóa. Với Humboldt, cũng như nhiều nhàtưởng đương thời như Schiller, Schleiermacher, hay Fichte, văn hóa sự kết hợp hai mặt: những kiến thức khác nhau được nghiên cứu đồng thời sự phát triển nhân cách thông qua quá trình nghiên cứu đó. Các kiến thức được nghiên cứu dựa trêntrí được lý trí liên kết thành một hệ thống thống nhất, nhưng quan trọng hơn kết tinh trong truyền thống. Đồng thời, sự phát triển của nhân cách chính sự trưởng thành của cá nhân thông qua việc hấp thụ những thuộctrí trong truyền thống đó. Ta thể thấy rằng văn hoá gắn liền với truyền thống, nhưng đồng thời cũng vai trò dẫn dắt con người tới tương lai. thể nói rằng văn hoá cái liên kết quá khứ, hiện tại tương lai của một cộng đồng. Như thế, văn hoá chính nền tảng tạo nên bản sắc: con người văn hóa đây gắn liền với truyền thống của cộng đồng, cụ thể truyền thống dân tộc. Nói cách khác, đại học chính nơi tạo nên chủ thể văn hóa của một quốc gia. Humboldt tin
 

rằng nếu được giáo dục con người sẽ trở thành những chủ thể tự do, khả năng suy nghĩ độc lập để hành động lợi ích dân tộc - điều cực kỳ quan trọng đối với các nhà nước - dân tộc đang hình thành lớn mạnhchâu Âu thời bấy giờ.
Văn hc ni lên thay cho Triết học trong trường Đại học duy lý của Kant. do dễ nhận thấy triết học xu hướng hướng tới tính phổ quát, trong khi văn học gắn liền với ngôn ngữ và ức của một cộng đồng cụ thể. Một lý do khác triết học chỉ dành riêng cho một tầng lớp tinh hoa, trong khi ấy văn học thể được chia sẻ bởi đa số thành viên của cộng đồng. Do vậy, giảng dạy văn học dân tộc trở thành bộ môn quan trọng bậc nhất trong trường Đại học hiện đại.
phương Tây, hiện nay các trường Đại học Văn hóa theo hình mẫu của Humboldt đang biến mất để nhường chỗ cho các trường Đại học Doanh nghiệp tưởng chủ đạo doanh thu chứ không phải trí hay văn hoá. Nét chủ đạo trong sự thay đổi này là sự lên ngôi của xã hi tiêu th. Trong nn kinh tế hin đi, nht là với nn kinh tế các quốc gia phát trin nht hin nay như M, Trung Quốc, Nhật Bản Tây Âu, đầu tàu phát triển sức tiêu thụ, nói cho cùng ham muốn tiêu thụ hay hưởng thụ quá mức (over-con- sumerism) nguyên nhân dẫn đến lừa đảo, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, phá hoại môi trường, hố cách giàu nghèochứ không phải năng lực sản xuất. thể nói rằng nhu cầu tất cả. nhu cầu, sẽ sản xuất để cung cấp sẽ lưu thông phân phối. Chính thế, những nhu cầu tiêu thụ mới cần phải không ngừng được tạo ra thông qua quảng cáo, ý thức hệ, văn hoá đại chúng số con đường khác. Cùng với việc chú trọng đến thương hiệu, rất nhiều hoạt động của trường đại học hiện đại ngày càng mang tính thương mại. thể thấy điều đó qua việc kinh doanh các sản phẩm hàng hoá gắn nhãn hiệu logo của trường. Các hoạt động gây quỹ đặc biệt được chú trọng, nhất thông qua các tổ chức Cựu sinh viên.
Một trong những tác động lớn nhất của sự thương mại hóa giáo dục đại học sự thay đổi vai trò của đội ngũ người thầy. Nếu
 

như trong trường đại học Duy lý của Kant đại học Văn hóa của Humboldt, người thầy đóng vai trò trung tâm thì trong trường đại học Doanh nghiệp hiện nay, vai trò ấy thuộc về những người quản lý. Trên thực tế, người thầy chỉ còn người làm thuê, một thứ công nhân trí thức, những người thực hiện các bài giảng theo đơn đặt hàng của các công ty. Cùng với sự suy giảm vai trò của người thầy, sự tăng cường quyền lực của sinh viên. Một tác động khác của sự thương mại hóa giáo dục đại học sự suy giảm vị thế của các môn Khoa học hội.
Ngoài ra, nếu trước kia mục tiêu của giáo dục đại học tập trung trang bị kiến thức hàn lâm cho sinh viên thì ngày nay, bên cạnh mục tiêu về kiến thức đạo đức nghề nghiệp, những trường danh tiếng còn đề ra nhiều mục tiêu thiết thực không kém phần quan trọng khác về các mặt: kỹ năng thực hành, khả năng tự học suốt đời, óc phê phán sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, ý thức lập nghiệp, kỹ năng giao tiếp, làm việc tập thể, phát triển bền vững ý thức về môi trường, kiến thức hội, đạo đức thẩm mỹ tất nhiên cả ngoại ngữ.
    1. Thách thức của Giáo dục Đại học Việt Nam thời hội nhập
Trong thời kỳ hi nhập thế giới hin nay, nn kinh tế và xã hi Việt Nam đang đứng trước những thử thách đầy cam go. Nguyên nhân bản do trình độ quảnyếu kém sự thiếu thốn nghiêm trọng nguồn nhân lực trình độ ở nhiều lĩnh vực của đất nước. So sánh với các nước trong khu vực, một điều ràng chúng ta đã kng có sự chun btốt về nn lực cho sphát trin. Tch nhim đó, một phần rất lớn thuộc về giáo dục đại học, mũi nhọn xung kích. Đặc biệt sự xuống cấp về chuẩn mực đào tạo nhân cách sống. Xu thế “xã hội hóa” giáo dục, mở rộng số lượng đầu vào để tăng lợi nhuận, đang xu thế chủ đạo.
Trong thực tế, nn giáo dục của chúng ta kng nhằm đào to ra những con người được phát triển toàn diện với đầy đủ phẩm giá: nhân cách, đạo đức khả năng tư duy phê phán độc lập, sáng tạo. Nền giáo dục này đang thực hành kiểu nhồi nhét kiến thức như “chất vào kho”; và khuyến khích sự thụ động, khuôn sáonặng về
 

thi cử. Điều này trái hẳn với triết lý Giáo dục nhân văn sáng tạo của nền văn minh hiện đại hay của triết lý Phật giáo.
thế, giáo dục Đại học Việt Nam ta hiện nay phải khẩn thiết đặt lại câu hỏi: Mục tiêu tối hậu của giáo dục gì? để đạt mục tiêu ấy cần phải hành động theo phương châm nào? bằng phương pháp nào?
Lấy kinh nghiệm ở thời đại của Dewey (1859 – 1952), cứu cánh của giáo dục hoàn thiện con người phục vụ xã hội. Nhưng màu sắc thực dụng vị kỷ (pragmatism) đã bắt đầu lan dần vào giáo dục. Đến nỗi Einstein, người cùng thời với Dewey, đã phải cảnh báo:
“Dạy cho con người một chuyên ngành thì chưa đủ. Bởi bằng cách đó, anh ta tuy thể trở thành một cái máy khả dụng nhưng không thể trở thành một con người với đầy đủ phẩm giá. Điều quan trọng anh ta phải được dạy để được một cảm thức sống động về cái đáng để phấn đấu trong cuộc đời. Anh ta phải được dạy để được một ý thức sống động về cái đẹp cái thiện. Nếu không, với kiến thức được chuyên môn hóa của mình, anh ta chỉ giống như một con chó được huấn luyện tốt hơn một con người được phát triển hài hòa. Anh ta cần phải học để hiểu những động của con người, hiểu những ảo tưởng những nỗi thống khổ của họ để tìm được một thái độ ứng xử đúng đắn với từng con người đồng loại của mình cũng như với cng đồng.9
Lời cảnh báo trên quả thật tiếng chuông cảnh tỉnh cho tất cả những người làm công tác giáo dục. Vấn đề trước tiên của giáo dục đại học Việt Nam phải thay đổi triết lý đào tạo sao cho không những phù hợp với yêu cầu của thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa, công nghiệp 4.0 còn phải phù hợp với mục đích tối hậu của cuộc sống hạnh phúc không còn những nỗi thống khổ từ những ảo tưởng dục vọng. Vai trò của người thầy lúc này không phải chỉ



9. A. Einstein, Thế giới như tôi thấy, NXB. Tri thức, 2007, tr. 48.


“tháp ngà” tri thức, quan trọng hơn, người thầy phải người truyền cảm hứng đạo đức dân tộc, người đem lại cho sinh viên một sự hứng khởi trong học tập chuyên môn, ngược lại, sinh viên phải động đúng đắn của học tập không phải chỉ kinh tế, tri thức khoa học còn phải một nhân cách toàn diện, không vong thân, vong bản, đánh mất truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc.
Văn minh phương Tây những điều hay để chúng ta học tập nhưng không phải tất cả. Sự suy sụp kinh tế toàn cầu hay chiến tranh thương mại hiện nay điển hình. Chúng ta phải thấy nhiều điều phương Tây đã đang hướng về phương Đông để học tập Thiền một trong những số ấy. Do vậy, giáo dục Việt Nam ta trong thời kỳ hội nhập này phải một phương châm hòa không tan, nhập không mất. Với những con người toàn diện, ý thức dân tộc, tinh thần tự do, chủ động, sáng tạo, tinh thần trách nhiệm caodám nghĩ dám làmtất yếu sẽ những đổi thay về phương pháp, chương trình dạy học một cách thích hợp.
Giáo dục đại học còn gặp nhiều thử thách cam go huống nhiều lĩnh vực đời sống khác như kinh tế, hội, đạo đức… chắc chắn đang gặp khó khăn. tất cả vấn nạn trên đều liên hệ đến con người, đến thái độ duy, nhận thức. Nhưng cũng chính từ duy, nhận thức đúng đắn, chắc chắn sẽ những giải pháp thích hợp.
Trước nhng thách thức của giáo dục đại học Vit Nam bao gồm Học viện Phật giáo Việt Nam thời hội nhập hiện tại, Thiềnđã được lịch sử Việt Nam chứng thực chắc chắn sẽ tiếp tục một tấm khiên vững chắc trong việc bảo tồn phát huy truyền thống văn hoá dân tộc với một cảnh giác cao, mất văn hóa mất nước.

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây